Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2021

Nhớ lại kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhớ lại kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng năm đều đến Trung Quốc nghỉ dưỡng. Trong một lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm khu suối nước nóng ở Tòng Hóa, Quảng Châu, phóng viên nhiếp ảnh của "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn đã chụp ảnh chân dung cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, bức ảnh này cũng là bức chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện vẫn treo trang trọng tại các trụ sở cơ quan của Việt Nam. Sau đây là trích bài hồi ký của phóng viên nhiếp ảnh "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn về những kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đó là tấm ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngưng tụ tình hữu nghị chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Trung – Việt, mỗi khi nhìn thấy tấm ảnh này, đều khiến tôi nhớ lại những ngày ở bên Người và chụp ảnh cho Người. Hồ Chủ tịch đồng cam cộng khổ, cùng hoạn nạn với nhân dân Trung Quốc, sát cánh cùng nhân dân Trung Quốc tiến hành hoạt động cách mạng trong thời gian dài. Mấy chục năm qua, Hồ Chủ tịch có tình cảm hết sức thân thiết và tình đồng chí cách mạng với Trung Quốc, Người thường nói "Mối tình hữu nghị Việt – Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em". Người còn nói với Thủ tướng Chu Ân Lai rằng: "Tôi đến Trung Quốc như về nhà mình vậy". Trong những năm cuối đời, nhằm tránh để nhân dân Việt Nam tổ chức mừng sinh nhật cho mình, vào những ngày sát sinh nhật, Người thường đến khu suối nước nóng Tòng Hóa ở Quảng Đông, Trung Quốc nghỉ dưỡng, khu suối nước này núi đồi bao bọc, tùng bách xanh tươi, chim hót hoa thơm, phong cảnh tươi đẹp, từ năm 1963 đến năm 1966, Hồ Chủ tịch từng bốn lần đến đây nghỉ dưỡng. Trong thời gian Hồ Chủ tịch nghỉ dưỡng ở đây, tổ chức cử tôi đi theo, chụp ảnh sinh hoạt cho Người. Một ngày trong tháng 5/1964, Thư ký của Hồ Chủ tịch nói với tôi rằng: "Trung ương Đảng Việt Nam mong chụp một bức chân dung mới cho Hồ Chủ tịch". Khi nhận được nhiệm vụ này, tôi thấy vừa vinh dự, vừa nặng nề, tinh thần trách nhiệm cách mạng khiến tôi hạ quyết tâm, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ vì tình hữu nghị giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Trung – Việt. Tôi tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, học thêm lý luận và kỹ thuật nhiếp ảnh, nâng cao hơn nữa kiến thức và trình độ chụp ảnh chân dung.

Ảnh chụp chân dung, trước tiên phải làm sao toát lên được cái hồn của nhân vật, vừa cần thể hiện đặc điểm ngoại hình, lại phải diễn đạt được cảm xúc nội tâm. Làm nổi bật cá tính, đặc trưng của nhân vật, ảnh chân dung của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại là để cho hàng triệu người dân sắc tộc khác nhau, đến từ các nước khác nhau và có tiếng nói khau chiêm ngưỡng, yêu cầu sẽ cao hơn và nghiêm khắc hơn.

Trong thời gian nghỉ dưỡng ở Trung Quốc, Hồ Chủ tịch sống cùng chúng tôi, hàng ngày tản bộ, leo núi, đôi lúc ra ngoài tham quan, làm việc, tiếp khách, v.v., khi nghỉ ngơi, Người thường kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện đấu tranh cách mạng, Người như ở nhà mình vậy, tính tình còn hết sức khôi hài, đã tổ chức các nhân viên công tác bên Người thành một đoàn hợp xướng nhỏ, đích thân Người làm "trưởng đoàn", bài hát đầu tiên mà Người chọn cho chúng tôi là "Đội ca du kích" của đồng chí Hạ Lục Thinh, Người đảm nhiệm chỉ huy, thường vừa đánh nhịp nhẹ nhàng, vừa tập hát rất nghiêm túc cùng mọi người, đối xử với chúng tôi thân thiết như với con cái mình vậy. Hồ Chủ tịch và các nhân viên công tác đã kết lên tình hữu nghị chân thành thắm thiết, như vậy đã tạo điều kiện có lợi cho tôi thực hiện tốt nhiệm vụ chụp ảnh chân dung cho Người.

Phóng viên nhiếp ảnh Lục Văn Tuấn

Hồ Chủ tịch quan tâm quần chúng, chan hòa gần gũi, luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, giản dị chất phác, nhiệt tình, ngay thẳng, điềm đạm, hiền hậu, nét mặt hồng hào, hòa nhã dễ gần, Hồ Chủ tịch ăn mặc giản dị, áo khoác chính thức của Người là một chiếc áo kaki kiểu Trung Sơn màu vàng nhạt, rất hợp với gam màu sáng. Bởi vì màu sáng có thể thể hiện sự cao cả, thuần khiết và cái đẹp trong tâm hồn nhất, cộng thêm cả cuộc đời Hồ Chủ tịch lặn lội gió sương trong cuộc đấu tranh cách mạng, mái tóc và chòm râu bạc trắng như cước có thể làm nổi bật sự hiền hậu, anh minh và vĩ đại của Người. Tôi biết chụp ảnh màu sáng được quyết định bởi ba nhân tố: Một là, người được chụp phải mặc áo màu nhạt, Người mặc áo kaki kiểu Trung Sơn màu vàng nhạt vừa vặn ăn khớp với yêu cầu này; hai là, sắc tố của môi trường, tức bối cảnh cũng phải là màu đơn sắc, thế là tôi chọn địa điểm chụp ảnh là một góc trong phòng Người dùng cơm, màu sắc của bức tường là màu ngà nhạt, cũng phù hợp yêu cầu; ba là, sử dụng nguồn sáng chính và nguồn sáng phụ, chọn góc chụp thuận sáng. Nguồn sáng hoàn toàn có thể tự do điều chỉnh. Ý tưởng của tôi tương đối khả thi, cũng dễ thực hiện, như vậy đã tăng cường lòng tin của tôi khi chụp ảnh cho Người.

Thời gian chụp ảnh, tôi chọn 5 giờ chiều, đồng thời điều chỉnh tốt góc độ của máy ảnh khi chụp thử, để ống kính máy ảnh ở độ cao ngang với tầm mắt của người được chụp, giữ tỷ lệ tự nhiên của khuôn mặt người được chụp trong giữa bức ảnh, để có được một tấm ảnh tự nhiên và sống động, khi chụp ảnh, tôi không những cần nói chuyện với Hồ Chủ tịch, mà còn mời đồng chí phiên dịch Văn Trang, Thư ký và đồng chí Tiểu Dung, nhân viên phục vụ bên Người cùng phối hợp với tôi nói chuyện với Hồ Chủ tịch. Mặc dù tôi cùng chuyện trò vui vẻ với mọi người, nhưng thực ra tôi vừa bận rộn vừa căng thẳng, hết sức chăm chú theo dõi ánh mắt và hình dáng đôi môi của Hồ Chủ tịch. Trung Quốc có câu tục ngữ rằng: "Đôi mắt toát lên thần thái", sau đó là đôi môi. Khi nét mặt tinh thần và đặc trưng tính cách nội tại của Hồ Chủ tịch biểu lộ một cách rõ nét, tôi liền bấm máy. Để tránh bị chụp hỏng, tôi chụp liền 7 tấm, chỉ mất chưa đến 10 phút. Ngoài một tấm thần thái không được lý tưởng ra, 6 tấm khác đều đạt yêu cầu dự kiến. Hồ Chủ tịch rất hài lòng khi xem các tấm ảnh này. Người rất vui và nói câu cám ơn dí dỏm với tôi bằng tiếng Thượng Hải. Sau đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định lấy tấm ảnh hơi nghiêng người sang trái và tấm chụp chính diện làm tấm chân dung tiêu chuẩn, lưu truyền trên khắp Việt Nam và các nơi trên thế giới. Lúc đó, Hồ Chủ tịch đã ký tên trên hai tấm ảnh, một bức tặng tôi, bức còn lại tặng cho đồng chí Văn Trang.

Về sau, trước khi trở về Việt Nam, Hồ Chủ tịch chép một quyển "Nhật ký trong tù" và thơ của Người tặng tôi, và đề chữ trên cuốn sách rằng "Bác Hồ thân tặng". Ngoài ra còn nhờ tôi gửi quà tặng cho vợ tôi, đó là món đồ thêu thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó có khăn tay thêu dòng chữ "Tình hữu nghị Việt – Trung muôn năm", kim gài áo, v.v., còn có cả bánh kẹo cho con cái tôi, Người suy nghĩ rất chu đáo, tình cảm của Người suốt đời tôi không bao giờ quên.

                                                                                         

       

Tấm ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh này vẫn được sử dụng phổ biến trong các ấn phẩm Việt Nam

Trên đây là trích đoạn bài hồi ký của phóng viên nhiếp ảnh "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn nhớ về kỷ niệm chụp ảnh chân dung cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài viết vừa rồi có nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh có tặng một bức ảnh chân dung cho đồng chí Văn Trang, phiên dịch trong đoàn cố vấn. Ông Văn Trang về sau là giáo sư của trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, cũng nhắc đến kỷ niệm này trong cuốn sách của ông mang tên "Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ký ức sâu thẳm của tôi", rằng: Duyệt xong các tấm ảnh, Hồ Chủ tịch gật đầu bày tỏ hài lòng. Hồi trẻ, Bác Hồ từng làm việc tại một tiệm chụp ảnh ở Pa-ri, tinh thông nhiếp ảnh. Muốn chụp được một tấm ảnh khiến Người hài lòng không hề dễ dàng. Thư ký của Người nói với tôi rằng, ở Hà Nội đâu có cơ hội như vậy để chụp ảnh cho Người. Sau đó, Bác Hồ ký tên trên hai tấm ảnh bằng tiếng Trung, gửi tặng đồng chí Lục Văn Tuấn, cũng tặng tôi một tấm. Tôi đã cất giữ tấm ảnh gốc có chữ ký của Bác Hồ này trong 43 năm, sau cân nhắc kỹ lưỡng mới tặng cho Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam, để càng nhiều bạn bè Việt Nam có thể chiêm ngưỡng bút tích tiếng Trung của Hồ Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Giáo sư Văn Trang

 

Suy tư 90 - Bàn về sự lãnh đạo của Đảng
Bài này vốn không phải là bài viết sẵn. Sau lời phát biểu miệng tại hội thảo của Câu lạc bộ Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam ngày 20.2.1990, tôi được ông Hoàng Nguyên, chủ nhiệm CLB, đề nghị ghi lại tóm tắt để làm hồ sơ của CLB. Không ngờ bản ghi này lại được tạp chí Khoa học và Tổ quốc đăng trong số tháng Tư với bút danh Lương Dân. Một chuyện rắc rối đã xẩy ra. Anh Phạm Quế Dương, phụ trách biên tập của tạp chí, đã bị gọi tới cơ quan an ninh “làm việc”. Tôi đến tạp chí gặp anh và nói với anh: “Tôi là ngưòi viết bài này, nếu có chuyên rắc rối, xin ‘chia lửa’ với tạp chí”. Ý định khởi tố anh Phạm Quế Dương không thành, có lẽ người ta cân nhắc lại, thấy lợi bất cập hại. Nhưng tờ tạp chí mới ra đời này đã bị đình bản mười tháng trời...
Trong các cuộc thảo luận về đề cương Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng, một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu là về vị trí của Đảng trong xã hội. Theo tôi, đó là vấn đề gốc, không giải quyết đúng vấn đề này thì không thể nói tới bất cứ một sự cải thiện đáng kể nào trong quan hệ của Đảng và nhân dân, cũng như không thể nói một cách nghiêm túc tới vấn đề chỉnh đốn bản thân Đảng.

Lâu nay, trong nhận thức và trong thực tiễn mọi mặt đời sống xã hội, sự độc quyền lãnh đạo của Đảng được coi như một nguyên tắc căn bản, bất di bất dịch. Và ngay cả hiện nay, hầu như cũng không thấy ai đặt vấn đề thay thế vai trò lãnh đạo của Đảng bằng một đảng hay một tổ chức chính trị nào khác. Có lẽ không cần phải phân tích dài dòng về cái thực tế tích tụ từ dòng chảy đấu tranh giải phóng diễn ra trên đất nước ta từ hơn 60 năm nay ấy. Nó thường được nói lên bằng mấy tiếng đã trở thành thuộc lòng: sự độc quyền lãnh đạo của Đảng.

Nhưng chính cách nói ấy bao hàm một sự nhận lầm lớn, nguy hại cho chính sự lãnh đạo của Đảng. Nói vắn tắt, sự nhận lầm ấy là ở chỗ biến sự độc quyền lãnh đạo của Đảng từ một sự lựa chọn lịch sử khách quan của nhân dân thành một sự áp đặt ý chí chủ quan của Đảng.

Xin nói rõ hơn. Vào cuối những năm 20 - đầu những năm 30, trong các giai cấp xã hội ở nước ta, giai cấp vô sản tỏ ra có khả năng hơn cả về lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Và người tiêu biểu cho giai cấp vô sản là Đảng cộng sản. Các chính Đảng tư sản dân tộc và tiểu tư sản lần lượt hoặc thỏa hiệp với kẻ thù, hoặc thất bại không gượng dậy nổi. Trong khi đó, Đảng cộng sản, bằng những chủ trương cách mạng triệt để, bằng những sách lược thích hợp và bằng cả tấm gương anh dũng hy sinh của mình, đã dần dần tập hợp được quần chúng nhân dân ngày càng đông đo dưới ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Sự thật lịch sử ấy không thể nào bác bỏ được. Việc nhân dân hưởng ứng và nghe theo sự lãnh đạo của Đảng trong hơn một nửa thế kỷ qua là sự lựa chọn của nhân dân. Sự độc quyền lãnh đạo của Đảng trong cách mạng đã hình thành một cách khách quan như thế.

Nhưng từ khi Đảng nắm được chính quyền một cách toàn vẹn, lúc đầu ở miền Bắc và sau đó trên cả nước, thì cách hiểu về độc quyền lãnh đạo của Đảng đã biến đổi về tính chất. Từ chỗ là một sự lựa chọn lịch sử khách quan, sự độc quyền lãnh đạo của Đảng dần dần được hiểu và được thực hiện thành sự thống trị tuyệt đối của Đảng trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, có khi cả đời sống cá nhân, thành “Đảng trị” (partocratie), Đảng biến thành “Đảng - Nhà nước”, thành một thứ “siêu nhà nước”, có toàn quyền quyết định tất cả, từ những chủ trương lớn đến những biện pháp thực hiện nhỏ, và mọi người dân chỉ được phép nghĩ theo, nói theo và làm theo những quyết định của Đảng, có khi chỉ là của một cấp lãnh đạo, thậm chí của một cá nhân lãnh đạo nào đó. Mọi ý kiến khác với ý kiến những người lãnh đạo của Đảng bị coi là chống Đảng, mà chống Đảng cũng có nghĩa là chống Nhà nước, chống chế độ, chống cách mạng. Cho đến khi Đảng nhận ra được những sai lầm của mình (triệt để hay không triệt để) thì xã hội đã gánh chịu những hậu quả cay đắng, chưa nói tới một số người phải chịu đựng sự trừng phạt trái pháp luật mà đến nay vẫn chưa giũ bỏ dược hết số phận oan trái của mình.

Khi đường lối, chủ trương của Đảng về cơ bản là đúng, khi đội ngũ đảng viên - tức là những người nhân danh Đảng để lãnh đạo các công dân khác một cách “toàn diện, triệt để” - về cơ bản còn lành mạnh, thì sự độc quyền lãnh đạo của Đảng đã có thể đem lại những hậu quả tiêu cực rồi (và trong thực tế, đã có những trường hợp như vậy). Huống hồ khi đường lối, chủ trương của Đảng không đúng, khi nó lại được những đảng viên thoái hóa, biến chất thực hiện, thì hậu quả thật không lường được. Mà hậu quả nặng nề nhất, tai hại nhất lại là hậu quả mất dần lòng dân mà Đảng phải gánh chịu.

Ở đây, có một mối liên hệ biện chứng được thể hiện rất rõ trong mấy chục năm qua. Khi nào chính bản thân người dân tự mình thừa nhận sự độc quyền lãnh đạo của Đảng, thì khi đó, dù Đảng không tự xưng tên (chẳng hạn trong thời kỳ Việt Minh 1941-1945, hay trong thời kỳ chống Mỹ dưới ngọn cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam), người dân vẫn đi theo sự lãnh đạo của Đảng. Trong những trường hợp đó, Đảng có nấp dưới danh nghĩa gì đi nữa, người dân vẫn nhận ra Đảng là lãnh tụ chân chính của mình.
Trái lại, khi Đảng áp đặt ý chí chủ quan của mình lên xã hội, biến độc quyền lãnh đạo thành sự thống trị tuyệt đối của Đảng, thì khi đó người dân dần dần xa cách, không còn tin vào Đảng như trước nữa, và sự độc quyền lãnh đạo của Đảng cũng mất di từ trong lòng dân, một cách khách quan.


*


Sự thống trị tuyệt đối của Đảng thể hiện ở chỗ nào? Trước hết, ở những đặc quyền và ở sự độc chiếm của Đảng và các đảng viên. Tất cả các cơ quan dân cử, các cơ quan lãnh đạo và quản lý xã hội đều được cấu thành từ đảng viên (tất cả hoặc gần hết). Phải là đảng viên thì mới có thể giữ những chức vụ lãnh đạo và quản lý từ trên xuống dưới. Do đó, muốn hưởng những đặc quyền vật chất (lương bổng cao, phương tiện sinh hoạt tốt, v.v...), phải là đảng viên. Không phải tất cả những kẻ đặc quyền đặc lợi về vật chất hiện nay đều là đảng viên, nhưng phải nhận rằng tình trạng đặc quyền đặc lợi của đảng viên có chức quyền đang nêu gương xấu và tạo cớ cho những kẻ đặc quyền đặc lợi khác noi theo. Đặc quyền đặc lợi về vật chất, như đã thấy quá rõ, đang trở thành một thứ ung nhọt phá hủy cơ thể xã hội.

Nhưng còn một thứ đặc quyền khác còn nguy hiểm hơn nhiều: đặc quyền tinh thần, độc quyền chân lý. Có thể tính tác hại của đặc quyền vật chất thành những số tiền của mất đi, nhưng không thể nào tính được tác hại của đặc quyền tinh thần của độc quyền chân lý bằng những thước đo sờ thấy. Mà tác hại của thứ đặc quyền này đối với xã hội thì thật ghê gớm. Một chủ trương phiêu lưu về đối nội và đối ngoại có thể bắt xã hội trả giá nặng nề, làm chậm sự phát triển xã hội hàng thập kỷ. Một chủ trương sai, một quan diểm sai dẫn tới chỗ đánh thẳng vào những di sản tốt đẹp của quá khứ, làm cho đời sống hiện tại xuống cấp và phá hoại cả niềm tin của con người vào tương lai, nhiều thế hệ liền phải gánh chịu hậu quả không dễ gì xóa bỏ được.

Và bây giờ, nếu những đặc quyền vật chất ít ra đã bị dần dần hạn chế về mặt công khai, thì đặc quyền tinh thần, độc quyền chân lý vẫn tồn tại dai dẳng, nhân danh lợi ích của đất nước, của chủ nghĩa xã hội, của nhân dân.

Vì vậy, để bảo đảm cho nhân dân thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng (sự độc quyền lãnh đạo của Đảng xét về mặt khách quan), thì không có gì hay hơn bằng việc thủ tiêu càng sớm càng tốt, càng triệt để càng tốt những đặc quyền của Đảng đối với xã hội. Và một lần nữa, không chỉ thủ tiêu những đặc quyền vật chất, mà quan trọng hơn cả, là thủ tiêu đặc quyền tinh thần, độc quyền chân lý.

(Tất nhiên, xã hội vẫn có thể có và cần có những ưu đãi vật chất nào đó đối với những loại lao động đặc biệt có hiệu quả xã hội cao, đối với những bộ phận dân cư chưa đến tuổi lao động hoặc đã mất sức lao động..., nhưng đó không phải là đặc quyền và càng không phải là đặc quyền dành riêng cho đảng viên của Đảng cầm quyền. Cũng tất nhiên, khi những chủ trương của Đảng cầm quyền được các cơ quan đại biểu nhân dân bầu ra một cách thật sự dân chủ chấp nhận và biến thành luật pháp, thì mọi công dân đều phải tuân theo).

Sự lãnh đạo của Đảng chỉ được thừa nhận một cách tự nguyện và đầy đủ khi Đảng thật sự là lãnh tụ trí tuệ (tập hợp được trí tuệ của toàn xã hội), là lãnh tụ chính trị (đưa ra được những đường lối chính sách đúng đắn) và là lãnh tụ đạo đức (nêu gương đời sống lành mạnh) của xã hội. Và làm được như vậy, chắc chắn không có một lực lượng chính trị nào có thể giành mất vai trò lãnh đạo của Đảng.

Từ những phân tích trên đây, xin có mấy kiến nghị cụ thể:

  • Xóa bỏ điều 4 trong hiến pháp qui định về mặt pháp lý vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội, để cho các tổ chức Đảng và đảng viên không thể dựa vào ưu thế pháp lý của mình trong sự lãnh đạo, và sự lãnh đạo của Đảng chỉ dựa vào phương pháp thuyết phục. Tất cả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng không mang tính chất bắt buộc đối với các công dân về mặt pháp lý (trừ những trường hợp đã biến thành luật);
  • Đảng không độc chiếm các cơ quan dân cử, các cơ quan lãnh đạo và quản lý xã hội; chỉ dành một tỉ lệ không quá 50% thành phần các cơ quan này cho đảng viên, như vậy sẽ tập hợp được những người ngoài Đảng ưu tú vào công việc quản lý đất nước;
  • Ban lãnh đạo các cấp, kể cả trung ương, tiến hành những cuộc đối thoại bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau với những người tiêu biểu cho các xu hướng khác nhau trong xã hội, cả với những người có ý kiến ngược với ý kiến của Đảng, không định kiến, không trù dập;
  • Tiến hành những cuộc tranh luận công khai trên báo chí về các vấn đề quốc kế dân sinh, không hạn chế tự do tư tưởng, chỉ với điều kiện không trái với hiến pháp và luật pháp được xây dựng thật sự dân chủ;
  • Các cơ quan thuộc bộ máy Đảng không được trực tiếp chỉ huy điều hành của những cơ quan, những tổ chức không thuộc hệ thống tổ chức của Đảng (cụ thể: ban tuyên huấn không trực tiếp chỉ huy báo chí, ban tổ chức không được trực tiếp quyết định công việc nhân sự...).
  • Cuối cùng, giải quyết tất cả những vụ án oan về tư tưởng và chính trị trước đây, sòng phẳng với những sai lầm của Đảng trong quá khứ; thật sự khôi phục đầy đủ các quyền công dân cho người bị oan ức; thực hiện hòa hợp dân tộc một cách chân thành.

Tóm lại, Đảng lãnh đạo xã hội nhưng không đứng trên xã hội và chịu sự kiểm soát của xã hội.

Vì sao Hồ Chí Minh thành công năm 1945 và câu hỏi hiện nay? (Lê Thế Biểu)

 

Vì sao Hồ Chí Minh thành công năm 1945 và câu hỏi hiện nay?

Lê Thế Biểu

 

 

 

Làm trai cố chí lập thân

 

Rồi ra gặp hội phong vân cũng vừa.

 

Nên ra tay kiếm tay cờ

 

Chẳng nên thì chớ chẳng nhờ tay ai.

 

(Ca dao Việt Nam)

 

 

 

Ngày 02 tháng 9 năm 1945 Hồ Chí Minh, nhân viên bí mật của Quốc tế Cộng sản, từ bóng tối bước ra ánh sáng, trở thành chủ tịch chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH đọc Tuyên ngôn Độc lập, một thực thể chính trị được sinh ra từ đống tro tàn của một thế chiến đi đến hồi kết thúc. Nhà lãnh đạo trả lời được câu hỏi trong 60 năm (1885-1945) không ai thành công để đem lại độc lập cho Việt Nam. Một chính thể ra đời và tồn tại tới ngày nay vượt qua vòng cạnh tranh khắc nghiệt giữa các quốc gia, đã chống lại các thế lực hùng mạnh trên thế giới và hiện nay đang phải đối mặt với câu hỏi lớn nhất thời hiện đại: Việt Nam sẽ tồn tại thế nào giữa một bên là nước Trung Hoa đồ sộ và bên kia là thế lực đến từ phương Tây? [1].

 

Vì sao Hồ Chí Minh thành công năm 1945? Sự thành công tiến lên nắm chính quyền có phải là con đường đã định hướng trước hay không, như theo Stein Tonnesson “không cho rằng cuộc cách mạng đó là ‘tình cờ’, ‘ngẫu nhiên’ hoặc ‘ăn may’”[2]. Hay theo Sophie Quinn Judge “quá trình dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là một tiến trình có sẵn từ đầu” [3].

 

Nhằm đưa ra một hướng trả lời cho câu hỏi lịch sử quan trọng, gắn liền với một nhân vật trở về đúng thời điểm thích hợp, đã là một thay đổi cho Việt Nam, một biến cố quan trọng luôn là trung tâm của biến động xã hội đã làm đảo lộn và tiếp nối cuộc sống một dân tộc, một dấu mốc đánh dấu nên hành trình sự nghiệp gian nan. Và bước sang thế kỷ XXI, sau 75 năm ra đời nước Việt Nam mới và hơn

50   năm Hồ Chí Minh mất có thể trả lời cho câu hỏi quan trọng này. Một câu hỏi từ quá khứ vẫn đang bỏ ngõ tới ngày nay. Giờ đây, câu hỏi mới xuất hiện, nhà nước hiện tại sẽ trả lời như thế nào để tiếp nối cái huy hoàng các nhà lãnh đạo thế hệ đầu tiên.

 

Vì sao Hồ Chí Minh thành công ?

 

Chiến tranh thế giới thứ hai là một sự kiện làm thay đổi toàn thế giới và nhờ đó tại Việt Nam một nhà nước mới được sinh ra hay cách mạng là con đẻ của chiến tranh. Cuộc chiến là một cú hích mà tại Việt Nam một thế lực cũ đã cai trị nước Việt

1


Nam hơn tám mươi năm bị một thế lực mới nổi lên đánh bại, sau đó Việt Minh - một lực lượng đứng bên lề nhanh chóng chớp thời cơ giành chính quyền khi ngày tàn của kẻ “gieo gió ắt gặp bão” kết thúc. Với một ý nghĩa quan trọng hơn là sự chuyển mình từ đất nước thực dân phong kiến sang cuộc cạnh tranh ý thức hệ để quyết định sự thắng thế của một hệ tư tưởng mới.

 

Vậy thì một cuộc chiến tranh xảy ra và dựa vào đó để thực hiện thành công một cuộc cách mạng mà cao nhất là giành và nắm chính quyền và một nhà nước mới ra đời. Sự lý giải thành công đến từ đâu trong trường hợp Việt Nam năm 1945? Điều này chỉ có thể đặt Việt Nam trong bối cảnh nhìn từ các cuộc cách mạng ở phương Tây mà Hồ Chí Minh đã ở nước ngoài.

 

Nguyễn Ái Quốc hoạt động cách mạng bên ngoài lãnh thổ Việt Nam chỉ trở về nước khi thế chiến thứ hai đang bắt đầu, mà trực tiếp là Pháp đang cai trị nghe tin “mẫu quốc” thất bại trước Đức [4], lúc ở độ tuổi “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”. Cần một cuộc chiến tranh mới về nước, tức là từ khi rời Liên Xô và tháng 11 năm 1924 về miền nam Trung Hoa và đến ngày 28 tháng 1 năm 1941 tại cột mốc 108 giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Cao Bằng, trở về sau 16 năm hoạt động cách mạng khi đã xác lập được con đường cứu nước và gần 30 năm bên ngoài học hỏi, quan sát và chờ một sự kiện tương tự như Lênin trở về để lãnh đạo thành công cách mạng Nga thoát thai từ cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.

 

Tại sao lại “chờ thời” lâu dài đến vậy mới trở về nước. Không về nước lúc thế giới hòa bình mà lại biến động, một cuộc chiến nổ ra sẽ làm chính quyền đang cai trị phải đối phó nhiều vấn đề và mất quyền kiểm soát các sự kiện khi vượt ra ngoài, và sụp đổ sẽ diễn ra khi cuộc chiến kéo dài nếu thất bại về mặt quân sự. Một mối liên hệ mà một người thuộc địa đã viết “Chủ nghĩa tư bản là một con đĩa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc...” tức thất bại của Pháp trước Đức tháng 6 năm 1940 sẽ chỉ còn “cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa” [5] và chính phủ thuộc địa tại Đông Dương vẫn vững chắc dù mẫu quốc có thất bại chăng nữa.

 

Nhìn lại lịch sử Pháp xâm lược và thiết lập một bộ máy cai trị ở Việt Nam và không có một cuộc nổi dậy nào có thể tống cổ người Pháp để mang lại độc lập. Người Việt chưa bao giờ bị cảnh đô hộ kéo dài như vậy từ khi thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc. Một giai đoạn dài dằng dặc do nhà Nguyễn thất bại trong việc bảo vệ nền độc lập trước ngoại xâm và sẽ làm người Việt Nam nghĩ rằng liệu số phận của họ có phải đã được sắp đặt trước. Nhưng không, ít ra vẫn có người tin vào may mắn của mình, một người thành công nhờ một cuộc chiến tranh, một lựa chọn biết ở vị thế để đạt được hiệu quả nhất.

 

***

 

Khi chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành xuống thuyền ra nước ngoài, ông chủ mới đã ngự trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam gần 26 năm trên sự tuyệt vọng cuối cùng từ phái chủ chiến tại kinh thành Huế cố cứu vãn một vương quyền đã tàn từ mối nạn ngoại xâm. Anh thanh niên-đại diện một thế hệ mới ra đời- đi qua nhiều nước và trở lại Pháp cuối năm 1917 khi thế chiến thứ nhất đang diễn ra. Khoảng thời gian sống tại Pháp, chính tại nơi đất nước đang cai trị Việt Nam, màn chính trị mở đầu

2


bằng việc cùng một nhóm người Việt Nam yêu nước gửi Bản yêu sách của nhân dân An nam nhân các cường quốc thắng trận họp tại Versailles, một tiếng nói lẻ loi không đi đến kết quả là bao, qua phỏng vấn của phóng viên Mỹ nói rằng đến đòi quyền tự do cho dân An Nam nhưng không có được sự hỗ trợ tại quê nhà: “Tình cảnh của đất nước Việt Nam thật đáng buồn. Ngoài chúng tôi (chỉ một số người yêu nước) chưa có sự chuẩn bị nào cả và các hoạt động vũ trang gần đây đã hoàn toàn thất bại và không có tiếng vang nào ...”, vẫn có một số khích lệ từ “các nghị sĩ, tôi gặp tất cả những người chịu giúp chúng tôi. Những người Xã hội nghĩ rằng Chính phủ Pháp không khi nào chấp nhận những yêu cầu của chúng tôi nhưng họ vẫn vui lòng giúp đỡ. Và đó là chỗ dựa quan trọng đối với chúng tôi”[6]. Sự chuyển hướng sau đó sang phong trào cộng sản do đọc bài báo về dân tộc và thuộc địa của Lênin là một ngả rẽ cũng là bước sang con đường chính trị đảng phái.

 

Sau bao năm tham gia Đảng cộng sản Pháp và hoạt động đã thừa nhận rằng “đã đọc nhiều tuyên bố ủng hộ và đoàn kết của những người chống đối nhưng không người nào đem lại cho chúng tôi một sự giúp đỡ thiết thực để thoát khỏi chế độ nô lệ mà những ‘người đi gieo rắc văn minh’ đang giam hãm chúng tôi”, chuyển hướng đến Liên Xô-nước xã hội chủ nghĩa ra đời từ chiến tranh, rất phấn khởi về một “sáng kiến bolshevik” và nhìn thấy một “biểu tượng” làm hình mẫu lý tưởng đã mở ra con đường mới cho cuộc đời hoạt động cách mạng[7]. Hành trình tới Liên Xô đã giúp Nguyễn Ái Quốc có những thay đổi lớn mà không phải trở lại nước Pháp nữa. Thời gian tại Liên Xô tìm hiểu về cách mạng năm 1905 và cách mạng tháng Mười Nga 1917 kết hợp những kiến thức tự học tại Pháp về các cuộc cách mạng châu Âu và Mỹ, rút ra một “định luật tổng quát” chung về cách mạng được trình bày trong cuốn sách nhỏ Đường Cách Mệnh năm 1927 [8] là: “Cách mạng đều từ các cuộc chiến tranh lớn”, lúc đang hoạt động ở Quảng Châu, miền nam Trung Quốc mở các lớp huấn luyện thanh niên Việt Nam, bước mở đầu sau này tiến tới thành lập Đảng. Có nghĩa là những gì đã xảy ra ở phương Tây có thể lặp lại mối tương tự và bài học cho Việt Nam tham khảo. Đất nước mà thực dân Pháp đang đô hộ hơn 60 năm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một tiết lộ được đưa ra trong cuốn sách Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch ra đời năm 1948, lúc nhà lãnh đạo nước Việt Nam DCCH cũng sẽ phải ra mắt thế giới. Nói tới thời điểm Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến nước Nga Xô viết làm việc trong khoảng thời gian (tháng 7/1923-9/1924) trước khi rời đi Trung Quốc:

 

“Vừa xem xét vừa nghiên cứu nước Nga, ông Nguyễn không quên đây là một nước đã trải bốn năm chiến tranh thế giới, những cuộc chiến tranh đã làm tổn thương đến tận cơ sở. Ông Nguyễn cũng không quên so sánh nước Nga mà cuộc cách mạng đang tiến tới với nước Việt Nam bị nô lệ đã mấy mươi năm”[9].

 

Chính vì vậy Nguyễn Ái Quốc là thành viên của Đảng Cộng sản Pháp làm việc trong Quốc tế ba chuyển về gần Việt Nam hoạt động nhiệt thành, năng nổ cho đệ tam quốc tế, với chủ tâm hoạt động bên ngoài nhưng không xa lãnh thổ Việt Nam nhằm gây dựng một tổ chức đảng chính trị theo mô hình Leninist. Vì để giành độc lập từ tay người Pháp, một cường quốc của châu Âu, vào thời cai trị phồn thịnh của chủ nghĩa thực dân châu Âu sau thế chiến I đang thống trị thuộc địa trên toàn thế giới, Nguyễn Ái Quốc cần làm đầu tiên là xây dựng một Đảng Cộng sản, mà theo Lênin trong cuốn sách Làm gì? [10] có 5 yếu tố quan trọng:

 

(1)   Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo.

 

(2)   Càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết phải có một

4


tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc (nếu không thì bọn mị dân sẽ dễ lôi cuốn những tầng lớn lạc hậu trong quần chúng).

 

(3)   Một tổ chức như thế thì chủ yếu phải gồm những người lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp của mình.

 

(4)   Trong một nước chuyên chế, chúng ta càng thu hẹp số người của tổ chức ấy lại đến mức chỉ nhận vào tổ chức những người cách mạng chuyên nghiệp đã từng được rèn luyện về nghệ thuật chống bọn cảnh sát chính trị thì một tổ chức như thế càng khó bị “tóm”.

 

(5)   Số công nhân và những phần tử của các giai cấp xã hội khác có thể tham gia phong trào và công tác tích cực trong phong trào sẽ càng đông.

 

Cuốn Đường Cách Mệnh chỉ ra cách mạng Nga đối với cách mạng Việt Nam nhìn từ Nguyễn Ái Quốc cho rằng “thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công” từ khi “Lênin và nhiều đồng chí ở ngoại quốc về”[11]. Đây là bước ngoặt đã mở ra, ra đi tìm đường cứu nước bằng đường biển và trở về nước bằng đường bộ. Và một thế chiến mới đến có quy mô còn lớn hơn thế chiến chỉ riêng tại châu Âu trước đó đã bùng nổ mở đầu tại chính châu Âu tháng 9 năm 1939 và ở một đất nước phương Đông xa xôi, khi người dân họ không ngờ được rằng họ không phải sống mãi cuộc đời không phải là đã định trước, cũng tiếp theo sau cuộc đại chiến này họ sẽ là trung tâm của sự chú ý trên khắp thế giới.

 

Chỉ 6 ngày sau khi nghe tin Paris thất thủ lúc đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc) Nguyễn Ái Quốc tìm cách trở về Việt Nam, một biến cố xảy ra tại chính quốc được chế giễu trong bài báo Hai chính phủ Versailles khi so sánh năm 1940 giống năm 1870 rằng “cách nhau 70 năm, lịch sử nước Pháp đã in lầm mất một trang. Vì lẽ 2 Chính phủ Versailles giống nhau y đúc, cùng đẻ ra trong thất bại của chiến tranh” [12]. Một cuộc chiến tranh thế giới mới đã đến là điều không thể bỏ qua, hy vọng học từ Lênin đã đến, rất là vui mừng được thể hiện trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12/7/1940, rằng phải tận dụng cơ hội tốt “nghìn năm có một”:

 

“... từ ngày nước Pháp buộc phải đầu hàng Đức thì uy tín của người Pháp đã bay lên quá chín tầng mây, còn người Việt Nam trong lòng không ai là không mừng rỡ. Không hiếm người muốn lợi dụng cơ hội này đánh đổ ách thống trị của người Pháp. Chỉ vì không có người tổ chức và lãnh đạo. Vì sao Đảng Cộng sản không tổ chức và lãnh đạo họ? Vì tám chín phần mười số cán bộ cũ đã bị bắt. Cán bộ mới thì còn thiếu kinh nghiệm chưa đủ lực lượng. Ngoài ra, còn một vấn đề nữa muốn kêu gọi toàn dân đứng lên phải có người đủ uy tín danh vọng, nói được làm được đi tiên phong thì mới có kết quả”.

 

“Nhân dân Việt Nam tuy hiện nay chưa được tổ chức, nhưng ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ”[13].

 

Khi ra đi trẻ - trở về ở ngũ tuần, vượt qua biên giới ngày mùng Hai Tết Tân Tỵ (28/01/1941) mà chỉ 16 tháng trước thực dân Pháp tại Đông Dương đã phù ra một hơi thở ngột ngạt đối với những người cộng sản và 4 tháng trước Nhật vào Đông

5


Dương từ biến cố mở đầu 1 tháng 9 năm 1939 tại châu Âu. Từ đây nhà lãnh đạo tương lai bắt đầu thực hành chính trị trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và với tên mới là Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện ngày Quốc khánh một khi cách mạng thành công tại Hà Nội.

 

Nhật Bản ngày càng thất bại trên chiến trường trước quân Đồng minh và cú đảo chiều bắt đầu từ 9 tháng 3 năm 1945 tại Đông Dương đã loại bỏ đối thủ cũ sau trận đánh ngắn ngủi. Là một mốc đảo ngược giống cách mạng tháng 3 tại Nga khi nhân dân Nga lật đổ chế độ cũ Sa hoàng. Chỉ khác là cách mạng tháng Mười thành công lúc Nga đang tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất, và trong cuộc chiến, Nga là nước đầu tiên và duy nhất bị cách mạng nuốt chửng chỉ trong vòng 8 tháng (8/3-7/11/1917) Lênin và các cộng sự bolsheviks lên nắm chính quyền. So với cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, sự thành công xảy ra lúc nghe tin Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 15/8 kể từ cuộc xoay chuyển đợt một 9/3/1945 tới biến cố “ngóng trông” tiếp theo từ bên ngoài khi cuộc chiến tranh thế giới kết thúc.

 

Cách mạng tháng Tám năm 1945 - một đặc quyền chỉ dành cho những người trẻ tuổi để tạo nên ngày hội của toàn dân, nơi người dân có chung mục đích. Theo David G. Marr “Đó là một khoảnh khắc mà mọi thứ dường như đều khả thi, khi mọi người cảm thấy họ đang làm nên lịch sử, chứ không chỉ chứng kiến nó”[14]. Và một cái Tết độc lập tổ chức ngày 2 tháng Chín tại Hà Nội khi sân khấu mở ra, đón chào những nhà lãnh đạo nước Việt Nam mới - một đất nước thường thấy từ lịch sử đã để lại mỗi khi gặp khủng hoảng và ngoại xâm thường xuất hiện nhân tài.

 

Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) là trung tâm-hay cuộc chiến đã làm thay đổi hệ thống quốc tế mà từ trung tâm này, một “khía cạnh phụ cận”-Việt Nam giành được độc lập. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công vượt quá sức mong đợi của Hồ Chí Minh mà ông đã ấp ủ bao lâu. Một nhà nước giống những nhà nước trong lịch sử Việt Nam sinh ra từ chiến tranh - cuộc chiến đấu chống ngoại xâm đảm bảo tính chính thống của triều đại sẽ gắn liền với người được suy tôn là anh hùng dân tộc. Nhà lãnh đạo thiết lập chế độ mới, nguyên thủ quốc gia đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 

Trên tất cả, không nên nghĩ rằng rập khuôn là điều thích hợp khi có mối tương đồng hoặc là ngẫu nhiên. Tổng kết lại vậy “Lênin” của Việt Nam đã học hỏi từ Lênin của nước Nga những điểm quan trọng:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6


(Xem sơ đồ 1, 2, 3).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

9


Câu nói song hành với yếu nhân.

 

Có thể nói là Hồ Chí Minh có một hành trình sự nghiệp hợp với một câu nói* nổi tiếng của Khổng Tử trong Luận Ngữ thuộc Tứ Thư - Kinh điển của Nho gia:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10


Còn Việt Nam hiện nay?

 

Câu hỏi mới mà Việt Nam đang đối mặt hiện nay, xin đưa ra bảng dưới đây về chu kỳ lịch sử Việt Nam cho tới hiện tại:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vào ngày 24 tháng Giêng 1918, Lênin, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng dân ủy tuyên bố tại Đại hội III toàn Nga các Xô viết công nhân-nông dân-binh lính rằng Chính quyền Xô viết được thiết lập ngày 7 tháng Mười một 1917 đã vượt qua được cái bóng lịch sử ngày 18 tháng Ba của 46 năm về trước khi giai cấp tư sản thách thức những người bolsheviks lên nắm chính quyền là không thể tránh khỏi thất bại. Gần

 

28   năm sau, tức 30 tháng Tư tiến về trung tâm của thế giới [15]. Bốn tháng tiếp tại châu Á nhà nước Việt Nam mới được thành lập.

11


Giống như lực đẩy của thế chiến thứ hai, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam tháng Mười hai năm 1986 tiến hành Đổi mới từ một lực đẩy quan trọng là Liên Xô từ tháng Ba năm 1985. Vậy mà nơi mở đầu cũng là nơi kết thúc. Tại đất nước phương Đông xa xôi đã trụ và vượt qua được khi thành trì tư tưởng sụp đổ, rồi mở cửa rộng ra với thế giới bên ngoài mà chỉ trước đó một thập kỷ đã ngoảnh lại với những kẻ đã bị đánh bại, một điều trớ trêu của lịch sử và một lần nữa kể từ ngày nước Việt Nam DCCH ra đời vẫn tiếp bước đến ngày nay.

 

Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đang đứng trước một câu hỏi mới trong quan hệ quốc tế tại châu Á, một quyền lực mới nổi lên muốn thay thế một quyền lực cũ mà Việt Nam nằm cạnh sát nút. Ở vị trí biến động cái quá khứ hàng ngàn năm lịch sử đã đứng vững trước các thế lực ngoại bang. Ngày nay sẽ phải tiếp bước lịch sử mà được ví như cái đê chắn chủ nghĩa bành trướng phương Bắc xuống Đông Nam Á nhờ vị trí địa lý.

 

Câu hỏi Việt Nam phải trả lời ngày nay có lẽ đã xuất hiện và để lại từ quá khứ chưa có lời giải. Một cuốn sách có tên Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885 của nhà sử học Yoshiharu Tsuboi đã đề cập đến một giai đoạn trong lịch sử ở thời điểm phương Đông đang đối mặt với sức ép mở cửa từ các nước Âu-Mỹ từ chiến tranh Nha phiến (1839-1842) mở đầu đế quốc Trung Hoa mở toang cửa ngõ thiên quốc trước sức mạnh của cường quốc hải quân mạnh nhất thế giới phương Tây là Anh quốc, từ sự kiện này nhà nước Đại Nam với tư cách một quốc gia phải lựa chọn con đường tồn tại giữa một bên là quan hệ truyền thống lâu đời phải đối mặt với biến động trong quan hệ quốc tế mới.

 

Kể từ cái bắt tay giữa hai bên bờ đại dương và đưa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào sân khấu thế giới. Cuối năm 1978 công cuộc Cải cách và Mở cửa do Đặng Tiểu Bình tiến hành và trước những biến động ở khối các nước XHCN, đưa ra châm ngôn “ẩn mình chờ thời”, một thời gian trong tình trạng còn yếu so với các đối thủ khác. Một giai đoạn Trung Quốc “bọc võ học văn” để tập chú vào vấn đề trong nước. Sau 30 năm chờ đợi, suy thoái kinh tế 2008 xảy ra ở phương Tây và các cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan 2001 và Iraq 2003 trước đó chuyển hướng Mỹ ra khỏi châu Á, điều mà Trung Quốc gọi là “cửa sổ cơ hội chiến lược” đưa ra năm 2003 nay đã thành hình [16].

 

Cuốn sách Trung Quốc mộng xuất bản năm 2009, nói lên việc đã đến lúc sang số trở thành Trung Quốc lớn-thời kỳ thứ ba, sự trỗi dậy sẽ thách thức phương Tây và tuyên bố không đi theo vết xe đổ của ba cường quốc trong thế kỷ XX: Nhật trước năm 1945, người Đức trong thời kỳ hai cuộc đại chiến thế giới và không phải là người Nga trước năm 1991 [17].

 

Còn đối với Mỹ thừa nhận sự thất bại qua nửa thế kỷ muốn thay đổi Trung Quốc, trong lịch sử thế kỷ XIX vào năm 1853 Mỹ đã buộc Nhật Bản mở cửa và gia nhập cùng các cường quốc, rồi bị đại bại trong thế chiến thứ II và nay nhìn thấy quốc gia châu Á khác với cái kết đắng nhận ra:

12


Không có cây gậy hoặc củ cà rốt nào có tác động tới Trung Quốc như dự kiến. Những mối ràng buộc về ngoại giao và thương mại không mang lại được sự cởi mở về chính trị và kinh tế ở Trung Quốc. Cả sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ cũng như cán cân lực lượng khu vực đều không ngăn cản được Bắc Kinh tìm cách thay thế những thành phần cốt lõi của một hệ thống do Hoa Kỳ dẫn dắt. Và trật tự tự do quốc tế cũng đã thất bại trong việc thu hút hoặc ràng buộc Trung Quốc một cách mạnh mẽ như đã từng kỳ vọng. Thay vì vậy, Trung Quốc đã đi theo con đường của riêng mình, và chứng tỏ hàng loạt kỳ vọng của Hoa Kỳ cho tiến trình này là hoàn toàn sai lầm [18].

 

Thế kỷ XIX và XX cuộc chiến giữa các đối thủ phương Tây đã chấm dứt, trong cuộc chiến này những kẻ châu Á, ban đầu là Nhật Bản và giờ đây là Trung Quốc chỉ là những kẻ bên lề muốn tìm một chỗ đứng trong trật tự thế giới do phương Tây thống trị và cạnh tranh lẫn nhau, những vết sẹo từ quá khứ vẫn tồn tại đã đeo gánh nặng để lại cho hiện tại giải quyết.

 

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa-2 quốc gia khối xã hội chủ nghĩa mở cửa với phương Tây. Nhìn bản đồ không khác biệt nhau lắm, Trung Hoa nằm ở vị trí trung tâm ở châu Á thì Việt Nam lại nằm ở trung tâm Đông Nam Á. Và lại lịch sử thế kỷ XIX, hai nước đều là thuộc địa của phương Tây. Có hai điểm quan trọng ở thế kỷ XX là nhà nước Việt Nam ra đời và đổi mới đến ngày nay không phải do Trung Quốc ảnh hưởng đến mà là các sự kiện từ những nước có mối quan hệ mờ nhạt. Cụ thể hơn nước Việt Nam ra đời 4 năm trước nước Trung Hoa mới và thậm chí Trung Quốc chẳng có cú hích quan trọng nào tác động đến để Việt Nam thay đổi và sau khi Liên Xô tan rã thì gió đã đổi chiều.

 

Tuy nhiên, Việt Nam đã sống ngàn năm bên cạnh nhưng không cô đơn mãi khi đối diện với nhân tố Trung Hoa lâu dài hơn nữa. Một thế lực mới đến tạo thành một đối trọng đồng thời bị kẹp giữa và tìm cách nào tồn tại giữa mối quan hệ quốc tế rộng lớn này. Từ thế kỷ 16, sự xuất hiện những người bạn mới-người Tây phương đã có mặt tại Việt Nam, mối quan hệ ban đầu tiếp xúc bằng thương mại và truyền giáo, chưa thiết lập giữa các nhà nước với nhau. Trước thay đổi giữa thế kỷ XIX, Việt Nam là một quốc gia được cai trị dựa theo mô hình Trung Hoa. Sự chủ động mà các nước phương Tây tiến hành ngày một mạnh mẽ hơn, các sứ bộ ngoại giao thiết lập trên hệ thống quốc tế theo kiểu châu Âu nhằm mở cửa trên con đường tới đích là Vương quốc trung tâm đang ngoảnh mặt với trào lưu hiện đại, với sự kiên trì đáng kinh ngạc để có thể nói chuyện bằng thiện chí khi còn đã không thành công. Và dùng pháo hạm khi không thể cho thấy được uy lực hùng mạnh của phương Tây.

 

Việt Nam đổi mới và không theo dấu vết lịch sử vương quyền Nguyễn-cũng giống như các lịch triều trước, đã không vượt qua khỏi vòng thăng trầm lịch sử thịnh suy các vương triều bởi việc tôn sùng quá mức truyền thống và không nhạy bén trước sự kiện bên ngoài đã kết thúc nền cai trị thống nhất đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam. Và nước Việt Nam mới-quốc gia “thuộc địa” giành độc lập phải thoát khỏi

13


những trở lực để bước kịp sánh với các nước tiên tiến “đế quốc” để ra khỏi bẫy lịch sử.

 

Thật khó có thể nghi ngờ được nữa, để trả lời cho câu hỏi quan trọng đang phải đối mặt, một chặn đường đã qua và một chặn khác đang tới khi cuộc chiến đang xoay chiều. Để giải quyết tốt mối quan hệ này, chắc chắn không có gì tốt đẹp hơn là sự tham gia thiện chí của tất cả mọi người cùng nỗ lực xây dựng một đất nước mới mà các thế hệ tiền nhân để lại và Đảng Cộng sản-lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội phải tiếp bước đưa Việt Nam vượt qua một phép thử mới mà lịch sử cũng như hiện tại đang đặt lên vai.

 

*   Câu hoàn chỉnh là: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi trùng tâm sở dục, bất du củ”. Nghĩa là: “Ta 15 tuổi mới có chí học hành; 30 tuổi thì (tự) đứng vững được (tự lập); 40 tuổi chẳng nghi hoặc (vì trí tuệ đã mở mang); 50 tuổi biết mệnh trời; 60 tuổi biết phán đoán mọi sự; 70 tuổi theo lòng mình muốn mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý”.

 

 

Tham khảo:

 

[1]  Yoshiharu Tsuboi: Người Việt cần trong sạch. Báo Tiền Phong 11/09/2011.

 

[2]    Gs. Ðinh Xuân Lâm, Ts. Phạm Hồng Tung (Ðại học Quốc gia Hà Nội). Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với giới nghiên cứu lịch sử nước ngoài. Báo Nhân dân.

 

[3]    Sophie Quinn-Judge: Hồ Chí Minh và những năm tháng chưa được biết đến (1919-1941). Bản tiếng Việt trên Internet.

 

[4]   Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử-Tập 2 (1930-9/1945): Năm 1940. Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật Hà Nội.

 

[5]   Hồ chí Minh toàn tập-Tập 1: 1912-1924: Xuất bản lần thứ ba: Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa. Trang 320-324. Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội 2011.

 

[6]   Hồ chí Minh toàn tập-Tập 1: 1912-1924: Xuất bản lần thứ ba: Trả lời phỏng vấn của một phóng viên Mỹ. Trước ngày 2-9-1919. Trang 16. Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội 2011.

 

[7]   Hồ chí Minh toàn tập-Tập 1: 1912-1924: Xuất bản lần thứ ba: Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo L’UNITÀ. Ngày 15-3-1924. Trang 465-468. Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội 2011.

 

[8]    Hồ chí Minh toàn tập-Tập 2: 1924-1929: Xuất bản lần thứ ba: Đường Cách Mệnh. Trang 277-347. Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội 2011.

 

[9]   Trần Dân Tiên: Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Trang

 

59. Nhà xuất bản Nghệ An 2004.

 

14


[10]    V.I. Lênin Toàn tập-Tập 5: Tháng 5-12/1901: Bắt đầu từ đâu. Tháng 5-1901. Trang 1-15. V.I. Lênin Toàn tập-Tập 6: Tháng 1-8/1902: Làm gì? Những vấn đề cấp bách trong phong trào chúng ta. Mùa Thu 1901-tháng Hai 1902. Trang 1-245. Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2005.

 

[11]    Hồ chí Minh toàn tập-Tập 2: 1924-1929: Xuất bản lần thứ ba: Đường Cách Mệnh. Trang 277-347. Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội 2011.

 

[12]   Hồ chí Minh toàn tập-Tập 3: 1930-1945: Xuất bản lần thứ ba: Hai chính phủ Versailles. Ngày 29/11/1940. Trang 210-211. Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội 2011.

 

[13]   Hồ chí Minh toàn tập-Tập 3: 1912-1924: Xuất bản lần thứ ba: Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản. Ngày 12/7/1940. Trang 192-204. Nhà xuất bản chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội 2011.

 

[14]    David G. Marr: Việt Nam 1945: Khoảnh khắc không gì là không thể. Ngày 05/4/2015. Xem tại: http://nghiencuuquocte.org/2015/04/05/viet-nam-1945/

 

[15]   V.I. Lênin Toàn tập-Tập 34: Tháng 7-10/1917: Cách mạng Nga và Nội chiến: Người ta đem nội chiến ra để dọa nạt. Ngày 29-9-1917. Trang 285-303. V.I. Lênin Toàn tập-Tập 35: Tháng 10/1917-3/1918: Báo cáo về hoạt động của Hội đồng Bộ trưởng Dân ủy ngày 24 tháng Giêng tại Đại hội III toàn Nga các Xô viết đại biểu Công nhân, Binh sĩ và Nông dân ngày (23-31) tháng Giêng 1918. Trang 313-337. Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2006.

 

[16]   Henry Kissinger: Bàn về Trung Quốc (Sách tham khảo). Nhà xuất bản Công an nhân dân 2016.

 

[17]    Lưu Minh Phúc: Giấc mộng Trung Hoa: Tuy duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ. Thông tấn xã Việt Nam 2010.

 

[18]    Kurt Campbell & Ely Ratne: Suy nghĩ lại về Trung Quốc. Ngày 21/02/2018. Xem tại https://nghiencuuquocte.org/2018/02/21/suy-nghi-lai-ve-trung-quoc/