Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021

Lê Giản - Trong sách Nợ tang bồng (Đại Định)

Bài viết về cụ lão thành cách mạng Lê Giản rút ra từ sách "Nợ tang bồng"

Đại Định

3. Lê Giản (1911 - 2003).

Còn có khi gọi là (Tô Gĩ, Tô Dĩ), người Hưng Yên, từng là người đứng đầu đầu tiên ngành Công an của chính quyền mới (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ - Bộ trưởng Công an), Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Cuối đời, do trải nghiệm ông nhận thấy những điều ông từng tin tưởng mà dấn thân là sai lầm. Ông viết một loạt bài để thể hiện lập trường quan điểm mới của mình. Tuy bị đoàn thể tổ chức phê phán nhưng không quá bạo liệt, không khai trừ ông ra khỏi đảng, đối xử với ông có phần nhẹ nhàng hơn so với vài người phản tỉnh khác như với ông Trần Xuân Bách, Trần Độ chẳng hạn.
Cuối năm 2000, ông Lê Giản gửi cho BCT 4 lá thư liên tiếp. Khi đó trong các cuộc giao ban thông tin cho là do một số người bất mãn như Lê Đạt (một yếu nhân của Nhân Văn - Giai Phẩm) lợi dụng uy tín của ông, mượn danh ông để tán phát quan điểm của mình.
Tôi có quen biết con trai cụ Lê Giản là anh Tô Linh, Vụ trưởng vụ Khoa giáo phủ Thủ tướng. Tôi cũng nhiều lần trực tiếp được tiếp cận cụ, gần gũi cụ Lê Giản, nhất là trong các cuộc khai hội để đóng góp ý kiến khi các siêu VIP - tập thể các vị “dua” triệu tập (trong các cuộc khai hội này những cán bộ đang lên còn mải theo các vip đương quyền, tôi thường được phân công dự để ghi chép - tôi lại thích thú vì đến lúc này các vị nguyên lão thường nói thật). Tôi đã trực tiếp nghe nhiều điều từ cụ trong các lần được cụ cho gặp. Vì lý do riêng, tôi quan tâm về chuyện ông Tạ Đình Đề từ việc học những hai lớp điệp viên của Tàu Tưởng đến của Mỹ như cụ Lê Giản, đến chuyện vụ án Tạ Đình Đề, khi đó cụ là Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nhưng ấn tướng lại là việc cụ nhận thức lại về những điều có tính chất chủ nghĩa, chủ thuyết, đường lối đã chọn mà bấy lâu nay cụ tin và theo đuổi, bảo vệ nó.
Tuy có ghi chép trong các lần tiếp cận, nhưng ở đây tôi chỉ viết về những điều cụ trăn trở thành văn dưới hình thức là các bức thư, các đề cương chuẩn bị phát biểu của cụ. Các lần khai hội loại này tôi thường có mặt với vai trò là thư ký. Sau khi phát biểu, các cụ thường giao bài (có khi chỉ là đề cương một vài trang viết tay) cho chúng tôi. Chính hội nghị loại này - nguyên lão hội nghị, các cụ nói nhiều điều, mà là nói thật.
Tháng 9 và tháng 10 năm 2000, cụ Lê Giản liên tiếp viết 4 lá thư. Tôi nghĩ, những bức thư này đang được lưu giữ trong các Trung tâm Văn khố quốc gia.
Các lá thư ông viết ngắn, chỉ nêu những vấn đề có tính chất khẳng định, ít phân tích lý luận dài dòng. Nhiều nội dung, khi ông đến họp với tư cách là lão thành cách mạng (ngày 12 tháng 10 năm 2000 chẳng hạn) ông đã nêu lại dựa trên một bản đề cương viết tay. Chung lại tư tưởng xuyên suốt trong các bức thư là đường hướng mà cách mạng đã chọn để dẫn dắt dân tộc là sai lầm, và ông cũng đề cập đến từng vấn đề cụ thể cần phải thay đổi như thế nào để phát triển đất nước. Những ý kiến của cụ rất tâm huyết, như chắt lọc từ trái tim và khối óc của mình dâng hiến cho dân, cho nước. Từ trái tim cụ chỉ có máu, không có nước lã càng không có nước bẩn.
Một lần cụ Lê Gản trực tiếp đến hội nghị lão thành và để lại mấy dòng dưới đây (thủ bút của cụ) khi cụ nghe tin có ngườu phê phán bất nhã cụ trong một buổi nói chuyện của một tuyên truyền viên của ban tuyên huấn tên Xuân Huyền ở khu tập thể Nam Đồng.
Đề cương chuẩn bị phát biểu của cụ Lê Giản (thủ bút)
Những vấn đề cơ bản ông Lê Giản nêu trong các bức thư:
Trong bức thư thứ nhất (đề ngày 15 - 9 - 2000) góp ý vào dự thảo văn kiện cho Đại hội IX có những nội dung: “Tránh việc quay trở lại những sai lầm trước đây đã từng đưa đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội toàn diện kéo dài (1978 - 1989)”; cần “phát huy dân chủ”; “báo Nhân dân và các báo khác không chỉ đăng các ý kiến đồng tình, mà cần phải đăng cả các ý kiến trái ngược với dự thảo, thậm chí cả những kiến nghị đưa ra những dự án khác với dự thảo"; “trung ương đảng và báo Nhân dân nên biểu thị sự thành thực, lưu tâm lắng nghe một cách thực sự chứ không phải là một thủ đoạn chính trị, một thái độ khôn khéo tạm thời”; “tôi nghe nói, Hội đồng toàn quốc ĐCS Pháp trong kỳ Đại hội lần thứ 29, còn dám đưa ra cho toàn đảng không phải chỉ 1 dự án mà là 4 dự án để cho các đảng bộ cơ sở thảo luận thoải mái, sâu rộng mà không sợ kẻ địch lợi dụng quấy rối”.
Trong bức thư thứ hai (đề ngày 22 - 9 - 2000) cũng góp ý với các báo cáo chuẩn bị đại hôi IX ông viết: “Tạm gác lại khẩu hiệu chủ nghĩa xã hội”; “thay đổi tên nước, không gọi là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nên lấy tên là Việt Nam, hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa”.
Trong bức thư thứ ba (đề ngày 30 - 9 - 2000) tiếp tục góp ý vào dự thảo báo cáo chính trị, sau khi phân tích đã nêu ra một loạt kiến nghị, ngoài những nội dung quen thuộc đã được ông đề cập trong các thư trước, lần này có vài nội dung cụ thể sát sườn vào văn bản dự thảo báo cáo chính trị chuẩn bị trình trong Đại hội IX: “Bỏ cụm từ đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường”; “ bỏ cụm từ chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu… sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối”; “bỏ cụm từ kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”; “bỏ cụm từ tính chất của thời đại vẫn không thay đổi” …
Và ông cũng nêu một số nội dung có tính chất bổ sung: Cần bổ sung khái niệm “nhà nước pháp quyền”;
“Đổi mới ngay lập tức công tác nghiên cứu lý luận:
a/ Thay đổi các cán bộ hiện đang phụ trách công tác lý luận, tổ chức lại các cơ quan lý luận và tạp chí lý luận;
b/ Tranh thủ giới trí thức trong và ngoài đảng tham gia nghiên cứu khoa học một cách thực sự dân chủ, tránh bệnh biệt phái giáo điều quan phương;
c/ Đặt chương trình nghiên cứu khoa học một cách rõ ràng tránh áp đặt một cách duy ý chí: “chỉ cho phép nghiên cứu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, không cho phép nghiên cứu các con đường đi tới dân giầu nước mạnh”;
d/ Phải có tạp chí hoặc thông tin đăng công khai các ý kiến, quan điểm, dự án khác nhau, không nên dìm đi, giấu đi các ý kiến trái ngược với các nhà cầm quyền”.
Trong bức thư thứ 4 (đề ngày 6 - 10 - 2000) ông Lê Giản tiếp tục những quan điểm tư tưởng đã nêu ở các bức thư trước và có đi sâu phân tích. Vì vậy ở đây xin ghi lại toàn văn để có thể hiểu tư duy của vị lão thành cách mạng đã một thời “dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa”.
Kính gửi BCT, trong thư số 4 này, tôi kiến nghị: Đại hội IX “cần phải và chỉ nên nêu cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta” với các căn cứ sau đây:
1. Từ năm 1930 cho tới nay, Đảng ta đã từng bổ sung, điều chỉnh hệ tư tưởng chỉ đạo của đảng.
Nếu trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (10 - 1930) đã nêu “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa C.Mác và Lênin làm gốc…”.
Đến Đại hội II (1951), Điều lệ của Đảng đã đưa cả lý luận của Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Từ Đại hội III đến Đại hội VI, Đảng lại lấy chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Đến Đại hội VII (và sau đó đến Đại hội VIII), Đảng lại bổ sung lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng.
Cách đặt vấn đề của Dự thảo Báo cáo chính trị và Dự thảo Điều lệ coi như giữ nguyên như cũ, và không có một cố gắng gì đi sâu nghiên cứu, tổng kết trong khi xã hội đang chuyển biến mạnh mẽ, thực tiễn đấu tranh đang hết sức phong phú, có nhiều điểm mới so với trước kia.
Tôi nghĩ rằng, để chuẩn bị tốt cho Đại hội IX Đảng ta cần để công phu tổng kết lại lịch sử đấu tranh mấy chục năm qua để xem xét cách đặt vấn đề nền tảng tư tưởng trước đây có cần nghiên cứu điều chỉnh gì không.
2. Tôi được bạn bè cho biết cách nêu nền tảng tư tưởng của các Đảng cộng sản trên thế giới cũng rất khác nhau.
Rất nhiều Đảng đã bỏ cả chủ nghĩa Lê - Nin, chỉ còn lại chủ nghĩa Mác; có Đảng chỉ nêu chủ nghĩa xã hội khoa học mà không nêu người sáng lập.
Đảng Trung Quốc nêu cả chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông, và lý luận Đặng Tiểu Bình.
Đảng Pháp từ Đại hội 29, 30, đã thôi không dùng từ chủ nghĩa xã hội, mà chỉ bàn đến chủ nghĩa cộng sản, và trong văn kiện không nhắc gì tới chủ nghĩa Mác.
Do vậy Đảng ta cũng cần để công sức đi vào nghiên cứu kỹ vấn đề này, xuất phát từ kết quả và kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng nước ta trong mấy chục năm qua.
Tôi xin phép kiểm điểm lại vai trò, tác dụng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam, trên 2 lĩnh vực:
- Đấu tranh giành độc lập dân tộc,
- Đấu tranh để phát triển kinh tế, xã hội vì tự do, dân chủ, hạnh phúc của nhân dân.
3. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng chí Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam, khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin, đã học được rất nhiều điều bổ ích, rất quan trọng. Có thể nêu lên một số nét chủ yếu sau đây:
a) Những người yêu nước Việt Nam đã nhìn rõ sức mạnh cách mạng to lớn ở trong nước ở trong các tầng lớp lao động đông đảo nhất, nghèo khổ nhất, nhưng lại kiên cường nhất là nông dân, công nhân, và các tầng lớp lao động khác.
b) Những người yêu nước Việt Nam đã tìm thấy nguồn sức mạnh to lớn ở ngoài nước, ở sự liên minh với phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển, ở sự liên minh với phong trào cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc.
c) Những người yêu nước Việt Nam có điều kiện nhận thức rõ bộ mặt thực, chỗ mạnh, chỗ yếu của bọn đế quốc, thực dân dưới bề ngoài văn minh và hùng hổ.
d) Những người yêu nước Việt Nam có thể hình dung một xã hội tương lai đẹp đẽ, không có người bóc lột người, trong đó mọi người có thể phát huy được các khả năng của mình, đó là một thiên đường trên trần gian này.
d) Những người yêu nước Việt Nam học được kinh nghiệm tổ chức Đảng chính trị gồm những người yêu nước giác ngộ nhất, những người hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, biết hoạt động bí mật, biết tổ chức quần chúng đứng lên lật đổ ách thống trị của bọn thực dân.
Đó là những bài học quý giá, cực kỳ bổ ích cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
4. Nhưng khi đánh giá nguồn gốc, nguyên nhân thắng lợi của các cuộc kháng chiến mấy chục năm qua, thì cần phải thấy rõ:
a) Cái chủ yếu tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần, và sức mạnh vật chất của nhân dân ta là ở văn hóa Việt Nam, ở lòng yêu nước Việt Nam, ở tư duy Việt Nam, ở cách ứng xử đùm bọc, thương người của con người Việt Nam, tức là ở truyền thống ngàn đời của tổ tiên ta để lại, từ 1000 năm chống Bắc thuộc, trải qua những chiến thắng của Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, trải qua đấu tranh của phong trào Cần Vương, của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…
Tinh hoa ấy của Việt Nam được thể hiện ở Hồ Chí Minh và những người yêu nước của nước ta.
b) Trong khi tham khảo, học tập kinh nghiệm nước ngoài, bên cạnh việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin và phong trào cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh và những người yêu nước Việt Nam còn chú trọng học tập cả kinh nghiệm của Đại cách mạng Pháp 1789 của các nhà tư tưởng ưu tú của nước Pháp, của Tôn Trung Sơn, của cách mạng Mỹ, của Đạo Nho, của Đạo Phật, Đạo Cơ đốc giáo… với một thái độ khiêm tốn phát hiện những điều có ích cho nhân dân Việt Nam, không hề sùng bái một cách lệ thuộc bất kể một học thuyết ngoại lai nào.
c) Trong quá trình học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin, một số người cộng sản Việt Nam cũng đã phạm phải một số sai lầm, gây tổn thất cho cách mạng Việt Nam, như: Sai lầm của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là đồng chí Trần Phú đã phê phán đả kích chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, và đưa ra một đường lối tả khuynh, dẫn tới sai lầm trong Xô viết Nghệ Tĩnh (1931), sai lầm về chủ trương mở cuộc cải cách ruộng đất (1954 - 1955) ở miền Bắc, trong khi 85% ruộng đất đã chia cho dân cày.
(Tư tương này - “chỉ nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh” cũng là tư tưởng của Võ Nguyên Giáp nêu ra từ đầu những năm 90 thế kỷ trước và bị những nhà LL của đảng như NĐB phê phán là nêu cao tư tưởng HCM cũng đồng nghĩa là nhằm hạ thấp tư tưởng Mác - Lênin).
5. Trên lĩnh vực để đấu tranh phát triển kinh tế, xã hội, thì tình hình khác hẳn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Sau khi giành được độc lập dân tộc trong cả nước, xuất phát từ học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về “cách mạng không ngừng”, về “chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ được thay thế bằng chủ nghĩa xã hội thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa”, ngay trong Đại hội IV, Đảng đã quyết định cả nước đi vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với một lòng tin tưởng sắt đá là chỉ trong vòng 3 hoặc 4 kế hoạch 5 năm là có thể hoàn thành thời kỳ quá độ và sẽ xuất hiện chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước.
Như bức thư số 3 đã nêu rõ, việc thực hiện đường lối cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo như sự chỉ dẫn của học thuyết Mác - Lênin không những không mang lại kết quả, mà ngược lại đưa đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội toàn diện và kéo dài (1978 - 1988). Với sự nỗ lực cố gắng của Đảng, dựa trên sáng kiến của nhân dân, đất nước đã đi vào đổi mới, vượt qua khủng hoảng, dành được những thắng lợi to lớn như dự thảo Báo cáo chính trị đã nêu. Nội dung của quá trình đổi mới, chủ yếu là sự từ bỏ những nguyên lý cơ bản của mô hình chủ nghĩa xã hội mác xít, trở lại và phát huy những kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc và tiếp thu những bài học hay của thế giới hiện đại.
Qua cuộc khủng hoảng và qua sự nghiệp đổi mới, rõ ràng học thuyết Mác - Lênin chưa cho chúng ta những bài học bổ ích như trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đồng thời sự đổ vỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng chứng minh sự không đúng của học thuyết Mác về xã hội xã hội chủ nghĩa.
Xã hội xã hội chủ nghĩa trong chủ nghĩa Mác, là nói về một mẫu hình xã hội hậu tư bản, sản sinh trên cơ sở chế độ TBCN đã trải qua 200 năm hình thành và phát triển (kể từ thế kỷ 16, 17) ở Âu châu.
Mô hình CNXH Mác xít về bản chất là mô hình xa lạ, không phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của Việt Nam.
6. Do đó, người Việt Nam phải đi tìm con đường đi tới dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính ở đây ta càng cần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, khi người nói tới xã hội tốt đẹp tới đây của dân tộc: “Nước độc lập mà dân không hưởng tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giầu nước mạnh”. Cách lý giải của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, không giống với nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Mác xít được diễn đạt trong các sách kinh điển và các sách giáo khoa: Nào là công hữu hóa, xóa chế độ tư hữu, nào là kế hoạch hóa có chỉ huy từ TW, xóa bỏ nền kinh tế hàng hóa, nào là đấu tranh giai cấp giữa 2 con đường, nào là chuyên chính vô sản với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa…
Nhiều nhà lý luận “chính thống” (ăn lương, ăn KX, KC) ở nước ta đã phạm một sai lầm cực lớn khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là một cách hiểu rất sai lầm.
Theo tôi, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết và chủ yếu nhất, là thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam, là thể hiện tinh hoa của tư duy và tâm hồn Việt Nam, là tiếp nối truyền thống lòng yêu nước, tình thương con người của xã hội Việt Nam. Hồ Chí Minh là người con của dân tộc Việt Nam, đã kế thừa và nâng cao bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã học tập những điều có ích trong học thuyết Mác - Lênin, và các học thuyết tiến bộ khác, các nền văn hóa khác trên thế giới, và truyền bá vào Việt Nam, nhưng không hề là tín đồ cuồng tín của bất cứ một học thuyết nào.
7. Giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm khác biệt khá quan trọng.
a) Trong khi Mác bàn về sự chuyển hóa từ một xã hội tư bản phát triển để chuyển sang xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh lại phải giải quyết nhiệm vụ của mộ đất nước còn quá nghèo khổ từng bước đi lên thoát nạn nghèo hèn.
b) Trong khi Mác lấy đấu tranh giai cấp làm động lực thúc đẩy xã hội thì Hồ Chí Minh lại lấy đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân để đẩy xã hội tiến lên.
c) Trong khi Mác lấy đấu tranh làm hạnh phúc, thì Hồ Chí Minh lại lấy tình thương, tư tưởng đùm bộc, nhường cơm sẻ áo làm hạnh phúc.
d) Trong khi Mác đề xướng chuyên chính vô sản và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh nền dân chủ nhân dân, với nhà nước do dân, vì dân, của dân.
e) Trong khi Mác nói đến Đảng chỉ là của giai cấp vô sản thì Hồ Chí Minh lại nêu Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là Đảng của dân tộc Việt Nam.
(Cần lấy các chính sách cụ thể, các phong trào cách mạng cụ thể để soi rọi xem quan điểm của ông Trần Độ xác thực đến mức nào?)
Sở dĩ có những điểm khác nhau quan trọng trên đây là do những khác nhau về sự xuất thân, về điều kiện đấu tranh, và hoàn cảnh lịch sử.
a) Nếu Mác xuất thân từ lớp tư sản, trí thức của một nước tư bản, thì Hồ Chí Minh lại xuất thân từ lớp trí thức của một dân tộc nô lệ (quan lại dù nhỏ và bất phùng thời).
b) Nếu Mác tắm mình trong cuộc đấu tranh giai cấp công nhân chống lại tư sản, thì Hồ Chí Minh lại tắm mình trong đấu tranh của cả một dân tộc đang bị đế quốc thống trị.
c) Nếu Mác thừa nhận văn hóa của Tây phương là chính, thì Hồ Chí Minh lại thừa nhận văn hóa của Đông phương, của Việt Nam, và sau đó của cả Tây phương.
d) Nếu như quá trình hoạt động của Mác về cơ bản là thuận lợi, thì đời hoạt động của Hồ Chí Minh lại long đong, vất vả, ba chìm bảy nổi.
8. Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh về thực chất là nêu cao bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, nêu cao tư duy truyền thống Việt Nam, nêu cao lòng yêu nước Việt Nam.
Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, không có nghĩa là phủ nhận chủ nghĩa Mác.
Đảng ta có thái độ trân trọng nghiêm túc, khách quan đối với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng ta phải tổ chức việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, cố rút ra các điều bổ ích, nhưng cần tránh lệch lạc coi như quốc giáo, là tư tưởng chủ đạo của toàn dân tộc. Trong công tác giáo dục cho thanh niên, thì chớ nên chỉ cho phép học chủ nghĩa Mác - Lênin, không cho nghiên cứu tham khảo các học thuyết khác trên thế giới. Phải mở rộng sự hiểu biết của giới trí thức và thanh niên ở nước ta.
9. Cuối cùng tôi xin nhắc lại đề nghị của tôi trong Đại hội IX: “Cần phải và chỉ nên lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta”.
Đến ngày 12 tháng 10 năm 2000 những quan điểm nêu trong 4 bức thư nói trên đã đươc ông tóm tắt lại và trực tiếp đọc trước cuộc họp do BCT triệu tập các lão thành cách mạng và có phát triển thêm (viết tay chữ to - việc này dập tắt ý kiến cho rằng các lá thư của ông Lê Giản là do bọn phản động lợi dụng ông để tán phát quan điểm và có ý ám chỉ là Lê Đạt). Sau khi đọc, ông gửi lại bài viết cho tôi - tác giả sách này, thư ký cuộc họp. Nội dung chính như sau:
Trước hết ông phản bác đường lối kinh tế, ông viết: “Chúng ta không thể đặt vấn đề CNH, HĐH, bảo đảm độc lập tự chủ trong kinh tế theo các quan điểm của ĐH – IV, VII, VIII đã nêu trước đây (cách mạng QHSX mở đường, KHKT là then chốt, CCVS phải nắm vững), cần phải chuyển hướng toàn bộ các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, hành chính sang một quỹ đạo mới đi thẳng vào nền kinh tế tri thức ”.
Và ông đề nghị “tạm gác lại khẩu hiệu CNXH” và lần này ông nêu một số lý do: 1/ Trong di chúc của chủ tịch HCM… người đã không nói đến CNXH trong mục tiêu của đất nước Việt Nam; 2/ Trong 70 năm đã nhiều lần Hồ Chí Minh và Đảng ta cũng đã tạm gác khẩu hiệu CNXH ví như: khi thành lập mặt trận Việt Minh, ngày lễ 2 - 9 - 1945 khi đọc tuyên ngôn Đọc lập, cương lĩnh MTDTGP miền Nam 1962, trong nghị quyết của BCT số 07/NQTW ngày 11 - 7 - 1993 khi nói về nhiệm vụ chung của MTDTTN cũng không nói gì đến CNXH; 3/ xuất phát từ luận điểm của Mác… mà sự vận động thực tế của các nước tư bản phát triển… thì trong thế kỷ 20 đã chứng minh luận điểm của Mác là không đúng; 4/ tất cả các nước đã đi vào mô hình CNXH Mác xít trong thế kỷ 20 đều không thành công, phần lớn đã tan vỡ, kể cả Liên Xô, thành trì của phe XHCN, tình hình đó không phải thoái trào tạm thời của CNXH, mà quan trọng hơn đó là bài học chứng tỏ mô hình CNXH Mác xít không phù hợp với quy luật của sự phát triển xã hội; 5/ hàng 100 nước trên thế giới kể cả nhiều nước kém phát triển trước đó, không đi theo CNXH đã vượt ta theo GDP bình quân đầu người hoặc chỉ số phát triển con người; 6/ mô hình CNXH Mác xít thể hiện bằng đường lối của ĐH IV của Đảng thực tế đã đẩy đất nước ta vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội toàn diện và kéo dài suốt 10 năm trước đây (1978 - 1988); 7/ thực tế CNXH là gì cho tới nay vẫn là một ẩn số; 8/ nếu ta cứ chủ trương nêu khẩu hiệu CNXH trong tình hình hiện nay thì khó thực hiện được chiến lược ĐĐ kết toàn dân, khó có thể tranh thủ được sự ủng hộ của số đông kiều bào và do đó sẽ kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Và ông một lần nữa kiến nghị: “Cần phải và chỉ nên nêu cao tư tưởng HCM là kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng ta” với một loạt căn cứ.
Xuyên suốt 4 bức thư ông Lê Giản gửi cho các siêu VIP đương quyền, cũng như phát biểu trực tiếp trong cuộc họp do BCT triệu tập, ông Lê Gian nhất quán quan điểm cho rằng đương lối đã chọn là đường lối sai lầm và đòi thay đổi đường lối xây dựng đất nước. Những quan điểm của ông trái với các quan điểm “chính thống” hiện hành về những vấn đề cơ bản, nhưng ông không bị các VIP đương quyền gọi đến khuyên bảo và phê phán trực diện kiểu như đối với Trần Độ, Hoàng Hữu Nhân.
Trong tang lễ ông Trần Độ, bất chấp sự ngăn cản, ông Lê Giản trở thành thành viên tích cực - là chỗ dựa cho không ít người đến viếng với bức trướng:
Tướng quân Trần Độ
Nhân văn danh tướng
Trí dũng vẹn toàn
(các lá thư khác của cụ Lê Giản chỉ lựa chọn nội dung vắn tắt. Riêng lá thư thứ tư cụ Lê Giản viết kỹ có tính lý luận và lịch sử, nên đăng toàn văn).

Thứ Năm, 19 tháng 8, 2021

Hoàng Tùng phát biểu đóng góp ý kiến với Tiểu ban Báo cáo chính trị Đại hội IX về định hướng viết báo cáo chính trị.

Hoàng Tùng phát biểu đóng góp ý kiến với Tiểu ban Báo cáo chính trị Đại hội IX về định hướng viết báo cáo chính trị.

Đại Định

Xin gửi đến bạn đọc bài viết về ông Hoàng Tùng rút ra từ chương "Nợ đời, đời nợ" sách "Nợ tang bồng".

10. Hoàng Tùng (1920 - 2010).
Tên thật là Trần Khánh Thọ, người Hà Nam, từng là Ủy viên BBT, Chánh văn phòng TW, Tổng biên tập báo Nhân Dân nhiều năm. Vốn là cây viết hàng đầu của hệ thống. Sau khi tham chính ông cũng có nhiều trăn trở. Những tư duy “mới” của ông thể hiện trong các bài viết như “Những kỷ niệm về Bác Hồ” tới 19 trang đánh máy giấy A4 nói về nhiều điều liên quan đến nhiều sự kiện lịch sử hiện đại; “Thời đại mới, tư duy mới”….các bài nói trong các buổi thuyết trình của ông - các bài này phần lớn đã được đăng tải trên các trang mạng xã hội. Ta tiếp cận mấy bài đưới đây là những bài chưa thấy công bố để có tư liệu giúp cho việc nhận biết tư duy của ông sau khi tham chính.
Góp ý kiến về định hướng Báo cáo chính trị Đại hội IX
Đầu tháng 12 - 1999, ông Hoàng Tùng phát biểu đóng góp ý kiến với Tiểu ban Báo cáo chính trị Đại hội IX về định hướng viết báo cáo chính trị.
( “Kỹ thuật là then chốt mà không chơi với Mỹ thì lấy đâu ra mà then chốt”. Trong khi nói, ông Hoàng Tùng nói ý này, nhưng Tiểu ban lược đi mất nên bài ghi của Tiểu ban không có đoạn này. Tôi với tư cách là người có tham dự buổi khai hôi, xin được bổ sung).
Vấn đề thứ nhất: Đại hội chúng ta sắp họp: Muốn gọi cái tên, tức là cho nó một chủ đề trung tâm vấn đề đang tranh luận là con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nghĩa là từ những lời nói rải rác bấy lâu nay xuất phát từ tình hình đất dước và thế giới để xác định đường đi. Trước mắt không nên ngày nào và lúc nào cũng nói, nó là cái gì và đi như thế nào. Trước hết là đổi mới cách làm Đại hội Đảng. Ta đã trải qua mấy lần Đại hội, lần này theo phong cách này là hay nhất, đường cách mạng không phải là do đại hội thông qua, do một nhóm người mà nói cho đúng là Cụ Hồ thảo ra. Nhưng đấy chính là nền tảng của lý luận cách mạng của Việt Nam ta, làm xong cách mạng dân tộc rồi chuẩn bị điều kiện đi vào chủ nghĩa xã hội. Cái tư tưởng lớn ấy là thực tế, lý luận và thực tiễn đều chứng minh. Ở trên thế giới ai cũng ca ngợi ta là sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chứ đã có phải là nhà cộng sản vĩ đại đâu. Sau đó các hội nghị hợp nhất 3 đảng không có tính đại hội, không gọi là đại hội, nhưng mang tính chất đại hội vì là thành lập. Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng thành lập bằng cuộc hội nghị 5 - 7 người. Nhiều khi đại hội không có vị trí đại hội, không có tính lịch sử bằng Hội nghị TW, thậm chí hội nghị chỉ có 2 ông TW mà quyết định cả vận mệnh cách mạng. Cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ, dân quyền sau đó đưa phủ định cái chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của cụ Hồ, nhưng cuối cùng đến Hội nghị thứ 8 năm 1941, cụ Hồ lại lấy lại và phát triển trong thời kỳ mới là con đường giải phóng dân tộc với lại cương lĩnh cứu quốc bằng 2 trang giấy mà chuẩn bị cho cuộc Cách mạng tháng 8 thành công, chứ nếu cứ đi con đường của cách mạng tư sản dân quyền thì không được. Hội nghị lúc bấy giờ ngôn ngữ gọi là điều chỉnh chiến lược, thực chất là thay đổi chiến lược, mục tiêu không thay đổi. Hội nghị ấy có tính quan trọng, lịch sử hơn các đại hội sau này. Năm 1951 tại Đại hội lần thứ II, Hồ Chí Minh phát biểu một bài khai mạc ngắn gọn 1 trang. Có người nói với tôi: tưởng rằng là cái gì, ai ngờ cái núi đẻ ra con chuột. Nhưng thật sự là cái then chốt nhất. Còn bàn về lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tôi cho là hết sức đúng đắn, từ Đại hội III trở đi đến các đại hội sau này, trừ Đại hội VI thì đều làm theo công thức của Liên Xô, cho nên tất cả những đại hội ấy chỉ mang theo tính hình thức. Cho nên phải đưa ra một phương hướng, một giải pháp, một chiến lược trong một thời kỳ nhất định, đấy là chức năng của đại hội. Còn báo cáo kinh tế không nên làm như bản kế hoạch nhà nước, mà đề ra ngắn gọn những tư tưởng lớn, những mục tiêu lớn, chính sách lớn. Báo cáo chính trị lần này tập trung giải quyết những vấn đề về con đường phát triển của đất nước tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa, mục đích là tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Vấn đề thứ hai: Việt Nam trong thế kỷ 20 tổng kết những sự kiện lớn, những biến đổi lớn, triển vọng tiền đồ của thế kỷ 21. Nội dung thời đại mới mà lấy cái lý luận hay là quan điểm của loài người đã hình thành mà không ai bắt buộc, thời kỳ đồ đá, đồ đồng, thời kỳ cơ khí, thời đại công nghiệp cao khoa học - kỹ thuật mà đấy là nền tảng của mọi xã hội. Chính sức sản xuất, công cuộc sản xuất nó quyết định tất cả, làm đảo lộn toàn bộ cả cuộc sống. Đấy là một quan điểm của con người Mác - xít, bây giờ nó sẽ đảo lộn, đảo lộn như thế nào thì ngắn gọn, nhưng mà có tầm vóc, khái quát cao.
Vấn đề thứ ba: Chiến lược phát triển, thời kỳ, bước đi hiện nay trong 20 năm sẽ là 20 năm gì, các đồng chí hỏi thế thì anh trả lời cho tôi rõ là nhiệm vụ trung tâm là kinh tế có phải không? Tôi nói kinh tế cũng đúng, nhưng phải nói đúng như Mác tức là sau khi giành lại được chính quyền rồi, nhất là những nước kinh tế lạc hậu, công nghệ lạc hậu thì phát triển sức sản xuất là nhiệm vụ trung tâm, để tạo ra nền tảng sản xuất cho quan hệ sản xuất mới, hình thức kinh tế mới, nền chính trị mới và nền văn hóa mới, cố nhiên có kế thừa của văn hóa dân tộc, nhất là con người mới…Nếu biết làm đúng, như nó làm theo việc xây dựng 30 công ty độc quyền chiếm 80% của cải xã hội, ta làm ngược lại 80% của cải thuộc về xã hội và các hình thái kinh tế khác nhau, còn 20% có thể xài như tư bản, buộc anh tư bản phục vụ chủ nghĩa xã hội, chứ không phải buộc anh xã hội chủ nghĩa phục vụ anh chủ nghĩa tư bản. Phải đi qua con đường, hình thức tư bản chủ nghĩa nhà nước để đi lên chủ nghĩa xã hội, ông thày nói thế. Chúng ta hiểu thời đại này phải ra làm sao? Nói khái quát nhưng mà đầy đủ tức là anh trình bày các quan điểm của anh về chặng đầu. Cái trên là toàn bộ cái quá trình, cái dưới là thời đại mới là để chuyển tiếp làm tiền đề cho việc giải trình cái trước mắt. Kinh tế thị trường có phải là tư bản chủ nghĩa không? Không phải, có từ thời Tam hoàng Ngũ đế.
Vấn đề thứ tư: Nhà nước của dân, là do dân, vì dân, chính là tư tưởng của Bác mà nói theo ngôn ngữ của Hồ Chí Minh, trong đó có ẩn ý những khái niệm mà người đã chứng kiến, nhất là ở Liên Xô. Ta làm thật sự có phải cái nhà nước này là đúng không? Cái nhà nước kiểu này mới là nhà nước chuẩn bị cho chủ nghĩa xã hội. Cho đến thủ tiêu nhà nước, cách mạng chủ nghĩa cộng sản mục tiêu cuối cùng là để thủ tiêu nhà nước, cái sự người cai trị người bằng cái quản lý vật chất. Cách làm thí dụ trong cuộc bầu cử hội đồng nhân dân ba cấp có thật đúng của dân, do dân không? Nhà nước của dân, do dân và vì dân xin hãy làm đúng như lời Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề chỉ nói khái quát, mà nhất là phải làm cho thật đúng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Sự phân công giữa Đảng và nhà nước phải nâng cao, phải thật sự coi trọng chính quyền, phải nêu cao chính quyền. Những người lãnh đạo chính quyền xuất hiện trước, người lãnh đạo của Đảng thì đứng đằng sau, khi cần lắm mới đưa ra. Cái gì cũng bí thư đảng, từ trên xuống dưới toàn là Đảng, cái gì cũng thấy Đảng. Như vậy chưa phải cách làm của Hồ Chí Minh.
Vấn đề thứ năm: Đảng cầm quyền, lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền, tôi cho là hết sức xuất sắc, hết sức quan trọng, hết sức đúng đắn. Trong tình hình có thay đổi nhưng điều ấy không hề sai chỉ có những biện pháp. Những chính sách thì phải phù hợp với tình hình mới của đất nước, đất nước của những người tự do. Mình từ một phong trào giai cấp, trở thành phong tào dân tộc, từ một người lãnh đạo một dân tộc nô lệ, thành một dân tộc làm chủ đất nước mà cứ như khi nói cách đây bảy tám mươi năm hay là 150 năm về trước. Thế thì không phải chủ nghĩa duy vật biện chứng. Hãy giải quyết những vấn đề đang đặt ra, nếu có báo cáo xây dựng Đảng, hoặc sửa đổi Điều lệ Đảng thì anh bảo đảm luận về xây dựng đảng của Đảng Cộng sản cầm quyền. Nhà nước của một xã hội tự do và của những người dân tự do, bây giờ làm gì có giai cấp vô sản, thế mình là giai cấp tư bản à, mình là người chủ, mà người chủ lại đứng đầu mình. Trí thức là con em chúng ta cả, mà lại là một anh em bạn đường gép vào. Mà cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng trí tuệ này thì người I tờ và lao động chân tay làm được không. Những vấn đề nói ra sợ mất lập trường Mác - xít không? Mác - xít quá đi chứ, bây giờ ai là chủ của khoa học – kỹ thuật phải rõ ràng. Dân tộc và nhân dân không bao giờ xa, giai cấp công nhân có, nhưng bây giờ sự phân tầng xã hội không thành những giai cấp đối lập hay xa cách như trước mà xích gần lại. Mấy năm mình phải xây dựng cho được trong quá trình này một dân tộc tú tài, cái nền tảng vì nước vì dân là tú tài. Trên này là các ông cử, ông tiến sĩ theo cái hình tháp. Còn vấn đề tranh luận, anh nào không có quyền lãnh đạo thì nhấn mạnh quyền dân chủ, anh nào có quyền lãnh đạo thì thích nhấn mạnh tập trung. Nêu sách dân chủ và tập trung ra thì muôn đời tranh luận, thế thì về tính chất, nguyên tắc, tổ chức sinh hoạt là cái nền của nó là dân chủ, còn nguyên tắc điều hành thì có cơ quan điều hành cùng do đại hội bầu ra và nó phải chấp hành cái đó nếu anh đi chệch thì sẽ bị xuống dốc, tức là tập trung trong quá trình điều hành, chứ không phải là lúc nào cũng là điều hành.
(còn tiếp)

Vị trí Trần Phú trong lịch sử Đảng ta và cách mạng nước ta (Bài nói của ông Hoàng Tùng nhân 100 năm ngày sinh của Trần Phú)

 Bài nói của ông Hoàng Tùng nhân 100 năm ngày sinh của Trần Phú

Đại Định

Với trải nghiệm của mình trong suốt thời gian dài tham chính, ông trăn trở nhiều điều. Nhân được mời phát biểu cảm tưởng trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của TBT Trần Phú, ông chuẩn bị bài: “Vị trí Trần Phú trong lịch sử Đảng ta và cách mạng nước ta” .
(Ông Hoàng Tùng được Ban tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Trần Phú mời phát biểu. Nhận lời mời, ông đã viết một bài gửi đến Ban tổ chức lễ kỷ niệm để định đọc. Bài viết được các siêu VIP đương quyền góp ý và yêu cầu sửa. Nên bài đọc chính thức được sửa lại theo hướng đề cao khí tiết, phẩm chất cộng sản của Trần Phú, không đả động gì đến vấn đề cương lĩnh 1930. Đọc xong bài, ông rời bục, LQV, một vụ trưởng khi đó rìu ông xuống. Ông nói với LQV: Trần Phú dl - không tiện nhắc lại nên phải viết tắt. Sau này, Văn phòng TW mời ông Hoàng Tùng đến nói chuyện với tuổi trẻ của cơ quan, nhưng trước khi đến ngày gặp thì được biết TBT NĐM nói đến quan điểm của Hoàng Tùng khi ông nói chuyện ở chỗ này chỗ khác, về một vài bài viết của ông không được các siêu VIP tán thành. Cuộc gặp không được thực hiện).
(ảnh trang đầu bài viết có thủ bút của cán bộ phụ trách tổ chức mít tinh)
Đưới đây là bài viết định đọc trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Trần Phú chưa có sự sửa chữa gì (còn bài đọc tại cuộc mít tinh, bạn đọc dễ dàng tìm thấy trong các báo chính thống khi đó):

Vị trí Trần Phú trong lịch sử Đảng ta và cách mạng nước ta
(Bài nói của ông Hoàng Tùng nhân 100 năm ngày sinh của Trần Phú)
Hoàng Tùng

Sinh năm 1904, lúc Hồ Chí Minh 14 tuổi, học song bậc cao đẳng tiểu học, ông là giáo viên trường tiểu học thị xã Vinh. Trong thời gian này, ở nước ta, sau thất bại của cuộc binh biến Thái Nguyên, phong trào chống Pháp lắng xuống tưởng chừng nguội lạnh, sau vụ Phạm Hồng Thái ném bom mưu sát viên toàn quyền Pháp trên đường đi Nhật Bản, ghé lại thành phố Quảng Châu. Ném lầm vào một người Pháp khác, người anh hùng của chúng ta chạy ra bờ sông và nhảy xuống nước thẳm tự vẫn giữa năm 1924.
Vụ mưu sát ấy có tiếng vang lớn trong nước và người mình ở ngoài.
Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu tháng 11 năm 1924. Người nhanh chóng liên hệ với nhóm Tâm Tâm Xã gồm mấy thanh niên ta sang Trung Quốc theo Phan Bội Châu - lúc này cụ ở Hàng Châu làm nghề viết báo.
Nguyễn giáo dục nhóm thanh niên này, phần đông là người Nghệ An. Họ đồng ý thành lập Hội Cách mạng thanh niên, Nguyễn lại qua Hồ Tùng Mậu viết thư gợi ý cụ Phan về nước thành lập Việt Nam quốc dân Đảng theo cương lĩnh mới của Tôn Trung Sơn. Đến Tô giới Pháp ở Thượng Hải, cụ Phan bị hai học trò của mình là Phan Bá Ngọc (con PĐP) và Lê Dư phản bội, chỉ cho mật thám Pháp bắt đưa về nước… Ba nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh ở Pháp cũng về Sài Gòn.
Ở trong nước, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Thái Học lập ra Việt Nam quốc dân Đảng.
Ở Trung Kỳ, mấy nhà yêu nước thuộc nhóm trí thức mới lập ra Đảng Hưng Nam, sau đổi thành Tân Việt cách mạng Đảng do Đào Duy Anh đứng đầu. Trần Phú là một người lãnh đạo của đảng này sau chuyển sang Đảng Cộng sản và được cử đi Liên Xô học.
Cuộc đấu tranh về con đường cách mạng cứu nước nhà diễn ra sôi nổi khắp cả nước, kéo dài 5 năm (1925 - 1930).
Do tác động của đảng Cộng sản Pháp, những người lãnh đạo Kỳ bộ Bắc kỳ, Kỳ bộ Nam kỳ của Hội thanh niên, giải thể Hội thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng. Tổng bộ thanh niên chuyển thành Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn.
Trước tình hình đó, Hồ Tùng Mậu sang Xiêm tìm Nguyễn về Hồng Kông để tìm cách thống nhất 3 tổ chức cộng sản lại. Tại Hội nghị hợp nhất họp ở Hồng Kông ngày 3 - 2 - 1930, Nguyễn Ái Quốc trình bày Chính cương, chiến lược, sách lược vắn tắt và được Hội nghị thông qua. Như vậy, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là cương lĩnh này, bản Cương lính viết đầy đủ sau này, khi công bố chỉ còn mấy câu.
Sau khi xem thư báo cáo và các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc gửi sang Matxcơva, Ban Thư ký Quốc tế cộng sản nhận xét rằng: Tư tưởng Cương lĩnh này là sai lầm, dân tộc chủ nghĩa, cải lương, hữu khuynh, phải viết lại và đổi cả tên lại là Đảng Cộng sản Đông Dương. Quốc tế ủng hộ Trần Phú và mấy người vừa học xong một lớp ở Liên Xô về viết lại Cương lĩnh. Tháng tư, Trần Phú về đến Hà Nội cùng với Trịnh Đình Cửu (triệu tập viên của Trung ương lâm thời), Nguyễn Thế Rục viết Cương lĩnh mới, theo mẫu của Đại hội VI Quốc tế Cộng Sản năm 1928 thể hiện quan niệm của Stalin trình bày trong cuốn “Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin”. Tháng 7, một hội nghị bầu Trần Phú làm Tổng bí thư. Tháng 10, Trần Phú đi Hồng Kông tham khảo ý kiến Nguyễn Ái Quốc và đến Thượng Hải báo cáo với Noulène, Trưởng ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản vừa được thông qua. Về nước, tháng 3 - 1931 Trần Phú triệu tập Hội nghị Trung ương (mở rộng) bàn và quyết định tổ chức bộ máy của Trung ương. Cuộc họp kéo dài 10 ngày và bị mật thám của địch bắt gọn. Cùng với cuộc khủng bố trắng bắt đầu từ đầu tháng 9 năm 1930, đến đây toàn bộ hệ thống tổ chức cách mạng bị địch phá vỡ, thoái trào kéo dài đến cuối năm 1934, khi Ủy ban hải ngoại do Lê Hồng Phong đứng đầu nắm quyền lãnh đạo, quyết định sử dụng những hình thức thích hợp để từng bước khôi phục phong trào quần chúng.
Tháng 3 - 1935, Hà Huy Tập thay Lê Hồng Phong triệu tập Đại hội lần thứ nhất. Đại hội chỉ bàn những công tác cụ thể và bầu Ban Chấp hành Trung ương mới.
Tháng 6, Hà Huy Tập về nước giữa lúc ấy mấy trăm tù chính trị Cộng sản được trả lại tự do. Một cao trào dân chủ được phát động, chiến tranh thế giới bùng nổ, Nam kỳ khởi nghĩa. Một cuộc khủng bố dữ dội lại diễn ra ở cả nước. Hệ thống tổ chức của Đảng và quần chúng lại bị phá vỡ. Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước đưa ra Cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc, chuẩn bị tổng khởi nghĩa và thắng lợi (năm 1943 Quốc tế Cộng sản tự giải tán).
Như vậy, con đường cách mạng của Đảng ta do Nguyễn Ái Quốc đề xuất năm 1925, thể hiện trong Cương lĩnh vắn tắt năm 1930, Cương lĩnh do Trần Phú soạn thảo theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản chưa kịp phổ biến. Năm 1936 Đảng ta chủ trương thực hiện mặt trận dân chủ với tư sản và trí thức (trên cơ sở công nông). Năm 1938 Trung ương Đảng quyết định tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, năm 1941 là cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đến năm 1945 mới thắng lợi.
(Trong những năm 1930, nhiều đảng viên ta học Cương lĩnh Trần Phú theo cuốn “Những nguyên lý của Stalin” phát biểu năm 1924).
Chính cương vắn tắt viết khá đầy đủ, không phải như bản cắt xén đã in (Bảo tàng cách mạng giữ bản đầy đủ).
Trần Phú xứng đáng được kính trọng mãi mãi, trước hết ông là lãnh tụ cộng sản đầu tiên nêu cao khí tiết cách mạng trước quân thù và tinh thần kiên quyết cách mạng đến hơi thở cuối cùng.
Hiên ngang trước quân thù, không nói nửa lời có hại cho Đảng và cách mạng, kể cả thách thức chúng bằng hành động, Trần Phú nêu cao một tấm gương lớn gần như đầu tiên trong phong trào Cộng sản quốc tế. Tấm gương của ông có ý nghĩa to lớn đối với các lớp đảng viên từ đó đến nay và cả từ nay về sau nữa. Ông là niềm vinh quang của toàn Đảng và nhân dân ta, kiểu Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu ngày xưa.
Sau Trần Phú có Lý Tự Trọng, các lãnh tụ của Đảng khi ra trường bắn như Nguyễn Đức Cảnh, Lương Khánh Thiện, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ…và cao hơn tất cả là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, hai lần bị đầy đọa ở nhà tù đế quốc và phản động, ý chí cách mạng vẫn trong sáng, kiên cường, coi thường cái chết. Người cộng sản Việt Nam như vậy đó.
Nói thêm: Trong lịch sử cách mạng từ khi chủ nghĩa Mác ra đời chưa từng xảy ra một cuộc cách mạng tư sản dân chủ. Chuyên chính vô sản không thể kết hợp với dân chủ tư sản.
Là những thỏa hiệp với Quốc dân đảng. Chế độ dân chủ nhân dân bị bóp chết ngay ở Đông Âu và Trung Quốc.
Hình thức quá độ do Mác đề xướng chưa trở thành hiện thực.
Trần Phú viết lại Cương lĩnh do Quốc tế Cộng sản buộc phải làm và chỉ mấy năm sau Đảng ta đã thay đổi, trở lại Cương lĩnh của Hồ Chí Minh, Cương lĩnh này không có ảnh hưởng gì đối với ba cao trào cách mạng: 1930, 1936, 1939 và cao trào cứu quốc tổng khởi nghĩa. Ảnh hưởng của Stalin và Mao Trạch Đông trực tiếp đối với cải cách ruộng đất và đi ngay vào chế độ công hữu.
Sự thật lịch sử là như vậy.

Đọc lại hồi ký Trần Quang Cơ

 

Đọc lại hồi ký Trần Quang Cơ

Hồng Khiêm( Nguyên Tham tán Bộ Ngoại giao )
 

Đã hớ, đã dại rồi mà còn nói đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết… Người lãnh đạo không nên làm như vậy. Với Trung Quốc, vừa qua không phải là chúng ta bình thường hóa, mà là chúng ta đã bị “phụ thuộc hóa” quan hệ (Phạm Văn Đồng).
 
Tối hôm trước ngày đi viếng cựu Thứ trưởng Trần Quang Cơ, tôi đọc lại “Hồi ức và Suy nghĩ”của ông, coi như một cách tưởng nhớ đối với người quá cố mà tôi rất đỗi kính trọng, người đã tự rút ngắn sự nghiệp của cả đời mình đặng để lại cho hậu thế những trang tư liệu lịch sử quý giá cùng những kiến nghị và những bài học đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Nhiều bài học đến nay vẫn chưa được học hết, nhiều khuyến nghị ông nêu ra cho vẫn chưa được áp dụng hoặc thực hiện đến nơi đến chốn.

●  Qua điếu văn do Bộ trưởng BNG Phạm Bình Minh đọc tại tang lễ, ta được biết chàng thanh niên TRẦN QUANG CƠ đã là người lính bảo vệ thủ đô Hà Nội, rồi hoạt động địch vận trong kháng chiến, sau đó khi hòa bình lập lại, theo sự phân công của tổ chức lại khoác ba lô về nhận công tác tại Bộ Ngoại giao. Tại đây, sau các công việc với Mỹ (đàm phán ở Paris với Mỹ về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đàm phán bình thường hóa quan hệ với Mỹ dở đang), Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã phân công cho ông - một người am hiểu về Mỹ, phương Tây - phụ trách mảng khó khăn nhất, “xương xẩu” nhất của công tác ngoại giao lúc bấy giờ: đó là giải pháp cho vấn đề Campuchia. Bắt đầu tham gia cách mạng là 1 người lính, rồi trở thành Thứ trưởng, Thứ trưởng thứ nhất, ông đã lại như một người lính dành cả chục năm cuối đời công tác của mình cho vấn đề Campuchia gai góc, mà vấn đề CPC lại gắn chặt với Trung Quốc. Ông đã sát cánh cùng với Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, trở thành một “cặp bài trùng” trong cuộc đấu tranh gay go phá bao vây cấm vận như mục tiêu đấu tranh cho cả một giai đoạn cách mạng nước ta lúc đó.
●  Bằng sự phân tích tinh tường, thấu đáo, “Hồi ký” của Trần Quang Cơ đã vạch ra ý đồ và vai trò thực sự của các nước lớn: Mỹ, Liên Xô, Trung quốc trong cuộc xung đột CPC. Trung Quốc bằng mọi cách đòi bỏ chữ “diệt chủng” để “rửa mặt” khỏi sự dính líu của họ với một trong những chế độ tàn bạo ghê tởm nhất trong lịch sử. Ông phân tích cái gọi là “giải pháp đỏ” sẽ gây cho Việt Nam rắc rối như thế nào, đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc vất vả ra sao khi những người lãnh đạo Trung Quốc từ trên xuống dưới kể cả Đặng Tiểu Bình đều sử dụng thủ đoạn xuyên tạc sự thật một cách trắng trợn (cuộc nói chuyện của Đặng Tiểu Bình với Kayson về Việt Nam 7/10/1989), không bao giờ ngừng chia rẽ nội bộ và làm suy yếu Việt Nam.
Đọc “Hồi ức và Suy nghĩ”, có thể theo dõi cách xử lý vấn đề CPC và quan hệ với Trung Quốc của lãnh đạo Việt Nam đã khiến Việt Nam bị lừa và trượt dần vào vòng xoáy xảo trá của Trung Quốc như thế nào, mà bước ngoặt là hội nghị Thành Đô, và ông Trần Quang Cơ coi đó là hành động vô nguyên tắc, không đúng với nghị quyết BCT và bị Trung Quốc lỡm. Cuối chương 10, Trần Quang Cơ đã phải thốt lên: “Thuốc đắng thầy Tầu bốc cho ta đắng thật, nhưng vẫn không dã được tật”. Ngây thơ, cả tin vào Trung Quốc là đồng minh bảo vệ CNXH mặc dù bị Trung Quốc từ chối mà vẫn tự nguyện “giơ ngực cho người ta đấm” như nhận xét vừa hài hước vừa chua xót của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Ông Cơ đã dẫn lời phát biểu của Phạm Văn Đồng tại cuộc họp BCT: “Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, còn được hay không thì không sao. Tôi không nghĩ người lãnh đạo nên làm như vậy”.
Theo ông Trần Quang Cơ, Việt Nam-Trung Quốc “không phải là bình thường hóa quan hệ, mà là phụ thuộc hóa quan hệ”, và kể từ sau Đại hội VII, đánh giá Trung Quốc của Bộ chính trị từ chỗ có 2 mặt: bành trướng bá quyền và XHCN nhưng về sau chủ yếu chỉ còn mặt thứ 2. Dẫn sự việc cấp cao của ta chỉ đạo các ngành quan hệ với Trung Quốc thông qua Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam mà không cần qua Sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc, thậm chí không cần qua cả Bộ Ngoại giao Việt Nam và còn đi xin ý kiến đối phương (Ban Đối ngoại đi hỏi Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Từ Đôn Tín) về hướng giải quyết vấn đề trong đàm phán trước khi cử người đi đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao với Trung Quốc cho có kết quả. Ông Cơ cho rằng  “thật là có một không hai trong lịch sử đối ngoại!”.
 ●  Trước bước ngoặt thay đổi thời đại, thay đổi chiến lược trên thế giới cuối thế kỷ XX, Trần Quang Cơ mong ước Việt Nam sẽ “thay đổi tư duy đối ngoại để có được một đường lối phù hợp thực tế khách quan nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi thế cô lập, hòa nhập được với đà phát triển chung của khu vực và thế giới”.
“Nhưng không!”, ông Cơ than thở: “Tư duy chính trị xơ cứng đã giam giữ nước ta trong hoàn cảnh khó khăn một thời gian dài”. Có nhiều chủ trương, quyết sách ta chậm đến 20 năm, chẳng hạn như  “từ chối đề nghị của Mỹ và làm cao khiến ta bỏ lỡ cơ hội, khiến cho bình thường hóa với Mỹ và gia nhập ASEAN mãi 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện một cách chật vật”.
Ông lấy làm tiếc rằng “việc ta bỏ lỡ cơ hội với Mỹ đã khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng”, và đặt câu hỏi: “Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và Trung Quốc có dám đánh ta năm 1979, nếu như ta có một chiến lược đúng đắn và cầu thị hơn?” Một câu hỏi đau đáu và chưa bao giờ mất tính thời sự.
Sau khi giải quyết xong vấn đề CPC, đáng lẽ về mặt đối ngoại  phải mở ra 1 thời kỳ đa phương hóa quan hệ một cách thực sự vì mục đích cao nhất là lợi ích dân tộc và phát triển đất nước, thì đất nước lại rơi ngay vào cái bẫy “toàn diện” mới (bẫy “ý thức hệ” về chính trị và “bẫy phát triền” về kinh tế). Nếu tính từ khi lập nước (năm 1945), đây là lần thứ ba hoặc thứ tư trước các bước ngoặt lịch sử (1946, có thể 1954, 1975, 1990), chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội cho an ninh và phát triển tốt hơn.
Đọc lại Hồi ký Trần Quang Cơ và phần “Kiến nghị” ông viết gửi cho Bộ Chính trị theo yêu cầu của BCT, chúng ta thấy thật kỳ lạ là những vấn đề ông đặt ra từ cách đây 20 năm đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Chẳng hạn về những thách thức, trong số thách thức bên trong ông Cơ nhấn mạnh “tệ tham nhũng đang hủy hoại sức đề kháng vật chất cũng như tinh thần của dân tộc ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ đối với các thách thức bên ngoài”. Về thách thức bên ngoài, ông nhấn mạnh diễn biến hòa bình và bá quyền bành trướng, trong đó những thách thức đe dọa nhiều mặt của Trung Quốc đối với ta đều là những vấn đề hiện thực đang xảy ra và ta đang phải xử lý, khác với những thách thức đe dọa của các đối tượng khác có phần nào chỉ là giả định và có khi chỉ là sự hù dọa của Trung Quốc.
Truyện Trung Quốc có quân sư Gia Cát Lượng viết bảo bối, kế sách cho tướng ra trận khi gặp hiểm nguy thì giở ra xem. Nhưng các kiến nghị của Trần Quang Cơ dù có giá trị đến mấy, nhưng đáng tiếc, ở Việt Nam không có nhà ‘minh quân” nào biết  giở ra xem và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn.
Tâm nguyện đau đáu của “Hồi ức và Suy nghĩ” của Trần Quang Cơ là “rút ra những bài học bổ ích và đích đáng cho ngoại giao trong hiện tại và tương lai vì một mục đích tối cao là đảm bảo lợi ích của dân tộc trong mọi tình huống”. Vì thế ông đã bỏ vào đấy tất cả tâm huyết, trí tuệ, bản lĩnh, cả sinh mệnh chính trị, toàn bộ sức bình sinh của con người ngoại giao - một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, kỳ cựu, thượng thặng, vì đất nước! Tôi cũng suy tư mãi về quyết định “bỏ cuộc chơi” của ông. Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là bị ép, còn ông, ông tự bỏ. Bỏ cuộc chơi khi canh bạc đã tàn hoặc chỉ còn lại những con bạc khát nước thì cũng là điều không hẳn là đáng hối tiếc. Chỉ tiếc là tiếc cho đất nước, cho dân tộc, nếu nhỡ lần này nữa thì chúng ta sẽ rơi vào một vòng trầm luân mới mà chưa biết khi nào mới lại thoát ra được?

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 3-7-15
__________

Mục Lục

Hồi ức và Suy NghĩViệt Nam trong thập niên 70 của thế kỷ 20Một nhiệm kỳ đại sứ không tẻ nhạtĐại hội “đổi mới” CP87 và 3 tầng quan hệ của vấn đề CampuchiaTừ chống diệt chủng đến “giải pháp đỏ”?Một bước tự cởi trói: đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ .Trung Quốc uốn ḿnh để thích nghi với thế cựcHiệp 1 của Hội nghị quốc tế Pa–ri về CampuchiaĐặng Tiểu B́nh tiếp Kaysone Phomvihan[1] để nói với Việt NamThuốc đắng nhưng không dă được tậtBCT đánh giá cuộc đàm phán tháng 6/1990Một sự chọn lựa thiếu khôn ngoanCuộc gặp cấp cao Việt–Trung tại Thành Đô
3–4/9/90
Thành Đô là thành công hay là thất bại của ta?Ai là người đáng lư ra phải nhớ dai?Món nợ Thành ĐôNhững vấn đề về t́nh h́nh quốc tế và chính sách đối ngoại c̣n có tranh luậnĐại hội VII và cái giá phải trả cho việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc.Hiệp 2 của Hội nghị quốc tế về Campuchia.Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trangNhững thách thức đối với an ninh và phát triển của ta –– Một số kiến nghị đối sáchNhững thách thức đe dọa an ninh và phát triển của ta có thể xuất xứ từ đâu và dưới những dạng nào?Nguy cơ lớn nhất và thúc bách nhất đe dọa an ninh và phát triển của ta là từ đâu?Kiến nghị đối sáchBảng niên đạiPhụ Bản

Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2021

Đôi điều về một TBT báo Quân đội

 Đôi điều về một TBT báo Quân đội.

Trần Nhung.
Nhân 101 ngày sinh và 25 năm ngày mất ông Đào Phan, tức ĐàoDuyDếznh(1920-2021) nên viết đôi điều.
Chiều muộn ngày 28-3-1996,TBT báo QĐND Phong Hải bảo tôi:-Theo lệnh trên, tối nay, tôi và anh đến nhà ông Đào Phan vì ông vừa mất hôm qua, mai đưa tang, hỏi xem gia đình có cần báo ta giúp gì không.
Tôi quí trọng anh Phong Hải vì anh là người tình nghĩa, rất quan tâm việc hiếu hỉ của cán bộ trong cơ quan.Anh lại hỏi :Anh có biết ông này không. Tôi báo cáo anh:-Ông là TBT báo Quân du kích hợp nhất với báo Vệ quốc quân thành báo QĐND.Sởi dĩ tôi biết là do một lần gặp bà Phan Thị Bội Hoàn, một người phụ nữ trí thức kiều diễm,bà nói :-Ông nhà tôi tên là Đào Phan từng làm TBT báo Quân du kích tiền thân báo QĐ các anh.Về cơ quan, gặp ông Bùi Biên Thuỳ, Phó TBT, công tác lâu năm nhất ở báo thời đó, tôi hỏi ông về Đào Phan. Ông nói :-Ông này xét lại, ăn chơi tha hóa nên quân đội thải loại.
Hóa ra là thế nên các dịp báo QĐ kỷ niệm ngày thành lập không mời và không nhắc đến tên ông, trong khi mời và ca ngợi ông Lưu Văn Lợi, TBT báo Vệ quốc quân.
Tối hôm đó tôi theo anh Phong Hải đến nhà ông Đào Phan ở phố Đội Cấn. Anh Đào Phan Long, con trai ông tỏ ra xúc động khi TBT báo QĐ đến thăm .Anh và vài người trong nhà tiếp chúng tôi thân tình, cám ơn và không nhờ giúp đỡ gì vì gia đình tự lo được.Anh đưa tôi danh thiếp mới biết anh là Kỹ sư, Chủ tịch Hội Đúc -Luyện kim VN.Hiện nay đang là Chủ tịch Hội Cổ vật Thăng Long.
Mang vòng hoa của báo QĐND vào viếng ông Đào Phan xong, ra ngoài tôi ngạc nhiên thấy rất nhiều người cao tuổi cả quân đội và dân sự, ai cũng đầy Huân chương và Huy hiệu, 50,60 năm tuổi Đảng đến viếng, tỏ ra rất kính trọng và thương tiếc người quá cố. Trong khi đó lại có nhiều công an mặc sắc phục và thường phục xuất hiện ở nhiều nơi của nhà tang lễ xem xét mọi động thái. Sau tang lễ về cơ quan tôi miền man suy nghĩ và để ý tìm hiểu. May thay, năm 1997, theo Đoàn cán bộ Tiền khởi nghĩa thăm Mỹ để hội thảo về quan hệ Việt Mỹ thời kỳ 1944-1946,tôi gặp bàTrần Thị Minh Châu, vợ ông Đào Duy Kỳ là anh trai ông Đào Phan nên rõ mọi chuyện. Sau khi ở Mỹ về bà cho tôi xem bản sao thư ông Đào Phan gửi ông Lê Phước Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương măm 1992.Bà Châu rất nổi tiếng vì bà làm việc ở chiến khu Tân Trào thời kỳ 1944-1945 dưới sự chỉ huy của Cụ Hồ và được Cụ Hồ giao tổ chức bữa tiệc của Việt Minh đón Phái đoàn đồng minh chống phát xít (thực ra là toàn sĩ quan quân đội Mỹ )từ Côn Minh TQ sang Tân Trào .Không biết làm thế nào, bà đành đến hỏi Bác Hồ. Bác bảo cô vào bản xin đồng bào một con bê, đem thui, treo lên cành cây , mọi người xẻo ăn. Bà chuẩn bị đúng như vậy, kèm xôi trắng, hành, rau thơm, rượu ngô.Quả nhiên bữa tiệc này mọi người đều khen ngon.
Bức thư của ông Đào Phan gửi Ủy viên Bộ Chính trị Trưởng ban Tổ chức Trung ương gần như là thư đề nghị minh oan. Phần đầu ông vắn tắt về anh em ông đều là những người hoạt động cách mạng rất kiên cường từ những năm 1930,nổi bật là anh cả Đào Duy Anh, TBT Tân Việt cách mạng Đảng, một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản VN.(Ông Anh cũng bị ghi sổ vì nói về dân chủ tự do trên báo Nhân văn giai phẩm nên ông thôi tham gia chính trường, lao vào học thuật trở thành một nhà bác học rất uyên thâm ).Tiếp đó nói về ông :
-Tham gia cách mạng và vào Đảng năm 1936.
-Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Bí thư Thành uỷ Hà Nội
-TBT Nhà xuất bản và báo Quân du kích (sau này là Nhà xuất bản QĐND và báo QĐND )
-Xuất ngũ công tác nhiều cơ quan.
Phần cuối bức thư nêu những việc ông đề nghị cần có kết luận sáng tỏ đem lại danh dự cho ông.
Tìm hiểu kỹ mới thấy ông bị hàm oan từ một việc đơn giản nếu so bây giờ thì hầu hết cán bộ bị tù hoặc xử bắn hết do "ăn chơi tha hóa". Tội của ông chỉ có thể này.Tháng 7-1950,TCCT quyết định sát nhập hai tờ báo Quân du kích do ông là TBT và tờ Vệ quốc quân do ông Lưu Văn Lợi làm TBT thành tờ QĐND. (Cụ Hồ đặt tên này).Mọi người rất mừng nên nói cần bữa liên hoan chung. Hai ông Phan và Lợi trao đổi, ông Lợi đề nghị ông Phan làm trưởng ban tổ chức và cao hứng đặt tên là cuộc đại liên hoan. Chết là do chữ đại .Do ngẫu nhiên đúng hôm liên hoan thì ông Lưu Văn Lợi đi công tác vắng nhờ đó vô can và được làm TBT báo QĐND đầu tiên .
Số là liên hoan xong, ai đó lên gặp Chủ nhiệm TCCT mật báo là ông Đào Phan tổ chức đại tiệc tưng bừng. Chủ nhiệm TCCT tức giận quát lên:-"Trong khi đồng bào chiến sĩ đói ăn ,hy sinh gian khổ mà chè chén. Như vậy khác gì uống máu đồng bào chiến sĩ".Ông cho Đoàn kiểm tra và kiểm điểm ông Đào Phan sau đó ra quyết định kỷ luật.Sau này các vị dự liên hoan như ông Mai Văn Hiến thổ lộ :đó là bữa ăn mặn chưa bằng mâm cỗ, mấy ông không biết uống rượu nên uống vài chén đã say nôn thốc nôn tháo. Tai hại là lan truyền trong toàn quân câu ca:
Người no, no đủ, đã thèm
Thức ăn thừa mứa đổ chìm đáy sông .
Nên ai cũng nghĩ là ông tội to lắm, chẳng khác Đại tá Trần Dụ Châu ăn chơi sa đoạ bị tội tử hình. Còn tội xét lại của ông là trong một lần phổ biến nghi quyết về cách mạng chuyển sang giai đoạn mới giải phóng dân tộc, ông đã noi là cách mạng đánh đổ thực dân đế quốc, thì ngoài công nông là chủ lực cần liên kết với tư bản, địa chủ và cả những người nguỵ quân nguy quyền tiến bộ vào mặt trận chung bị qui cho là phi giai cấp , phi chuyên chính vô sản. Mặc dù không có án bằng giấy trắng mực đen nhưng vẫn là bản án vô hình.
Từ đó ông bị thất sủng, rồi bị đưa ra khỏi quân đội. Ông công tác một thời gian rồi về nghỉ trong án oan dai dẳng suốt đời.
Là người có tri thức và nghị lực, ông chuyên tâm nghiên cứu về sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.. Các công trình nghiên cứu của ông phải 10 năm sau khi ông mất mới được công khai trọn bộ. Đó là bộ ba tác phẩm :-Hồ Chí Minh -Danh nhân văn hóa
-Hồ Chí Minh một Nhân cách lớn
-Đạo Khổng trong văn Bác Hồ tổng cộng hơn 1200 trang.


Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

Ông Hoàng Tùng nhận xét về TBT Trường Chinh

 Ông Hoàng Tùng nhận xét về TBT Trường Chinh

Trần Nhung

Nhân Quốc hội khóa 15 sắp họp(20/7) nên viết đôi dòng về vị Chủ tịch Quốc hội lâu năm nhất là Chủ tịch Trường Chinh (1960-1981).
Theo ông Hoàng Tùng thì TBT Trường Chinh(1907-1988) là nhân vật thứ hai của cách mạng VN chỉ sau Chủ tịch Hồ Chí Minh ,xếp trên TBT Lê Duẩn.Ông hai lần là TBT(1940-1956 và năm 1986),Chủ tịch nước và Chủ tịch Quốc hội. Trong các vị lãnh đạo cao nhất, các con của ông đều học chính quy tại các trường đại học danh tiếng nhất trong nước và nước ngoài. Tất cả đều có kiến thức chuyên sâu và giỏi ngoại ngữ. Tuy nhiên đánh giá về ông chắc chắn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Lịch sử chính thức của Đảng chắc chưa làm hài lòng giới nghiên cứu vì chỉ nêu mặt tốt. Sau đây là vài nhận xét của ông Hoàng Tùng khi ông và tôi dừng chân trước nhà ở TBT Trường Chinh ở số 3 Nguyễn Cảnh Chân HN.
1-Ba cống hiến to lớn, đặc biệt xuất sắc.
Đó là Cách mạng Tháng Tám, Kháng chiến chống Pháp và đổi mới. Cụ Hồ lãnh đạo, chỉ đao chung còn TBT Trường Chinh là người lãnh đạo chỉ đạo cụ thể, trực tiếp. Ông có tầm tư duy chiến lược đi trước thời đại. Chỉ đao Cách mạng Tháng Tám ,ông viết xã luận Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta .Chỉ đạo kháng chiến ông viết sách Kháng chiến nhất định thắng lợi. Chi đạo và đề ra đường lối đổi mới, ông cho viết lại Báo cáo chính trị Đại hội 6 của Đảng ngược hẳn báo cáo chính trị duy ý chí do TBT Lê Duẩn chỉ đao. TBT Lê Duẩn từ trần vừa là tổn thất vừa là may mắn cho Đảng và đất nước .Nếu như TBT Lê Duẩn sống thêm vài năm nữa thì không biết vận mệnh của Đảng và đất nước sẽ ra sao.
2-Bảo thủ và chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc. Ngay cái tên Trường Chinh đã nói lên điều đó .Tên thật của ông là Đặng Xuân Khu, sinh ra ở cái nôi khoa bảng là làng Hành Thiện Nam Định có tới hơn 120 GS, Phó GS, TS... nên ông vừa là kẻ sĩ Bắc Kỳ vừa là Cộng sản. Nhiều tác phẩm chỉ đao Cách mạng VN giai đoạn 1951-1956 là chịu ảnh hưởng nặng nề của TQ mà Cải cách ruộng đất là điển hình nhất về sai lầm và chịu tổn thất đau thương nhất.
3-Bị sốc nên rơi vào giữ mình và yếm thế. Do phải chịu trách nhiệm chính về Cải cách ruộng đất, ông phải từ chức TBT lui về tuyến hai trong hàng lãnh đạo. Tiếp đó, ông là một trong ba vị cấp cao nhất tán thành chung sống hoà bình không tán thành sử dụng chiến tranh bạo lực nên bị gây sức ép và cô lập. Suốt thời gian dài ông an phận giữ mình, nên không có đột phá gì về lý luận và hoạt động cách mạng.
4-Dấu ấn bảo thủ trên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông bảo thủ trong nhiều việc mà rõ nhất là ngôn ngữ. Trong khi mọi người đều viết tên người không gạch nối thì ông vẫn kiên trì gạch nối đến cùng. Thế nên ông duyệt chữ khắc trên Lăng Bác Hồ là Lăng Chủ tịch Hồ -Chí-Minh ...
5-Xử lý oan ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phú về khoản chui.Nhưng cuối đời ông tự nhận là sai do nghe báo cáo sai sự thật và thiếu thông tin về những việc làm vì lợi ích của nhân dân của ông Kim Ngọc.
6-Vụt toả sáng trí tuệ ở cuối đời. Ở tuổi cổ lai hy, trí tuệ ông bừng sáng đến kỳ lạ.Chỉ nêu hai việc. Mùa hè năm 1983, trong lúc TBT Lê Duẩn đi chữa bệnh nước ngoài, Bí thư Thành uỷ tp HCM Nguyễn Văn Linh tổ chức cho ông nghe báo cáo về mọi mặt ở Tp HCM và tổ chức cho ông đi thực tế. Ông bừng tỉnh là đường lối kinh tế rất xa rời thực tiễn và duy y chí đi ngược quy luật.Ông thổ lộ với ông Mai Chí Thọ, Chủ tịch Tp HCM là ở Hà Nội họ báo cáo sai nhiều quá. Sau đó ông viết một bài phát biểu dài đọc trong hội nghị Trung ương về phát triển kinh tế có ba điểm ngược hẳn đường lối chung nên bị cho là tài liệu nguy haị cấm lưu hành công khai( ủng hộ kinh tế tư nhân, nhiều thành phần, bỏ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, thay đổi cơ cấu và quản lý... ).Chính ông là linh hồn đổi mới và phát hiện Nguyễn Văn Linh là TBT, tiếp tục giương cao ngọn cờ đổi mới.
Tiếc là do sơ xuất của bảo vệ, ông bị ngã
cầu thang và từ trần khi đang ở đỉnh cao trí tuệ đổi mới.
Ảnh các nhà báo chụp ảnh lưu niệm tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội VN thống nhất (tôi mặc quân phục đứng giữa TBT Trường Chinh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng ).

Ông Bùi Tín (1927-2018) -nhà bất đồng chính kiến

 Ông Bùi Tín (1927-2018) -nhà bất đồng chính kiến

Trần Nhung
Tôi có gần 10 năm làm việc gần ông Bùi Tín nên biết đôi điều về ông. Năm 1973,tôi về báo QĐND thì ông vừa thôi Trưởng phòng Thời sự để làm Phó TBT báo, nhận quân hàm Thượng tá sau khi hoàn thành tốt nhiệm vụ trong phái đoàn quân sự hỗn hợp bốn bên thi hành Hiệp định Paris về VN. Tuy nhiên phòng làm việc của ông cạnh phòng làm việc của chúng tôi nên ngày nào ông cũng ghé qua một vài lần chuyện trò vui vẻ.
- Một người lịch lãm, hấp dẫn. Ông nói nhẹ nhàng, lúc nào cũng có nụ cười hé mở tươi tắn. Chuyện của ông chỉ xoay quanh báo chí và các cuộc ông gặp cấp trên nên hấp dẫn lớp trẻ mới vào nghề báo.Ông lại hay gợi mở về kinh nghiệm về đề tài, cách thức viết báo rất chân tình, nên ngay lần gặp đầu tiên tôi đã quí mến và ngưỡng mộ ông.
-Ông được ưu ái và may mắn.Xuất thân danh gia vọng tộc, bố ông là cụ Bùi Bằng Đoàn, Thượng thư triều đình Huế, sau năm 1946 là Chủ tịch Quốc hội, từng họa thơ Đường với Cụ Hồ.Có người bố như thế, lại có tài nên ông rất được quân đội ưu ái. Tham gia quân đội nhưng ông không phải ra trận hay giao công việc khó khăn vất vả mà ở tuyến sau nên lành lặn qua các cuộc chiến tranh.Ông may mắn nên thăng tiến đều đặn nên mới hơn 40 tuổi đã là Thượng tá thời những năm 1970 là rất hiếm chứ không như sau này thăng cấp hàm rất nhanh như quí tử một vị Bộ trưởng Quốc phòng thích chơi xe sang
chưa thành thạo đội ngũ đã là đại tá.
-Hào hoa,thành thực. Ông đẹp trai, có tài, khéo nói nên được nhiều người đẹp yêu.Mặc dù ông có gia đình mơ ước với người vợ đoan trang ,dịu dàng, hai con một trai một gái nhưng gia đình nhiều khi không yên ấm.Khi ông chuyển sang báo Nhân Dân, ông để quên hòm sách và sổ tay ghi chép ở phòng tôi.Một lần dọn kho bán giấy báo cũ, mới phát hiện ra. Tôi thấy mấy cuốn sổ ghi chép và một bản tự kiểm điểm ở chi bộ.Ông tự nhận quan hệ nam nữ sai trái dù không ai biết. Ấy là một lần hành quân qua một bản ở chân Đèo Khế Tuyên Quang vào chiều tối, trong lúc dừng nghỉ vài giờ mà ông kịp cưa đổ một cô người Tày chồng đi vắng và xin nhận kỷ luật. Bí thư chi bộ là ông Hoàng Thế Dũng,một trong 4 trung đoàn trưởng đầu tiên của quân đội ta, một trí thức uyên bác, nên thông cảm cho qua .(Sau này ông Dũng dính án vụ án xét lại chống Đảng, bị tù hơn 10 năm, năm 2000,đến họp mặt, bị đột quỵ chết ngay trên bàn làm việc của tôi.Chuyện này cũng hay).Nhiều chuyện khó kể hết. Năm 1986,với tư cách Phó TB báo Nhân Dân, ông lên dự 10 năm thành lập Quân Đoàn 26 ở Cao Bằng.Đến giờ liên hoan, không thấy ông đâu vì ông và một nữ thanh tú đang say xưa giao lưu giữa ngàn xanh và chim muông ca hát.Tôi theo TBT báo QĐ(cùng đi còn có nhà báo Trần Hữu Tòng) lên dự nên được nhờ dẫn vài cảnh vệ vào rừng cạnh đó tìm ông nên thấy cảnh này. Ở báo Nhân Dân cũng lắm chuyện hay nhưng sếp Nhân Dân cũng hào hoa nên ông vô tư bình an.
- Nhà báo VIB.Ông quen biết rất nhiều lãnh đạo nên dễ dàng tiếp cận nhiều chuyện thâm cung và thuận lợi cho công việc làm báo. Cứ lãnh đạo là ông gọi cụ dù có ông bằng tuổi hay hơn ông vài tuổi.Ông Trần Đĩnh viết Đèn cù rất gai góc phải đưa sang Mỹ để in phác họa rõ nét tính cách ông Bùi Tín chỉ bằng một chi tiết.Khi TBT Lê Duẩn đến thăm báo Nhân Dân, có anh nhà báo tay ôm cuốn Lê nin dày cộp và cuốn Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng của TBT Lê Duẩn cứ lăng xăng đi cạnh TBT. Khi chụp ảnh dưới gốc cây đa, anh ta cố len lên đứng cạnh TBT Lê Duẩn .Trần Đĩnh không nêu tên nhưng ai cũng biết là Bùi Tín.
-Vì sao Bùi Tín bỏ chạy sang Pháp.Tiếp xúc nhiều với phương Tây, Bùi Tín sớm bất đồng chính kiến về nhiều vấn đề của Đảng và Nhà nước VN. Những năm 1990, Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, Bùi Tín cảm nhận VN cũng sẽ sụp đổ nhưng chưa thể nhanh. Vì thế ông bí mật liên hệ với một nhà báo Pháp tìm cách bỏ nước ra đi. Nhân
hội báo Nhân Đạo của Đảng cộng sản Pháp ông xin đi. Cùng đi có nhà văn Nguyễn Đình Thi.Để tiết kiệm, hai ông xin ở nhờ ĐSQ ta ở Paris .Xong hội báo, ông Thi về còn Bùi Tín ở lại xin cư trú chính trị. Vì sao ông ra đi. Theo tôi có ba lý do. Cái chính là bất đồng chính kiến. Hai là ông bất mãn do bị bị nhắc nhở sau vụ ông, ông Vũ Kỳ ,Thư ký của Bác Hồ và ông Bùi Đình Kế, Viện Lich sử Đảng tự ý công bố toàn văn Di chúc Bác Hồ đặt Bộ Chính trị vào việc đã rồi rất mất uy tín ( có hai điểm về Bác đề nghị miễn thuế nông nghiệp và hỏa táng trong Di chúc đã công bố năm 1969 bị cắt đi ).Ba là chuyện buồn gia đình.
-Có ý kiến cho ông thân ,thuộc phe Đại tướng Võ Nguyên Giáp.Ông chẳng thân ai và theo phe nào mà làm quen ai là lãnh đạo là vì ông .Sau khi ông bị điều vào làm Cục phó Cục Tuyên huấn TCCT,ông không thích vì tính ông tự do. Ngày đầu vào nhận chức, cảnh vệ không cho ông vào cơ quan vì đầu tóc bù xù, yêu cầu ông phải cắt tóc ngắn .Thế nên ở được vài tuần ông tìm cách xin chuyển công tác . Ông đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp được khuyên chấp hành sự phân công của tổ chức. Ông sang gặp ông Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Ông Thọ gọi điện cho ông Hoàng Tùng, TBT báo Nhân Dân ,xếp ông chức Phó TBT, phu trách tờ Nhân Dân chủ nhật.
-Tác phẩm chính diện, phản diện đều hay.
Bùi Tín có tài, kiến thức sâu rộng, giỏi ngoại ngữ, thành thạo viết được sách bằng tiếng Anh và Pháp. Thời trong nước ông có nhiều tác phẩm báo chí nổi tiếng,như các sách Dưới bóng tòa Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, Hỏi chuyện giặc lái Mỹ, Chuyện ở Đoàn quân sự hỗn hợp... Thời lưu vong gần 30 năm ở Pháp, ông viết Mặt thật, Hoa xuyên tuyết cùng nhiều tác phẩm khác. Gác sang bên chuyện chính trị, các sách này đọc rất hấp dẫn.
-Sống lưu vong vong giữa hai làn đạn .Ỏ Pháp ông sống trong nơm nớp lo sợ. Vì phe ta cho ông là kẻ thù, phản bộ.Phe Việt kiều chống cộng nghi ông là Việt cộng trá hàng để dò la họ. Việt kiều chân chính thì khinh miệt ông vì cho ông hèn nhát không dám ở lại trong nước đấu tranh.
-Chết trong cô đơn.Lúc lâm trọng bệnh một góa phụ Pháp chăm lo và được ông ủy thác lo mai táng. Tro cốt ông được lưu giữ ở một ngôi chùa của người Việt.. Con gái ông là Bùi Bạch Liên xin mang về VN mà chưa được..
Tôi có gặp ông ở Paris ngày 8-5-1995 khi ông đang ở bờ sông Sen gần tháp Ép phen
Hai anh em ngồi trong quán cà phê nói chuyện khá lâu.Khi chia tay,tôi bảo:-Thời ở báo QĐND ,bọn em mơ được như bác. Giá bác cứ ở lại mà thẳng thắn góp ý như TS Phan Đình Diệu thì có sao đâu. Ông cừơi rồi bắt tay chia tay, vẻ đượm buồn.
-