Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2024

Những kỷ niệm về Lê Duẩn

Những kỷ niệm về Lê Duẩn
Hồi ký của Trần Quỳnh
===
Năm 1960 tôi nhận được quyết định thôi Phó giám đốc trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương để qua làm Phó Văn phòng Trung ương Đảng. Việc đầu tiên tôi được Ban bí thư giao là trực tiếp làm việc với anh Ba Duẩn về vấn đề quan hệ quốc tế. Trước đó không bao lâu anh Ba dự cuộc gặp mặt một số Đảng cộng sản và công nhân ở Bucarest nhân Đại hội Đảng cộng sản Rumani. Theo báo cáo của Lê Duẩn với Bác và Bộ chính trị thì ở cuộc gặp mặt đã xảy ra tranh cãi gay gắt giữa đoàn đại biểu Đảng cộng sản Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình cầm đầu với đoàn đại biểu Đảng cộng sản Liên Xô do đích thân Tổng bí thư Khơ-rút-sốp cầm đầu. Khơ-rút-sốp lên án Mao Trạch Đông và Đảng cộng sản Trung Quốc là đi chệch chủ nghĩa Mác Lênin, chống lại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và yêu cầu các Đảng có mặt khai trừ Đảng cộng sản Trung Quốc ra khỏi phong trào. Tại cuộc gặp mặt các Đảng tham gia đều tán thành Khơ-rút-sốp, chỉ riêng Lê Duẩn thay mặt Đảng ta không đồng ý. Thành thử đề nghị của Khơ-rút-sốp không nhận được sự nhất trí và không được thông qua. Cần lưu ý rằng trong cuộc gặp mặt Bucarest, cả Triều Tiên lẫn Anbani đều ủng hộ Khơ-rút-sốp. Nghe Lê Duẩn báo cáo diễn biến cuộc gặp mặt Bucarest, Bác Hồ rất buồn. Bác dặn các anh trong Bộ chính trị không được nói tình hình không hay này cho ai biết cả, ngay cả đối với các Ủy viên Trung ương Đảng. Bác nói Bác hy vọng một ngày nào đó những "bất đồng" giữa các Đảng, đặc biệt là giữa Liên Xô và Trung Quốc sẽ được khắc phục, Liên Xô và Trung Quốc sẽ đoàn kết trở lại. Liên Xô và Trung Quốc đoàn kết thì các Đảng khác sẽ đoàn kết.
Nhớ lại thời kỳ từ cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1960, Đảng ta và nhân dân ta ngày đêm để hết tâm trí lo đánh thắng giặc Pháp và sau Hiệp nghị Genève 1954, để hết tâm trí lo xây dựng miền Bắc, đấu tranh chống địch ở miền Nam, thống nhất tổ quốc. Không còn thì giờ và cũng không có điều kiện để theo dõi tình hình nội bộ Liên Xô và Trung Quốc. Chúng ta coi Liên Xô và Trung Quốc như những ông thánh không thể sai lầm (như người công giáo nói Giáo hoàng là "Infaillible"). Chúng ta mong mọi việc đều êm đẹp, trong các nước ấy và trong quan hệ giữa các nước ấy. Nói đến sai lầm của Liên Xô hay là của Trung Quốc là một điều tối kỵ. Chả thế mà trong hội nghị Bộ chính trị Trung ương khóa II tại Việt Bắc năm 1954 để phổ biến chủ trương sẽ ký hiệp nghị Genève, khi các anh em Khu 5 và Nam bộ không đồng tình lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tập kết tạm thời quân đội ta và Pháp thì các đ/c Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Tố Hữu đưa ra một luận điểm để trấn an: "Vĩ tuyến 17 là ý kiến của Liên Xô và Trung Quốc, hai bộ óc vĩ đại sáng suốt nhất của thời đại", chúng ta nên chấp hành thôi.
Cú sốc lớn đầu tiên đối với Đảng ta là tại Đại hội 20 Đảng cộng sản Liên Xô Khơ-rút-sốp chống sùng bái cá nhân, báo cáo công khai sai lầm và độc ác của Stalin, người mà khi chết chúng ta đã làm lễ truy điệu khắp nước trong các vùng giải phóng cũng như trong các chiến khu: nước mắt dầm dề. Về Đại hội 20, chúng ta hầu như chấp nhận sự đánh giá của Trung Quốc: Stalin công 7 tội 3. Chúng ta cũng mới nghĩ rằng bất đồng của 2 nước lớn về đánh giá Stalin là do Trung Quốc cho rằng chống sùng bái cá nhân Stalin là gián tiếp phê phán Trung Quốc là sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông.
Sau đó thì đối với Bộ chính trị và Trung ương Đảng và cả Đảng ta, vấn đề được xếp lại một bên, để tập trung lo cho cuộc đấu tranh sinh tử gay gắt giải phóng Miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc.
Về phần tôi, trong những năm đi nghiên cứu học tập tại Viện Mác Lênin của Trung Quốc ở Bắc Kinh và qua trò chuyện hàng ngày với các cố vấn Trung Quốc ta mời sang giúp ý kiến về quản lý trường và giảng lịch sử Đảng cộng sản Trung Quốc tại trường Nguyễn Ái Quốc, tôi hiểu được một số bất hòa, khó chịu lẫn nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc. Trong cuộc đấu tranh của Đảng cộng sản Trung Quốc chống Quốc Dân Đảng Trung Quốc và chống Nhật, Trung Quốc cho rằng Stalin có những chỉ đạo sai lầm nghiêm trọng làm tổn hại lớn đến Đảng cộng sản Trung Quốc: đó là những sai lầm hữu khuynh của Trần Độc Từ, Trương Quốc Đào, và đặc biệt là những sai lầm "tả khuynh" của Vương Minh, Lý Lập Tam, làm cho Đảng cộng sản Trung Quốc mất sạch căn cứ địa Tỉnh Cương Sơn và phải làm cuộc Vạn Lý Trường Chinh lên Diên An. Những người ấy là do quốc tế cộng sản, về thực chất là do Stalin, chỉ định làm Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc và đường lối sai lầm của họ chính là do Stalin chỉ thị. Lại nữa trong suốt cuộc chiến tranh chống Nhật, Liên Xô chỉ chi viện cho Quốc Dân Đảng, chỉ sau này khi giải phóng Mãn Châu, Liên Xô mới trao vũ khí tịch thu được của đội quân Quan đông của Nhật cho Đảng cộng sản Trung Quốc. Sự đánh giá của Trung Quốc về Stalin 7 công 3 tội, trong 3 tội có tội đối với Đảng cộng sản Trung Quốc. Chưa nói đến việc Liên Xô mặc nhiên hợp pháp hóa việc Nga hoàng đã chiếm một phần rất lớn lãnh thổ Trung Quốc, theo các Hiệp định bất bình đẳng với các Hoàng đế Trung Quốc. Năm 1950 sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Stalin mời Mao Trạch Đông sang mạc Tư Khoa giảng hòa về những chuyện cũ và để bù lại, Liên Xô đã có sự viện trợ kinh tế ồ ạt để cho Trung Quốc phát triển nhanh để "trò sẽ hơn thầy" (lời của Stalin nói với Mao Trạch Đông). Quan hệ giữa hai nước sau cuộc gặp Stalin-Mao tiến triển tốt đẹp. Với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc đẩy mạnh công nghiệp hóa, xây dựng nhanh chóng một loạt công trình công nghiệp nặng then chốt: nhiều nhà máy cơ khí nặng như nhà máy kéo Thẩm Dương công suất 100 ngàn chiếc 45 ngựa/năm. Nhà máy ôtô tải Trường Xuân công suất 100 ngàn chiếc/năm. Nhà máy luyện cán thép An Sơn 4 triệu tấn/năm. Các nhà máy công cụ nặng Thẩm Dương và hàng loạt nhà máy lớn khác, Stalin nói với Mao là Liên Xô đã trao cho Trung Quốc những kỹ thuật tiên tiến hơn những nhà máy hiện có của Liên Xô với mong mỏi là Trung Quốc tiến nhanh hơn Liên Xô (học trò hơn thầy như trên đã nói). Có lẽ nên kể thêm một vài công trình khác: cầu xe lửa và xe hơi hai tầng bắc qua sông Trường Giang (kiểu như cầu Thăng Long ta bây giờ), khảo sát để thiết kế và xây dựng nhà máy thủy điện Tam Môn Hiệp lớn nhất thế giớiv.v... Xem sự hợp tác giữa hai nước rộng lớn như vậy, chúng ta ai còn hoài nghi gì nữa về mối quan hệ giữa hai ông anh lớn?
Nhưng vào khoảng những năm cuối của thập kỷ 50, một loạt sự kiện quan trọng xảy ra ở Trung Quốc trong đó đáng kể nhất là cuộc đại nhảy vọt và việc thành lập phổ biến các công xã nhân dân do Mao Trạch Đông khởi xướng. Những người thuộc thế hệ chúng tôi không ai quên việc Trung Quốc đăng báo Trung Quốc đã đạt được năng xuất lúa 40, 50 tấn/héc-ta/vụ bằng phương pháp kỹ thuật cấy thật dày. Báo đăng các bức ảnh cả đoàn người đứng trên ruộng lúa, lúa dày nhiều bông và hạt đến mức người đứng trên lúa nhảy múa mà lúa không đổ (đó là những hình ảnh giả tạo, họ nhổ và xếp đứng khít nhau các khóm lúa đã chín giống như một số lúa địa phương ở ta xếp lúa để đưa trâu lên đạp cho hạt lúa rụng ra). Mao nói là với năng suất đạt được như vậy, chẳng bao lâu Trung Quốc sẽ thừa lương thực đến mức mà phải chia đất ruộng ra làm ba phần: 1/3 trồng lúa, 1/3 trồng rừng, 1/3 làm vườn hoa. Một hình ảnh khác là cả nước thi đua làm sắt thép, nhà nhà làm sắt thép, công xã làm sắt thép, cơ quan làm sắt thép, không có than thì lấy cả thóc làm chất đốt. Trung Quốc sẽ đạt sản lượng hàng trăm triệu tấn sắt thép không bao lâu nữa. Mao nói rằng kỹ thuật của Liên Xô là kỹ thuật tư bản, kỹ thuật của Trung Quốc là kỹ thuật cộng sản. Trung Quốc sẽ tiến vào giai đoạn cộng sản chủ nghĩa trước Liên Xô, công nhân Trung Quốc không tuân thủ các qui trình qui phạm kỹ thuật do chuyên gia Liên Xô lập ra theo mẫu của Liên Xô, họ mở các phong trào thi đua áp dụng kỹ thuật cộng sản giữa công nhân Trung Quốc và chuyên gia Liên Xô. Kết quả thi đua công nhân Trung Quốc luôn luôn được cờ đỏ, chuyên gia Liên Xô luôn luôn phải nhận cờ vàng và cờ xanh.
Trước tình hình trên, trong nhiều phát biểu, Khơ-rút-sốp nói cái chủ nghĩa cộng sản mà Trung Quốc định đi tới trước Liên Xô là chủ nghĩa cộng sản mặc quần đùi và ăn cháo, Khơ-rút-sốp phê phán công xã nhân dân và đại nhảy vọt là chủ nghĩa phiêu lưu tiểu tư sản. Tệ hơn nữa là trong một buổi chiêu đãi có đại sứ Trung Quốc dự, Khơ-rút-sốp đã nói Mao là ông già lẩm cẩm rồi, nên nghỉ đi thôi. Kho-rút-sốp đã đụng đến cái tối kỵ của Trung Quốc. Vì đối với Trung Quốc, có thể chịu được sự nhận xét này nọ nhưng đụng đến Mao là không thể tha thứ được. Thế là xảy ra chuyện Trung Quốc đuổi và Liên Xô rút chuyên gia về nước. Rồi Liên Xô xóa án xét lại cho Nam Tư do Stalin phán quyết, thiết lập lại quan hệ về cả mặt Đảng và Nhà nước với Nam Tư. Trung Quốc phản kích lại bằng bản tuyên ngôn dài "Bàn về chuyên chính vô sản và chủ nghĩa xét lại Nam Tư". Điều khá lạ lùng là trong các ủy viên Trung ương Đảng ta, ngay cả trong Bộ chính trị, nếu không phải là tất cả, thì hầu hết đều không hay biết gì về tình hình "bất hòa" trên đây giữa hai Đảng lớn nhất. Xin trở lại với năm 1960, với cuộc gặp mặt Bucarest. Không đạt được mục đích trong cuộc gặp mặt Khơ-rút-sốp đề nghị triệu tập vào mùa thu năm 1960 tại Mạc Tư Khoa một hội nghị của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao gồm tất cả các Đảng cộng sản và công nhân để vạch ra đường lối của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đề nghị này được các Đảng có mặt tán thành. Hội nghị gồm hai giai đoạn, giai đoạn trù bị để thảo văn kiện và giai đoạn chính thức để thông qua văn kiện. Bộ chính trị quyết định cữ một đoàn đi dự hội nghị Mạc Tư Khoa gồm 3 người: Lê Duẩn bí thư thứ nhất Trung ương Đảng, Trường Chinh và Nguyễn Chí Thanh ủy viên Bộ chính trị, 3 cây lý luận cừ khôi nhất của Đảng lúc bấy giờ. Lê Duẩn lại là người có tài ngoại giao khôn khéo nữa. Thư ký của đoàn gồm 2 người: Trần Quang Huy, ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa III, chủ nhiệm tạp chí lý luận của Đảng "Học Tập" và tôi (Trần Quỳnh). Sau khi nghe Bác dặn dò, chủ yếu là phải giảng hòa để đoàn kết Liên Xô và Trung Quốc, đoàn lên đường.
Vào thời điểm bấy giờ phong trào cách mạng Miền Nam đang bước sang một giai đoạn mới. Dưới ánh sáng của NQ 15 (khóa II) của Trung ương Đảng, (mà cốt lõi là giải phóng Miền Nam không thể thực hiện bằng Tổng tuyển cử trong cả nước như Hội nghị Genève năm 1954 qui định, mà phải thực hiện bằng con đường cách mạng bạo lực), nhân dân Miền Nam bị trói buộc và căm thù bị dồn nén lại mấy năm trời bởi chủ trương chờ tổng tuyển cử, nay tư tưởng được giải phóng, đã vùng lên với khí thế xung thiên, nhất tề vùng dậy phá tan ngụy quyền làm chủ ấp xã trên qui mô lớn, bằng bạo lực chính trị là chính có kết hợp ở một mức độ nào đó với bạo lực vũ trang. Ở đây nhân tiện xin nói thêm là NQ 15 là do Lê Duẩn khởi thảo dựa trên "đề cương cách mạng Miền Nam" mà Lê Duẩn đã cùng thảo luận và bàn bạc với các đồng chí lãnh đạo ở Miền Nam. Khi Lê Duẩn còn sống, trong Đảng ai cũng biết sự thật là như thế, không thấy ai nói khác, và đó là sự thật. Nhưng nực cười thay sau khi Lê Duẩn đã qua đời, có người tự vỗ ngực tuyên bố NQ 15 là sản phẩm trí tuệ của mình, chúng ta có dịp nói kỹ vấn đề này sau.
Đoàn chúng tôi lên đường đi Mạc Tư Khoa theo tuyến Bắc Kinh - Iếc-kút - Mạc Tư Khoa. Lúc bấy giờ đi Mạc Tư Khoa từ Việt Nam bằng máy bay phải qua Bắc Kinh, chưa có tuyến bay khác. Đi bằng máy bay cánh quạt loại nhỏ IL14. Phải mất một ngày mới đến Bắc Kinh. Lần đầu tiên đi máy bay tôi bị say máy bay nôn thốc nôn tháo đến Bắc Kinh không ăn uống gì được, nằm ngủ li bì. Vài hôm sau từ Bắc Kinh đi Iếc-kút cũng bằng máy bay IL14, có ghé Ulan-Bato. Quãng đường từ Iếc-kút đến Mạc Tư Khoa đi bằng máy bay Tu 104, máy bay phản lực chở khách đầu tiên trên thế giới. Tu 104 bay rất nhanh và rất êm. Chiều đã đến Mạc Tư Khoa (nửa đường có ghé qua Omsk). Lúc bấy giờ từ Iếc-kút đến Omsk, dưới đất toàn là một màu xanh đậm của rừng thông bạt ngàn, đôi chỗ xen lẫn với những đám rừng bạch dương (Trung Quốc gọi là bạch hoa dương), thân trắng. (Năm 1986 có dịp bay từ Mạc Tư Khoa đi Viễn Đông Liên Xô, tôi thấy rừng thông không còn bao nhiêu, thế mới biết sức phá rừng ghê gớm của con người).
Lần đầu tiên tôi sang một nước Châu Ấu (tuy Liên Xô là nước Ấu-Á, nhưng Mạc Tư Khoa ở phần Châu Ấu). Tôi muốn xem người Châu Ấu sống ra sao, ăn ở như thế nào. Dọc đường tôi chăm chú nhìn đường đã hầu như vắng bóng người và xe cộ, hai bên đường nhà cao tầng liền kế san sát, cửa sổ có ánh điện, tầng trệt kẻ các biển mà tôi chưa hiểu.
Tôi quên mất tên người đón đoàn chúng tôi ở sân bay. Đ/c ấy đã quen Lê Duẩn vì đã gặp mấy lần ở Mạc Tư Khoa và Bucarest. Người hướng dẫn đoàn chúng tôi là Zelenxốp, chuyên viên Ban đối ngoại Trung ương Đảng. Anh ấy nói tiếng Việt chưa tốt lắm (từ câu, chữ cho đến phát âm). Anh ấy lúc bấy giờ đang làm luận án phó tiến sĩ kinh tế về đề tài Việt Nam. Đoàn chúng tôi được đưa về ở một biệt thự trong rừng, phía tây thành phố, cách trung tâm độ 20km (gọi là biệt thự bên kia sông). Sau này trong những chuyến đi Liên Xô khác, tôi ở đấy mấy lần). Biệt thự hai tầng khá xinh, có tiền sảnh, phòng khách, phòng ăn, nhà bếp, phòng chiếu phim và chơi bi-a và nhiều phòng ở. Rừng Mạc Tư Khoa về mùa thu thật là đẹp. Lá cây thi đua khoe màu lộng lẫy, từ màu vàng đến màu đỏ, qua nhiều nấc trung gian của các cây phong, cây sồi, cây bạch dương, xen lẫn với màu xanh của những cây thông quanh năm lá không rụng. Trong rừng quanh nhà có nhiều lối đi tráng nhựa. Đi dạo trong rừng thật là tuyệt. Trong nhà sưởi ấm, ra vườn dạo chơi thấy mát, trong người khoan khoái dễ chịu vô cùng.
Ồn định xong sinh hoạt, chúng tôi nhận được dự thảo văn kiện (do phía Đảng chủ nhà - Đảng cộng sản Liên Xô soạn thảo) bằng tiếng Nga và đã được dịch sang tiếng Việt. Đó là bản "dự thảo về tuyên bố của hội nghị các Đảng cộng sản và công nhân". Lê Duẩn đề nghị 2 anh Trường Chinh và Nguyễn Chí Thanh cố gắng xem kỹ và đặc biệt là hai thư ký phải xem thật kỹ.
Tôi biết là ra đi để đến dự hội nghị, đối với Lê Duẩn, cuộc cách mạng đang lên mạnh thành phong trào đồng khởi ở Miền Nam là nỗi lo âu canh cánh bên lòng. Trước khi đi, anh đã dặn kỹ các đồng chí trong ban bí thư thuờng xuyên điện cho anh biết tình hình trong nước, đặc biệt là tình hình Miền Nam. Đêm nằm anh vẫn suy nghĩ về Miền Nam, sáng dậy gặp chúng tôi, câu chuyện anh nói đầu tiên là những suy nghĩ mới về Miền Nam đã đến với anh đêm hôm qua, tôi hiểu điều đó chứng tỏ anh ngủ rất ít và có thể không ngủ. Tuy vậy người anh rất tỉnh táo, và anh gặp chúng tôi là để giải bày tâm sự, để đối thoại nhưng thực ra là độc thoại, để thông qua đối thoại mà định hình ý nghĩ của anh. Tôi không nói về Bác Hồ. Tôi muốn nói có một người khác cả ngày lẫn đêm, lúc ăn cũng như lúc ngủ, không bao giờ không nghĩ đến Miền Nam. Thời điểm lúc bây giờ, cũng như mấy năm trước đó và mãi đến sau này, cho đến ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, con người ấy, không một phút nào - tôi nói một phút là đúng nghĩa 1 giây nhân sáu mươi, đúng nghĩa 60 giây, không lo lắng cho Miền Nam, phấn khởi trước mọi thắng lợi, lòng đau như cắt trước mọi thất bại và tổn thất tạm thời. Nhưng không bao giờ người ấy phô trương, dàn cảnh vui buồn, mừng rỡ và đau khổ của mình, dàn cảch chăm lo đến cách mạng Miền Nam cho người ta quay phim chụp ảnh đăng báo. Người đó là Lê Duẩn. Trái với một số người, Lê Duẩn ít khi, nếu không phải là không bao giờ, cố ý bố trí chụp ảnh anh để tuyên truyền. Sau này khi hiểu về anh nhiều hơn, tôi thấy với cương vị là người được Bộ chính trị và Bác Hồ phân công phụ trách chỉ đạo cuộc cách mạng Miền Nam, anh là người rất quyết đoán, những chủ trương đối với cách mạng Miền Nam mà anh cho là đúng, anh kiên trì đến cùng, đến mức như "cứng đầu". Anh thường nói với tôi: cái gì có lợi cho cách mạng thì khó mấy mình cũng làm, ai phản đối, thậm chí chửi mình, mình cũng cứ làm. Làm cách mạng là vì sự nghiệp cách mạng mà làm, đâu có phải vì lợi ích và danh vọng cá nhân. Có khá nhiều người cho rằng Lê Duẩn hay thay đổi ý kiến, cái đó đúng. Vì anh rất biện chứng, anh nắm phép biện chứng rất vững. Đầu óc anh luôn luôn suy nghĩ, luôn luôn thấy cái mới. Hôm nay nói nói thế này, đêm nằm suy nghĩ lại thấy ý hôm qua chưa đúng, chưa toàn diện, sáng ngày sau anh nói khác lại ngay. Có chủ trương rồi, nhưng tình hình thay đổi, anh phát biểu lại ngay. Anh không cố chấp. Anh hay lấy Lênin làm ví dụ, nhất là thời gian từ cách mạng tháng 2 đến cách mạng tháng 10 năm 1917. Lênin đã thay đổi khẩu hiệu đấu tranh mấy lần. Tháng 2: "Toàn bộ chính quyền về tay Xô viết". Tháng 7: rút lại khẩu hiệu ấy đề ra cách mạng XHCN bằng bạo lực. Tháng 8: khẩu hiệu tích cực chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 9: lại đưa ra khẩu hiệu "tất cả chính quyền về tay Xô viết". Tháng 10: khởi nghĩa vũ trang. hay đang làm kinh tế cộng sản thời chiến, chuyển sang chính sách tân kinh tế (NEP). Những vấn đề này sau này tôi sẽ có dịp nói kỹ. Bây giờ ta trở lại với công việc ở biệt thự ngoại ô Mạc Tư Khoa. Cả đoàn nhận được tài liệu hội nghị độ một ngày. Sáng sớm hôm sau, anh Ba vào phòng anh Huy và tôi (2 chúng tôi ở chung một phòng 2 giường, còn các anh thì mỗi người một phòng). Anh hỏi hai chú đọc xong tài liệu chưa? Chúng tôi chưa kịp trả lời thì anh nói ngay: Chúng ta dự hội nghị này phải đạt cho được hai mục đích: một là có một văn kiện của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có lợi cho cuộc cách mạng Miền Nam của ta, điều đó rất quan trọng, vì đấy là tiếng nói chung của tất cả những người cộng sản trên thế giới, trong đó có 2 nước lớn. Hai là phải chận đứng ý đồ phân liệt, vì điều đó rất có hại cho ta và gây thiệt hại khó lường cho cách mạng thế giới. Tôi xem qua thấy văn kiện không đạt được 2 điều ấy. Vậy hai chú phải đọc cho thật kỹ và chẩn bị ý kiến cho đoàn ta phát biểu trước hội nghị. Rồi anh chuyển sang nói về cách mạng Miền Nam, anh phân tích toàn diện cuộc đấu tranh ở Miền Nam, từ lực lượng so sánh đến phương pháp đấu tranh, và anh nói một cách cương quyết: Ta nhất định thắng Mỹ - Diệm. Anh nói tiếp về cách đánh giá và thái độ của các nước lớn và các Đảng ở các nước tư bản đối với cuộc cách mạng của chúng ta. Họ nghĩ ta là nước nhỏ, cách mạng nước ta không phải là một nhân tố đáng kể trong các nhân tố quan trọng quyết định chiều hướng phát triển của thế giới. Ta nghĩ rằng chiến thắng Điện Biên Phủ của ta đã đánh một đòn trí mạng vào chủ nghĩa thực dân cũ và mở đầu quá trình tan rã của nó. Nhưng Liên Xô và Trung Quốc thì nghĩ khác. Liên Xô cho ta thắng được là nhờ vũ khí, khí tài của Liên Xô, còn Trung Quốc thì còn cho rằng thắng lợi của ta đạt được còn là do họ chỉ huy dùm cho ta. Ta thắng chỉ đỡ cho họ một mối lo thôi. Nhất là đối với Liên Xô và các Đảng ở các nước tư bản phát triển, họ cho rằng chính sự lớn mạnh của Liên Xô, của phong trào các nước tư bản lớn mới là những nhân tố có tác dụng quyết định nhất.
Chúng tôi được thông báo là tổng số các Đảng đến tham dự hội nghị là 81. Vắng mặt là những Đảng hoạt động bí mật đặc biệt là trong các nước đang phát triển. Cầm đầu các đoàn là các đồng chí đứng hàng thứ nhất, thứ hai của Đảng. Cầm đầu đoàn Liên Xô là Xuxlốp, đoàn Trung Quốc là Đặng Tiểu Bình, đoàn Pháp là Jacques Duclos (hay Gaston Plissonnie). Những nhân vật nổi bật khác là Ponomanov (Liên Xô), Khang Sinh (Trung Quốc). Hội nghị họp tại phòng lớn (phòng khánh tiết) của cung điện Kremlin, một căn phòng thật mênh mông và lộng lẫy. Phía các cửa sổ là phía quay ra ngoài trời, các cửa sổ đều buông rèm dày 2, 3 lớp, ánh sáng bên ngoài không lọt vào được. Tuy vậy, phòng họp được các chùm đèn treo khổng lồ và các đèn gắn vào các cột và vào các phía tường chiếu sáng như cảnh ngoài trời, rất sáng nhưng không chói mắt. Một hệ thống thông gió làm cho không khí phòng luôn luôn mát mẽ. Các bàn họp bố trí theo hình vuông. Dãy trước là bàn của các trưởng đoàn và đoàn, dãy sau là của các thư ký, các nhân viên khác tháp tùng các đoàn. Các đoàn viên chính thức, các thư ký đi từ nhà ở đến chỗ họp bằng xe Hải Ấu. Đó là xe mới nhất bấy giờ của Liên Xô, thay đổi tốc độ tự động. Đoàn ta đi một xe là vừa. Ghế cuối cùng đủ 3 anh, 2 ghế giữa đó là 2 thư ký của đoàn và phiên dịch. Phía trước bên cạnh lái xe là Zelenxốp. Đường đi được bố trí khá khoa học. Bằng điện thoại, công an đã kịp thời biết xe đoàn sắp đến ra lệnh cho các chốt ngã tư bật đèn xanh. Thành thử, từ nhà đến Kremli, gặp toàn là đèn xanh. Những nơi đi ngược chiều cũng bật đèn xanh cho đoàn đi. Từ nhà ra đi chỉ vèo mười mấy phút là đến nơi. Không bao giờ đến sớm và muộn. Khi tôi nói thời tiết mùa thu Mạc Tư Khoa rất đẹp là tôi muốn nói về rừng và cây. Còn trời thì luôn luôn đầy mây, lại mưa, mưa không lớn nhưng mưa cả ngày giống như cuối xuân đầu hè ở Hà Nội.
Mỗi ngày họp suốt từ 10 giờ sáng đến 9-10 giờ đêm. Ắn giữa buổi và ăn trưa tại điện Kremli. Tôi quên nói là bên cạnh phòng họp, có nhiều phòng ăn nhỏ. Ở đây luôn luôn có người phục vụ. Có đủ loại thức ăn. Nguội có, nóng có. Thịt có, cá có. Trái cây đủ loại. Rượu, cà phê, chè, nước suối. Đang họp thấy khát hoặc đói có thể sang phòng ăn, vừa ăn vừa thư giản. Hội nghị kéo dài gần một tháng. Ngày nào cũng giống ngày nào, đi họp trời mới sáng, khi rời phòng họp tưởng còn ban ngày, hóa ra màn đêm buông xuống đã lâu, thành phố từ lâu đã lên đèn, mình ngồi trong phòng họp, mất cảm giác về ngày và đêm. Mấy hôm đầu buồn ngủ, nhưng sau quen dần.
Xuxlôp khai mạc cuộc họp. Chào mừng các đại biểu, giới thiệu thành viên của từng đoàn. Cám ơn tất cả đã đến dự. Xuxlôp nói là Liên Xô, phía chủ nhà có dự thảo văn kiện trình đại hội, Đảng nào có ý kiến gì, có tài liệu gì khác thì xin trình cho đại hội xem xét. Các đoàn lần lượt phát biểu ý kiến, đều tán thành lấy tài liệu của Liên Xô làm cơ sở để thảo luận. Các đoàn cử đoàn Liên Xô làm chủ tịch hội nghị, điểu khiển cuộc thảo luận. Cách thảo luận là lấy nguyên vẹn từng đoạn một của dự thảo, rồi từng đoàn nêu lên ý kiến của mình, nêu ra phương án cụ thể sửa chữ, hoặc sửa cụm từ, câu hoặc cả đoạn, nghĩa là không phải tranh luận trực tiếp từng quan điểm mà tranh luận quan điểm qua cách sửa từ, cụm từ và câu. Nói chung là thế nhưng có lúc lại trực tiếp tranh luận về quan điểm, phê phán lẫn nhau về quan điểm. Sau khi đoàn phát biểu, ban thư ký của hội nghị (Liên Xô phụ trách) in ngay cả đoạn mà đoàn đề nghị sửa đổi, phát ngay cho mỗi đoàn xem. Sau khi tất cả các đoàn phát biểu xong, đoàn Liên Xô phát biểu và dự thảo lại đoạn văn ấy có tính đến các ý kiến của các đoàn và đưa ra hỏi ý kiến của các đoàn. Nếu tất cả đồng ý thì cho qua, nếu có ý kiến khác thì tiếp tục thảo luận lại những ý khác nhau ấy. Có những cụm từ, đoạn văn thảo luận đi thảo luận lại mãi mấy buổi liền. Cuối cùng không nhất trí được thì gác lại, để về sau thảo luận lại, và nếu cũng không nhất trí được thì đưa ra hội nghị chính thức các nhà lãnh đạo cao nhất của các Đảng. Nguyên tắc của hội nghị là phải đạt được sự nhất trí chứ không phải biểu quyết theo đa số để thông qua.
Những vấn đề mà văn kiện của Liên Xô đưa ra để thảo luận là: Nhận định về thời đại; Vấn đề chiến tranh và hòa bình; Vấn đề tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước; Vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; Vấn đề đấu tranh của giai cấp công nhân; Vấn đề phong trào giải phóng dân tộc; Vấn đề quan hệ giữa các Đảng cộng sản và công nhân; Vấn đề xét lại và giáo điều.... Điều đáng chú ý nhất là văn kiện của Liên Xô xem rất nhẹ vai trò của đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc của đế quốc, đối với tiến trình phát triển của xã hội loài người trong thời đại hiện nay. Văn kiện quá cường điệu vai trò của vũ khí hạt nhân, sự lo sợ về nguy cơ chiến tranh bằng vũ khí hạt nhân, nhấn mạnh sự bức thiết của công cuộc bảo vệ hòa bình; vì sự xuất hiện khả năng hủy diệt của vũ khí hạt nhân. Mặt khác cũng vì một cuộc chiến tranh bằng vũ khí hạt nhân sẽ hủy diệt cả nhân loại, một điều mà ai cũng muốn tránh cho nên lần đầu tiên đã xuất hiện khả năng ngăn ngừa chiến tranh. Yếu tố vũ khí hạt nhân làm nản lòng những kẻ hiếu chiến được nêu lên một cách nỗi bật, trong lúc đó tác dụng đẩy lùi nguy cơ chiến tranh của cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc không được coi trọng đúng mức. Các cuộc chiến tranh dù là cục bộ cũng có thể phát triển thành chiến tranh hạt nhân hủy diệt cho nên các nước có chế độ xã hội khác nhau chỉ có một con đường là chung sống hòa bình. Đối với các cuộc chiến tranh cách mạng cũng vậy, chiến tranh dù nhỏ cũng sẽ phát triển thành chiến tranh lớn, chiến tranh hạt nhân, một đốm lửa có thể đốt cháy cả cánh đồng, cho nên cần hết sức tránh dùng phương pháp đấu tranh vũ trang. Vả lại với sự thay đổi lực lượng so sánh trên thế giới, với sự lớn mạnh của cộng đồng các nước XHCN, với việc Mỹ mất độc quyền về vũ khí hạt nhân, với cuộc cách mạng khoa học mới mà hệ quả là sự phát triển ngày càng cao của các lực lượng sản xuất đem đến những thay đổi căn bản trong các nước tư bản v.v... đã xuất hiện khả năng quá độ hòa bình lên CNXH trong lòng các nước tư bản. Vì những lẽ trên đây, giữa các nước thuộc cộng đồng XHCN và các nước tư bản vấn đề ai thắng ai sẽ giải quyết bằng thi đua hòa bình, xây dựng kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo ra tính ưu việt chế độ, chế độ nào trong cuộc thi đua ấy tỏ ra ưu việt hơn sẽ cuốn hút được đa số nhân dân và sẽ chiến thắng.
Rõ ràng văn kiện của phía Liên Xô là một cương lĩnh thủ tiêu đấu tranh giai cấp ở toàn quyền, trong phạm vi từng nước cũng như trong phạm vi toàn thế giới, là một cương lĩnh của chủ nghĩa xét lại.
Và để bảo vệ cho quan điểm xét lại này, trong văn kiện của Liên Xô có một mục nói về nguy cơ của chủ nghĩa giáo điều trong phong trào cộng sản quốc tế. Trong hội nghị khi Trung Quốc nói đến chủ nghĩa xét lại hiện đại thì đó là một cách ám chỉ Liên Xô, và ngược lại khi Liên Xô nói đến chủ nghĩa giáo điều thì đó là ám chỉ Trung Quốc. Ở thời điểm hội nghị, Đảng ta chưa được phong tặng danh hiệu giáo điều.
Rõ ràng là những quan điểm trên đây nếu được thông qua sẽ là một đòn mạnh đánh vào cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam của ta. Cuộc đấu tranh ấy lúc bấy giờ còn mang tính chất chính trị, dùng bạo lực chính trị tiến hành khởi nghĩa từng phần, đập tan ách kìm kẹp của địch làm chủ nhiều vùng nông thôn. Tuy rằng cuộc đồng khởi đó đã có những nhân tố bạo lực vũ trang, nhưng bạo lực chính trị vẫn là chính. Cách mạng còn tương đối "hòa bình". Nhưng Lê Duẩn dự kiến là nhân tố vũ trang sẽ tăng lên và đóng vai trò càng quan trọng hơn. Ta chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa cục bộ kết hợp công kích cục bộ tiến lên tổng công kích tổng khởi nghĩa. Nếu tổng khởi nghĩa tổng công kích thắng lợi, nhưng địch phản kích lại thì cũng khó tránh chiến tranh để giữ thành quả của cách mạng. Cuộc cách mạng tháng 10 Nga và cuộc cách mạng tháng 8 của ta diễn ra tương đối "hòa bình", nhưng sau đó ta phải đánh Pháp 9 năm mới đến Điện Biên Phủ. Sau cách mạng tháng 10 Nga, Nga cũng phải trải qua 3 năm nội chiến.
Với tình hình cách mạng Việt Nam như thế, rồi đây chúng ta sẽ bị lên án là hiếu chiến không chừng bị khai trừ ra khỏi phong trào cộng sản và công nhân quốc tế như Nam Tư đã bị khi tiến hành xây dựng CNXH theo mô hình khác. Nói chung, ta không phản đối chung sống hòa bình, đó là chung sống hòa bình giữa Liên Xô và Mỹ, giữa cộng đồng XHCN và phe tư bản chủ nghĩa, giữa các nước độc lập có chế độ xã hội khác nhau. Song không thể có chung sống hòa bình giữa nước xâm lược và dân tộc bị áp bức, bị xâm lược.
Anh Thanh nói thêm: Đây là thuyết "hội tụ" của bọn học giả tư sản. Chúng ta kiên quyết không chịu.
Tình hình tranh cải căng thẳng trong hội nghị không thể tránh khỏi. Đầu tiên là Trung Quốc, vì những lý do riêng của họ, họ phản đối cái mà về sau này họ gọi gọn là 3 "hòa" (chung sống hòa bình, thi đua hòa bình, quá độ hòa bình), chưa nói đến các vấn đề khác, họ đang trong tình trạng chiến tranh với Ần Độ, đang chủ trương giải phóng Đài Loan. Cái làm họ giận dữ nhất là chống chủ nghĩa giáo điều. Họ hiểu đó là ám chỉ phong trào công xã nhân dân, cuộc đại nhảy vọt, 3 ngọn cờ hồng và công kích đích thân họ Mao. Vì vậy, từ đầu đến cuối họ phát biểu với thái độ lên án Liên Xô rất gay gắt. Họ gọi quan điểm của Liên Xô là chủ nghĩa xét lại hiện đại, để phân biệt với chủ nghĩa xét lại của Nam Tư.
Về phía ta, lập trường của ta do Lê Duẩn nêu ra và được Nguyễn Chí Thanh nhất trí, đã rõ ràng. Nhưng cái phiền toái cho đoàn ta là trên nhiều vấn đề mà quan điểm của Liên Xô có sai trái thì Trường Chinh lại tán thành.
Trong khi anh Trần Quang Huy và tôi chuẩn bị những bài phát biểu cho đoàn, theo sự chỉ đạo của Lê Duẩn thì Trường Chinh nhắn Vũ Tuấn đến gặp. Vũ Tuấn lúc ấy đang học tại trường Đảng Liên Xô. Vũ Tuấn được Trường Chinh chỉ thị là phải họp bàn với các anh khác đang cùng học ở trường Đảng thảo luận và chuẩn bị các bài phát biểu cho anh ấy. Vũ Tuấn và các bạn của anh ấy, được nghe giảng ở trường và tất nhiên là các bài giảng và tài liệu nghiên cứu cho học viên đều thể hiện các quan điểm của Đảng Liên Xô, và đều tiếp thu các quan điểm ấy. Thành thử mỗi buổi sáng (chúng tôi và các anh lãnh đạo phải dậy sớm ngược với tập quán của người Nga, để nghe đọc các bài phát biểu do 2 chúng tôi, Huy và tôi chuẩn bị ban đêm). Khi thảo luận nội dung phát biểu của đoàn thì Trường Chinh có sẵn đề nghị về nội dung phát biểu. Giữa ba anh lãnh đạo phải trao đổi khá gay go với nhau. Nhưng cuối cùng phương án của Trường Chinh lúc nào cũng không được chấp nhận. Vì Trường Chinh bị thiểu số, vả lại Lê Duẩn là trưởng đoàn. Lê Duẩn đồng ý sửa lại một số câu văn, một số chữ cho có vẻ là tiếp thu ý kiến của Trường Chinh, nhưng về thực chất thì tinh thần của bài phát biểu của đoàn không thay đổi.
Tôi hiểu vì sao Trường Chinh hành động như vậy. Một là anh ấy rất "căm" Trung Quốc vì anh cho rằng Trung Quốc đã xúi anh phạm sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức cớ đó mà bị kỷ luật, buộc phải thôi giữ chức Tổng bí thư lúc bấy giờ, đó là lý do chính. Hai là anh ấy không bằng lòng với Lê Duẩn vì Lê Duẩn đã thay thế anh làm bí thư thứ nhất của Đảng, sự không bằng lòng này sau này bộc lộ ra một cách mãnh liệt, vấn đề này sau này sẽ nói. Cũng vì vậy mà đoạn tài liệu của Liên Xô về vấn đề "giáo điều và xét lại" thì anh ấy phê phán rất gay gắt và lên án rất mạnh mẽ chủ nghĩa giáo điều như trong dự thảo văn kiện của Liên Xô, mà ai cũng biết do ta phê phán và lên án Trung Quốc. Anh ấy viết chủ nghĩa giáo điều biểu hiện ở chủ trương công xã nhân dân, đại nhảy vọt, trong việc không thấy sự biến đổi của thế giới mà vẫn bám lấy cái ý kiến đấu tranh giai cấp chiến tranh cách mạng.
Chúng ta thử tưởng tượng nếu đoàn ta chấp nhận phát biểu của Trường Chinh thì quan hệ giữa ta và Trung Quốc sẽ thế nào, quan hệ với một nước cùng chung biên giới với ta ở sau lưng ta, một nước mà lãnh tụ đã từng tuyên bố: "ai tốt với tôi một, tôi sẽ tốt lại hai; ai xấu với tôi một, tôi sẽ xấu lại mười"? Vì những lý do lý luận, và cũng vì những lý do thực tiễn hay thực dụng, Lê Duẩn không thể đồng tình với đề án của Trường Chinh. Nguyễn Chí Thanh cũng đồng ý với Lê Duẩn. Nội dung phát biểu của đoàn ta trong hội nghị có thể tóm tắt như sau:
Về thời đại, chúng ta đồng ý nội dung cơ bản của thời đại là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới bắt đầu tư cách mạng tháng 10 Nga v.v... Ý kiến quan trọng nhất của chúng ta là: "Ba dòng thác cách mạng của thời đại đang ở thế tấn công". Ba dòng thác ấy là: "Cuộc đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội phát triển của các nước XHCN - Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước đế quốc và tư bản nhằm chống lại mưu mô và hành động xâm lược và gây chiến của các thế lực phản động, chống áp bức bóc lột, giành dân chủ và tiến bộ xã hội - Cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc". Vì vậy khi nói về những nhân tố quyết định nội dung chủ yếu, những phương hướng chủ yếu và những đặc điểm chủ yếu của thời đại ngày nay thì ngoài vai trò của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội phát triển trong các nước XHCN, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước tư bản, ta đề nghị nói thêm và nhấn mạnh vai trò của phong trào đấu tranh của các nước Á, Phi, Mỹ Latinh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới giành độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Về chiến tranh và hòa bình. Chiến tranh bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Khi đế quốc nắm độc quyền về vũ khí hạt nhân chúng trở nên hiếu chiến hơn, và nguy cơ chiến tranh tăng lên. Nhưng do những biến đổi trong lực lượng so sánh trên hướng quốc tế, cùng với sự lớn mạnh của cộng đồng XHCN, cùng với việc Liên Xô (lúc ấy Trung Quốc chưa công bố là có vũ khí hạt nhân), phá thế độc quyền của Mỹ và một số nước đế quốc chủ nghĩa khác về vũ khí hạt nhân, cùng với việc Liên Xô và các nước trong cộng đồng XHCN đạt được thế cân bằng với các nước đế quốc về lực lượng quân sự, cùng với ý thức giác ngộ, và phong trào đấu tranh ngày càng mạnh của phong trào công nhân quốc tế, của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào chống chiến tranh đòi hòa bình của nhân dân thế giới... đã xuất hiện khả năng hiện thực ngăn ngừa chiến tranh thế giới mới. Tuy vậy, chiến tranh thế giới vẫn chưa bị loại trừ hẳn. Ta đồng ý ngày nay chủ nghĩa đế quốc không thể muốn làm gì thì làm như trước. Nhưng nếu những mâu thuẩn giữa chủ nghĩa tư bản và các nước XHCN, cũng như giữa các nước đế quốc với nhau phát triển đến mức không điều hòa được bằng các biện pháp khác thì chưa thể loại trừ hẳn khả năng chủ nghĩa đế quốc dùng biện pháp chiến tranh để giải quyết. Vì vậy phải luôn luôn cảnh giác. Có khả năng ngăn ngừa chiến tranh thế giới không có nghĩa là có khả năng và cần ngăn ngừa mọi cuộc chiến tranh. Các cuộc chiến tranh cục bộ vẫn có thể xảy ra. Chủ trương ngăn ngừa chiến tranh thế giới không có nghĩa là, và tuyệt đối không có nghĩa là, ngăn cản các cuộc chiến tranh giải phóng, các cuộc chiến tranh để bảo vệ thành quả cách mạng. Hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng mọi cuộc chiến tranh cục bộ, chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ thành quả cách mạng của các nước đều sẽ biến thành chiến tranh thế giới. Nhận định này sẽ dẫn đến lên án và ngăn chặn các dân tộc dùng chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh cách mạng để tự giải phóng và bảo vệ các thành quả cách mạng của mình, trói buộc chân tay của các dân tộc đó.
Chúng ta không đánh giá thấp tiềm năng hủy diệt vô cùng to lớn của vũ khí hạt nhân, nhưng chúng ta không đặt tác dụng của việc tạo được thế cân bằng về vũ khí hạt nhân giữa Liên Xô và Mỹ lên vị trí quá cao, thậm chí là quyết định nhất trong việc tạo ra khả năng ngăn ngừa chiến tranh thế giới mới. Chúng ta cũng phản đối thái độ sợ sệt quá đáng chiến tranh hạt nhân, cho rằng mọi cuộc chiến tranh đều có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân. Theo ta vũ khí hạt nhân có vai trò răn đe, vì nếu chiến tranh hạt nhân giữa hai phía xảy ra, thì dù chỉ một phía sử dụng vũ khí hạt nhân (điều này chắc là không thể có) cả hai phía đều bị chung số phận: bị tiêu diệt. Cho nên nếu phải tiến hành chiến tranh, thì các bên chỉ dùng vũ khí qui ước. Và cũng vì vậy mà chúng ta nghĩ rằng khả năng xảy ra chiến tranh thế giới bằng vũ khí qui ước không phải đã hoàn toàn loại trừ. Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh để bảo vệ thành quả cách mạng không thể trở thành chiến tranh thế giới. Chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc của chiến tranh. Bảo vệ hòa bình không đơn thuần và không phải chủ yếu là chung sống hòa bình và thi đua hòa bình, mà cơ bản là một cuộc đấu tranh cách mạng. Cần đẩy mạnh cuộc tiến công của ba dòng thác cách mạng, đẩy lùi từng bước, đánh đỏ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc, làm cho chủ nghĩa đế quốc bị suy yếu khả năng gây chiến của chúng ngày càng giảm sút. Và nếu các cuộc cách mạng tiến công tiến hành tốt, có hiệu quả thì đến một lúc nào đó, chủ nghĩa đế quốc sẽ bị suy yếu đến mức mà chúng không còn là mối đe dọa cho hòa bình. Tăng cường lực lượng về mọi mặt hệ thống xã hội chủ nghĩa làm chỗ dựa vững chắc cho các cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc; đẩy mạnh phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh vào sân sau của chủ nghĩa đế quốc và tư bản. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước tư bản đòi các quyền lợi cơ bản, vì dân chủ và tiến bộ xã hội, đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới chống chiến tranh đế quốc, đồng thời chung sống hòa bình và thi đua hòa bình, đó là nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình thế giới. Chúng ta không thể có hòa bình bằng cách nhân nhượng vô nguyên tắc chủ nghĩa đế quốc, đồng thời phải tránh những hành động phiêu lưu, mạo hiểm. Ngay từ hội nghị Băng Đung, chúng ta cũng đã cùng các nước đề ra 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Chung sống hòa bình là chung sống giữa các nước XHCN và các nước đế quốc, tư bản, chung sống giữa các nước mới được giải phóng khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới với nhau. Không thể có chung sống hòa bình giữa chủ nghĩa đế quốc và những dân tộc và giai cấp bị chúng áp bức và bóc lột.
Các Mác có nêu ra khả năng quá độ lên CNXH bằng con đường hòa bình, trong những hoàn cảnh nhất định, bằng cách "mua lại" chủ nghĩa tư bản, khi lực lượng so sánh giữa chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi thế giới và trong từng nước đã chênh lệch đến mức mà các giai cấp thống trị thấy chuyển chính quyền cho nhân dân lao động, là có lợi hơn cho chúng hơn là chống cự để bị lực lượng hùng hậu của nhân dân đè bẹp. Cũng có thể xảy ra tình hình là cách mạng XHCN đã thắng lợi ở hầu hết các nước tư bản; chỉ còn lại một vài nước lẻ loi, ở đó có khả năng dành thắng lợi cho cách mạng một cách hòa bình. Nhưng nay chưa đến lúc có tình hình như thế. Chủ nghĩa đế quốc, tư bản còn mạnh, chúng cố bám lấy quyền lợi của chúng và chúng thấy khả năng có thể bám lấy quyền lợi. Hơn nữa chúng muốn bành trướng ra các nước khác. Do đó chỉ có cách dùng bạo lực cách mạng bao gồm bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang mới thắng được sự ngoan cố của chủ nghĩa đế quốc, đè bẹp sự kháng cự của chúng, giành lại chính quyền về tay nhân dân. Nói cách mạng hòa bình là nói cách mạng diễn ra tương đối ít đổ máu nhưng đó không phải là sự quá độ hòa bình theo cách nghĩ của Liên Xô. Kinh nghiệm bản thân chúng ta cho thấy cuộc cách mạng tháng 8 của Việt Nam xảy ra một cách tương đối hòa bình do lực lượng thống trị lúc bấy giờ là quân đội Nhật đã bị quân đội Liên Xô đánh tan, nước Nhật đã đầu hàng quân Đồng Minh, quân đội Nhật ở Việt Nam thấy chống cự lại cách mạng Việt Nam vô ích. Song sau khi ta giành được chính quyền rồi thì lập tức quân Pháp nhảy vào hòng lập lại chế độ đô hộ thực dân của Pháp, buộc ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng ròng rã 9 năm mới đuổi được thực dân Pháp ra khỏi một nửa nước. Có ý kiến cho rằng ngày nay dưới sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất trong cả 2 phe phát triển với tốc độ cao xưa nay chưa từng có, kéo theo sự thay đổi quan hệ sản xuất theo hướng xã hội hóa ngày càng cao, sự khác biệt giữa chế độ XHCN và chế độ tư bản chủ nghĩa cũng như sai lệch giữa lợi ích của giai cấp tư bản và giai cấp công nhân và các từng lớp lao động khác ngày càng thu hẹp lại, sự tương đồng ngày càng lớn, đến một lúc nào đó giai cấp tư bản tự thấy sự tồn tại của chúng là lỗi thời, lúc đó chúng dễ dàng chấp nhận chuyển nền thống trị của chúng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Về ý kiến đó, chúng ta cho rằng, ngày được nói trên đây còn xa vời, và đến lúc đó chưa rõ sự tranh chấp giữa đại đa số nhân dân và giai cấp tư bản sẽ được giải quyết ra sao: trước mặt sự cách biệt giữa 2 chế độ xã hội còn rất lớn, sự cách biệt giữa lợi ích của giai cấp tư bản và đa số nhân dân cũng còn rất lớn. Trong tình hình trước mắt, để chiến thắng sự ngoan cố của giai cấp tư bản trong việc bám chặt lấy quyền lợi của chúng, chỉ có con đường là làm cách mạng, là sử dụng bạo lực cách mạng. Cuộc đấu tranh giai cấp còn gay go, quyết liệt. Đề ra chủ trương quá độ hòa bình lên CNXH như là một tất yếu của lịch sử là thủ tiêu đấu tranh giai cấp, thủ tiêu cách mạng, trói tay trói chân giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sợ cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dẫn đến chiến tranh cục bộ và cuối cùng là chiến tranh thế giới là không có căn cứ. Mở rộng khái niệm quá độ hòa bình sang các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc càng không đúng và có hại.
Về thi đua hòa bình, ta đề nghị xem đó là một khẩu hiệu để vạch trần những hành động hiếu chiến, phá hoại các nước XHCN bằng nhiều thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc. Chúng ta cho rằng giữa các nước XHCN và tư bản chủ nghĩa là một cuộc đấu tranh ai thắng ai bằng cách xây dựng tốt CNXH, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần, văn hóa của nhân dân, làm cho CNXH ngày càng tỏ rõ tính ưu việt về mọi mặt của mình, bằng cách không ngừng tăng cường khả năng quốc phòng sẵn sàng đập tan mọi âm mưu khiêu khích và tấn công của chủ nghĩa tư bản, bằng cách giúp đỡ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước tư sản chủ nghĩa giành dân chủ và tiến bộ xã hội, giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc. Giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, không thể có thi đua hòa bình. Gói cả những trường hợp như Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam vào phạm trù thi đua hòa bình là giải giáp nhân dân cả 2 miền đang dùng bạo lực cách mạng để đánh đổ ngụy quyền Miền Nam và can thiệp Mỹ, thống nhất đất nước.
Vấn đề chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại. Chúng ta cho rằng chủ nghĩa giáo điều hay chủ nghĩa xét lại đều là xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, đều là nguy cơ hiện thực trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Chủ nghĩa giáo điều không nắm vững quan điểm duy vật biện chứng để xem xét tình hình, không nắm vững nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, để xử lý và giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng. Nó bám lấy những công thức sẵn có, nó bắt chước một cách máy móc kinh nghiệm thực tiễn của các Đảng, chứ không xuất phát từ thực tiễn của đất nước mình để giải quyết những vấn đề do cách mạng nước mình đề ra. Chủ nghĩa xét lại từ bỏ đấu tranh giai cấp, từ bỏ chuyên chính vô sản. Các Đảng cộng sản và công nhân muốn đưa cuộc đấu tranh cách mạng của nước mình đi vào con đường đúng đắn, thắng lợi, cần đấu tranh chống cả hai khuynh hướng giáo điều và xét lại. Như vậy là chúng ta dừng lại ở khái niệm chung chung, không muốn đổ dầu thêm vào không khí căng thẳng của hội nghị. Nói lên sự không đồng tình của ta về các sai lầm lệch lạc của Liên Xô về các vấn đề lý luận về thời đại, chiến tranh và hòa bình, về cách mạng v.v... ta ý thức rằng ta vẫn ở trong giới hạn cho phép trong quan hệ giữa ta và Liên Xô. Ta chống các quan điểm xét lại của Đảng cộng sản chứ không phải chống Đảng cộng sản Liên Xô và chống Liên Xô. Trong nội bộ một Đảng cũng như giữa các Đảng, đấu tranh tư tưởng là chuyện bình thường, thực tiễn sẽ chứng minh ai đúng ai sai, nhưng nếu nêu quá cụ thể những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại thì chẳng khác nào chỉ tay vào Liên Xô: "Anh là tên xét lại". Nếu làm như thế thì trong quan hệ giữa ta và Liên Xô khó lòng duy trì ở mức độ có găng một chút nhưng vẫn tương đối bình thường. Đối với Trung Quốc cũng vậy, tuy là không đồng tình với nhiều hành động và lý luận của Trung Quốc nhưng việc Trung Quốc phê phán chủ nghĩa xét lại của Liên Xô, phê phán các quan điểm của Liên Xô thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hòa bình chủ nghĩa... là có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam của nhân dân ta, vả lại Trung Quốc là đối tượng bị Liên Xô và các Đảng khác ở các nước tư bản lên án kịch liệt và đã bị Khơ-rút-sốp dọa khai trừ ra khỏi phong trào cộng sản quốc tế, nguy cơ phân liệt của phong trào treo lơ lửng trên hội nghị, cho nên ta tránh nêu những biểu hiện cụ thể làm cho người ta có thể hiểu là ta ám chỉ Trung Quốc. Nếu ta làm như vậy, ta sẽ mang nước đến đổ vào cối xay của Khơ-rút-sốp và của các Đảng trên.
Cuối cùng đoàn ta kêu gọi sự đoàn kết trong phe XHCN và trong phong trào cộng sản quốc tế.
Như trên đã nói, phản đối dự thảo của phía Liên Xô gay gắt nhất là đoàn Trung Quốc. Hai người Đặng Tiểu Bình và Khang Sinh thay nhau phát biểu, thái độ chung là không khoan nhượng về những vấn đề chính.
Các Đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN Đông Ấu, các Đảng cộng sản ở các nước tư bản Ấu Châu và Mỹ Châu.... đều cùng chung lập trường với Liên Xô.
Đáng chú ý nhất là các Đảng Triều Tiên, Albani và Indonexia. Họ không tán thành dự thảo của Liên Xô, nhưng không đứng chung một mặt trận với Trung Quốc. Vì họ ngại đối đầu với Liên Xô. Họ lấy Việt Nam làm chuẩn. Trên từng vấn đề họ đều hỏi ta nên phát biểu thế nào, họ xin cho họ xem trước dự thảo phát biểu của ta rồi họ căn cứ vào tinh thần phát biểu của ta mà soạn ra phát biểu của họ. Trước hội nghị 81 Đảng, Tổng bí thư Đảng cộng sản Indonexia Aidit đã từng sang thăm nước ta sau khi thăm Liên Xô và Trung Quốc. Hội đàm xong với Đảng ta, trao đổi ý kiến với Lê Duẩn, Aidit tuyên bố với ta rằng Indonexia không thể đi theo con đường của Liên Xô cũng như không thể đi theo con đường của Trung Quốc, mà sẽ noi theo con đường của Việt Nam vì nó là thích hợp nhất đối với cách mạng Indonexia.
Về sau này, 3 Đảng trên đều xa lánh ta, xích gần với Trung Quốc kết thành mặt trận với Trung Quốc. Đây là chuyện sẽ được đề cập ở những phần sau của hồi ức này.
Hội nghị trù bị đã kết thúc sau gần một tháng tranh luận với một văn kiện có bổ sung, sửa đổi, tiếp thu ý kiến của nhiều đoàn nhưng về những vấn đề cơ bản nhất vẫn tồn tại những bất đồng.
Hội nghị chính thức tiến hành sau đó hai tuần, lần này các chủ tịch, tổng bí thư, bí thư thứ nhất của các Đảng đều đến dự trừ Mao Trạch Đông, do Lưu Thiếu Kỳ thay mặt. Sau hai tuần thảo luận, hiệp thương, trên các vấn đề có bất đồng lớn, các bên đều giữ vững lập trường của mình. Lời kêu gọi đoàn kết của Bác Hồ ta, của một vài lãnh tụ khác đều không lay chuyển được Liên Xô và Trung Quốc. Song để tránh sự phân liệt công khai, cuối cùng đã đạt được một văn kiện có tính chất thỏa hiệp trên một số vấn đề, lời lẽ có thể hiểu thế này hoặc thế kia. Và văn kiện "Tuyên bố của Hội nghị các Đảng cộng sản và công nhân ở Mạc Tư Khoa" ấy được ký.
… còn nữa

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2021

Võ Văn Kiệt: Thư gửi Nguyễn Khoa Điềm

 Võ Văn Kiệt: Thư gửi Nguyễn Khoa Điềm


Võ Văn Kiệt – Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng Tư năm 2005

Kính gửi: Đ/c Nguyễn Khoa Điềm
Trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương

Tôi mới nhận được thư đồng chí trả lời bức thư tôi gửi ngày 01 tháng 3 xin cảm ơn sự trao đổi (dù quá muộn) của các đồng chí.

Trước hết tôi muốn nói rõ quan điểm của mình với những gì mà đồng chí trao đổi trong thư:

Thứ nhất: Về thời gian từ khi ngưng không cho đăng bài báo phỏng vấn tôi cho đến Tết và khi tôi có thư hỏi chắc đồng chí còn nhớ là thời gian đó không ngắn. Đồng chí có nhận khuyết điểm, tôi coi thái độ cầu thị đó là tốt. Tuy nhiên, những lý do mà đồng chí biện bạch trong thư về thời gian là không đủ thuyết phục. Đó là tôi nghĩ với tư cách của một công dân bình thường, còn với tôi chắc các đồng chí không xa lạ gì.

Thứ hai: về nội dung bài báo: các đồng chí lý giải rằng do việc xuất bản cuốn sách “Hồi ký không tên” của Lý Quý Chung và những phản ứng từ báo Quân đội nhân dân và một số ý kiến khác từ đó các đồng chí đánh giá sẽ bất lợi nếu đăng bài báo ấy. Trong trường hợp này (coi là khẩn cấp) trước hay liền sau đó các đồng chí ít nhất bằng các phương tiện thông tin khác trao đổi lại không khó khăn gì, kể cả gặp trực tiếp tôi.

Như đồng chí đã biết, là người có trách nhiệm bám sát Sài Gòn – Gia Định suốt cuộc chiến chống Mỹ, Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định chúng tôi phải vận dụng chủ trương tập hợp lực lượng chính trị bằng mọi hình thức khác nhau, tranh thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được có lợi cho đấu tranh cách mạng miền Nam. Thường vụ Thành uỷ Sài Gòn lúc bấy giờ theo sát từng bước diễn biến tình hình mọi mặt, vừa theo sát diễn biến chiến sự của chiến dịch Hồ Chí Minh, vừa theo dõi sát các động thái của phía địch, về nội tình của chúng và các nhóm chính trị đối lập với Mỹ – Thiệu để kịp thời chỉ đạo cho cán bộ đảng viên, nòng cốt của ta trong các nhóm chính trị, trong binh vận và trong chính phủ Dương Văn Minh. Phương án kết thúc chiến tranh mà Thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn trước sức tiến công của quân ta không có khả năng đảo ngược là phương án chỉ đạo phối hợp tối ưu. Các đồng chí có biết ngay trong đêm 29 và ngày 30/4/1975, chúng tôi và Thành uỷ ở đâu không? Ở ngay ven thành phố Sài Gòn. Tôi phụ trách bộ phận cán bộ tiếp quản của Trung ương Cục (Quân quản) cùng đồng chí Mai Chí Thọ và bộ máy Thành uỷ, đầu buổi chiều 30/4 chúng tôi đã có mặt trong Thành phố. Tôi muốn nhắc lại một chút để đồng chí hiểm thêm tôi là người trong cuộc chứ không phải đứng từ xa.

Tôi chưa rõ trên cơ sở nào mà các đồng chí cho rằng nhận định của các tác giả của bốn bài báo trên báo “Quân đội nhân dân” được “đăng liên tiếp” là đúng, còn bài trả lời phỏng vấn của tôi là không phù hợp, là sai, “dễ gây ra hiểu lầm và làm phân tâm thêm bạn đọc” như các đồng chí kết luận. Chắc là, tôi phải nói theo như báo “Quân đội Nhân dân” nhất nhất làm theo chỉ đạo của các đồng chí thì mới không “gây ra hiểu lầm” và không “làm phân tâm thêm bạn đọc”, quả là những công việc làm thường ngày thành quen của ban Tư tưởng Văn hoá! Còn có thể vì một lý do nào khác nữa mà các đồng chí không tiện nói?

Thật ra, tôi đã đọc cuốn hồi ký của Lý Quý Chung lúc còn là bản thảo. Nhà xuất bản đã sửa sang, cho in chính thức lần đầu tôi cũng đã được xem (chỉ có những đoạn đám Nhuận, Đức, Hạnh không chịu vì có liên quan (sau đó Nhà xuất bản và tác giả đã cắt bỏ). Anh Phạm Quang Nghị có hỏi, tôi đã trả lời: đây là thể loại hồi ký, mỗi người có cách nhìn và cách đánh giá riêng và phải tự chịu trách nhiệm. Với một trí thức như Lý Quý Chung, về nội dung chính trị, tôi cho là không có vấn đề gì. Với tư cách là Bí thư Đảng uỷ đặc biệt và là Phó Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ chẳng lẽ tôi lại đề cao địch, phủ nhận lại chính mình.

Về lực lượng thứ ba, các lực lượng đối lập trong chính quyền nguỵ, cần có sự nhận định thực tế đủ khách quan, không nên tuỳ tiện quy kết theo chủ quan, phiến diện vì nó liên quan đến một chính sách lớn của Đảng (phải nói là thật sự thành công). Chẳng hạn, chỉ nêu lên một trường hợp Phạm Ngọc Thảo, người được đồng chí Lê Duẩn giao trách nhiệm với danh nghĩa là người công giáo đi kháng chiến chống Pháp trở ra “hợp tác với quốc gia” để bằng mọi cách xây dựng được lực lượng chính trị quốc gia (cũng là lực lượng thứ ba, nếu có một Chính phủ quá độ ở miền Nam).

Các đồng chí cho rằng những nhận xét của tôi về công tác của Ban Tư tưởng Văn hoá như “áp đặt, cửa quyền, thiếu dân chủ, rất ít khi được đối thoại những vấn đề còn ý kiến khác nhau, nặng về quyền lực hơn là thuyết phục” là không thoả đáng, cũng có nghĩa là không chính xác, cũng có thể là không phải tất cả đều như vậy. Tôi tạm lấy ngay cách các đồng chí xử sự với tôi, một người không xa lạ gì với các đồng chí, lại là người trong cuộc, có trách nhiệm trước Đảng chỉ đạo tại chỗ hàng chục năm ở Thành phố Sài Gòn.

Chắc các đồng chí không lạ gì về công việc mà tôi phụ trách trong một thời gian dài, để từ đó mà có thể có căn cứ đưa ra nhận định như đã nêu trong bài trả lời phỏng vấn, thế những vì thấy không phù hợp với ý kiến chủ quan của mình thì dùng quyền của Ban Tư tưởng Văn hoá để bác bỏ một cách tuỳ tiện, mãi cho đến khi tôi có ý kiến mới trả lời với những lý do không thuyết phục, vậy thì đó là “thoả đáng hay là không thoả đáng” Đã có bao nhiêu trường hợp khác bị các đồng chí đối xử tương tự như vậy, hay các đồng chí tự cho mình cái quyền ấy, quyền đứng trên luật pháp, quyền cho ai nói cái gì, viết cái gì là theo sự áp đặt chủ quan, phiến diện của một số rất ít người, song lại nhân danh Đảng! Đây là một cách làm không minh bạch, gây phản ứng ngầm không ít trong giới cầm bút, kể cả cán bộ, đảng viên trung kiên của Đảng.

Đã đến lúc các đồng chí nên nghiêm túc hơn, soi lại mình, trở lại với nguyên tắc của Đảng, trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh.

Mấy ý kiến vắn, xin trao đổi lại với các đồng chí.

Kính thư,
Võ Văn Kiệt

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

“ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TỔ CHỨC ĐỂ LÀM QUAN PHÁT TÀI “

 “ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TỔ CHỨC ĐỂ LÀM QUAN PHÁT TÀI “

( Bài đăng trên Kinh tế đô thị Cuối tuần, 6/12/2019)
Quốc Phong
Ngay từ năm 1947,thời gian được coi là giai đoạn cực kỳ gian khó của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà dân tộc ta bước vào , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian viết cuốn sách "Sửa đổi lối làm việc”. Người mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên cần tìm thấy cái mạnh, yếu của mình để tự sửa mình và đã căn dặn rất kỹ một điều , đó là “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" (Hồ Chí Minh toàn tập - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1995 , từ trang 232 -290).
Người lãnh đạo, theo tinh thần của bài viết mà mang tư tưởng cá nhân , thực dụng , chỉ lo vinh thân phì gia mà quên rèn luyện và làm gương cho đảng viên cấp dưới và quần chúng noi theo thì sẽ không thể nói được người khác. Từ đó, dân sẽ mất lòng tin vào người lãnh đạo và chế độ mà chúng ta dựng xây cũng vì thế mà khó trường tồn .
Và đến nay, dù đã 72 năm, lời căn dặn của Người vẫn mang tính thời sự rất lớn . Bởi khi một bộ phận không nhỏ là công bộc của dân, kể cả cán bộ cao cấp, một khi đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, tham nhũng , sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, vinh thân phì gia, vun vén cho bản thân và cho người thân trên mức bình thường... thì sẽ là tự làm bất lợi về uy tín của người lãnh đạo.
Trong lịch sử Đảng ta đã có biết bao tấm gương mẫu mực về đức tính liêm khiết, không màng chuyện vun vén, vụ lợi và tấm gương ấy nhiều không thể kể hết .
Cuộc sống giản dị, thanh liêm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các bậc cách mạng tiền bối như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và nhiều bậc " khai quốc công thần " khác đã cho thấy điều đó.
Lúc ông Trường Chinh, nguyên Tổng bí thư Đảng ta (trong suốt 3 giai đoạn cách mạng khác nhau) ra đi đột ngột vì ngã cầu thang , gia đình ông đã lục tìm trong ngăn kéo bàn làm việc của vị cách mạng tiền bối ấy thì thấy có một cuốn sổ tiết kiệm có khoảng 3 ngàn đồng. Để dễ hình dung, tôi xin lấy ví dụ để so sánh cho dễ ,nó tương đương khoảng gần 8 tháng lương đại uý quân đội của tôi vừa chuyển ngành ngày đó (vào tháng 9/1988),tức là 390 đồng/ tháng( nay mức lương cấp bậc này khoảng 8 triệu đồng/ tháng ).
Đây là số tiền tiết kiệm do ông viết các cuốn sách và được các nhà xuất bản trả nhuận bút như biết bao tác giả khác . Ông cũng đã trích từ khoản này trả thù lao cho vị thư kí riêng của mình và những người giúp ông ra cuốn sách cũng như đã phụ giúp phu nhân ông chi tiêu thêm trong gia đình. Và đến lúc ông đi xa thì còn khoản tiền như thế . Ngoài ra , ông không còn khoản tiền gì khác.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng vậy. Ông là người có 32 năm đảm đương cương vị Thủ tướng Chính phủ , thế mà ngày ông chuẩn bị đám cưới cho con trai ông là anh Phạm Sơn Dương, ông đã tâm sự với anh Trần Hà , người từng làm vụ trưởng vụ Tổng hợp Văn phòng Chính phủ suốt 20 năm rằng ông thấy hơi buồn cười vì hoá ra ngay trong nhà mình, muốn có chiếc nhẫn vàng độ 2 chỉ để tặng con dâu Minh Châu mà ông Phạm Văn Đồng cũng không hề có nổi .
Chuyện này chính anh Trần Hà đã kể trực tiếp cho chúng tôi nghe khi đến nhà thăm ông tại Khu tập thể Giảng Võ, Hà Nội.
Thật là cảm động đến trào nước mắt !
Xã hội mới hôm nay, theo tôi nghĩ , chúng ta cũng không nên máy móc đòi hỏi thế hệ lãnh đạo sau cũng buộc phải khắc khổ , thanh liêm tới mức như vậy. Làm cách mạng thì mục tiêu sâu xa cũng để mọi người trong gia đình mình được sống sung túc . Nếu lo cho con mình có cuộc sống tốt hơn thì cũng nên coi là lẽ thường.
Song cũng không nên vun vén cá nhân để rồi bị nhục nhã ê chề cả đời kiểu như mấy cựu bộ trưởng Thông tin Truyền thông khai báo nhận hối lộ trong vụ AVG vừa rồi . Chỉ vì tiền, vì nghĩ cho gia đình mà họ đã tạo dựng kịch bản mua bán doanh nghiệp gây thất thoát cho nhà nước đến 7 nghìn tỷ thì quá dã man, không thể chấp nhận dù số tiền họ tự khai báo chắc gì đã thành khẩn .
Và càng không nên lo của nả để lại cho cháu chắt đến nhiều đời tiêu không hết cũng là không nên chút nào .
Ngày xưa, theo sách vở ghi lại thì có nhiều câu chuyện nghe thật thấm thía trong công việc dạy con, cách để lại tài sản cho con thế nào là nên và không nên.
Theo Sử ký Mạnh Thường Quân, có chuyện ghi lại trong “Cổ học tinh hoa “do Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân sưu tầm và viết lời bình thì có tích chuyện” Lời con can cha”. Chuyện nghe thật là chí lý. Chuyện rằng:
Điền Vân là con Điền Anh. Tuy Điền Vân còn ít tuổi nhưng cực kỳ khôn ngoan.Thấy cha mình làm quan lớn nhưng có tính vụ lợi riêng, Điền Vân không bằng lòng . Một hôm, Điền Vân hỏi cha :
-Con của con thì cha gọi là gì? Thưa cha ! -Cha nói” gọi là cháu” .
-Cháu của đứa cháu cha thì cha gọi là gì ?
-Thì ta gọi là chút.
-Chút của đứa chút thì cha gọi là gì ?
-Ai mà biết gọi là gì !- Điền Anh lúng túng vì đúng là ông không biết thật !
-Cha làm tướng ở nước Tề. Tới nay đã phò tá cho ba đời vua- Điền Vân nhỏ nhẹ - Cha dù có hàng ức, hàng vạn ( ý nói rất nhiều vàng bạc, ruộng đất... ) Sao môn hạ của cha con không thấy có một người nào là hiền tài ? Nay con thấy cha thì mặc áo toàn là gấm vóc mà sao người giỏi trong nước vẫn rách rưới. Tôi tớ cha thì thừa ăn mà người giỏi trong nước vẫn đói khát. Cha quên hết cả việc công ích hiện thời của dân, của nước, chỉ chăm chăm tích cóp của cải muốn để dành cho những kẻ sau này mà chính cha cũng không biết mình gọi chúng nó là gì .
Con trộm nghĩ như thế mà thấy thật là kỳ lạ !
Người đời sau đã bình rằng : Người ta ai chẳng vì con,vì cháu mà cố sức làm ăn để tích cóp tiền của cho con,cho cháu. Âu đó cũng là lẽ tự nhiên. Tuy vậy, nên như thế nào là vừa phải vì lẽ ngoài người thân, con,cháu mình thì còn nước non,còn người khác.
“ Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào “ , việc gì ta lại đem sức ta làm trâu ngựa để lo cho đến đứa cháu cả chục đời mà ta cũng không biết gọi chúng là gì thì có nên không? Chi bằng ta hãy lo cho muôn người nếu như ta còn là công bộc của dân thì trước tiên phải có trách nhiệm lo cho muôn dân. Nếu như để nhiểu của nả cho con,cháu,chắt,chút ,chít, ... như thế, nó khác nào ta đổ xuống cái giếng không đáy !
Chuyện xưa, tân /cổ đủ cả mà tôi nhắc lại ở trên đây có lẽ đã thay cho lời kết của bài viết này. Phàm đã làm người lãnh đạo , là hiến thân phụng sự Tổ quốc thì nên cân nhắc lối sống bản thân sao cho cuối đời để lại tiếng thơm cho con cháu. Nếu giàu có , nếu nhà cao cửa rộng thì cũng nên bằng đồng tiền chính đáng mà có. Như thế cháu con chúng ta mới có thứ để tự hào về cha ông chúng.
QP.

BÀN VỀ CHÍNH DANH

 BÀN VỀ CHÍNH DANH

Lâu nay người Việt mình cứ quen mồm gọi chế độ cũ là Ngụy, chẳng qua bị nhồi lâu thành ra quen mồm, thấy cũng bình thường, kiểu như đương nhiên nó phải thế, chả thắc mắc gì.
Từ "ngụy" đó bắt đầu được sử gia nhà Nguyễn dùng để chỉ nhà Tây Sơn. Hình như trước đó chưa ai dùng? Đó là để chỉ cái sự không chính danh của Tây Sơn. Tương tự vậy, chế độ CS cũng gọi QG VN và VNCH là Ngụy quyền (không hiểu sao lại viết hoa?). Nhưng Đế quốc VN lại không bị gọi là Ngụy nhé! Chắc chắn có lý do của nó. Mình sẽ phân tích ở dưới.
Về tính chính danh của các chính quyền, thì thường có 2 loại, quân chủ và dân chủ.
1. Chính danh quân chủ
Kiểu chính danh này là phổ biến suốt thời kỳ phong kiến. Vua được coi là thiên tử, con vua đương nhiên được nối dõi làm vua. Nếu vua không có con đẻ thì con nuôi hoặc cháu vua (trong họ) sẽ được chọn. Kẻ được chọn đó được coi là có chính danh quân chủ.
Thời phong kiến, tội khi quân, giết vua, cướp ngôi vua là tội tày trời. Cướp ngôi sẽ không có chính danh, quan lại và dân chúng sẽ không theo.
Các triều đại phong kiến VN cũng hiếm có chuyện cướp ngôi vua trắng trợn, đều phải có lý do hợp lý và thường kẻ "cướp ngôi" đều đang là quan to đầu triều, lấy ngôi của ấu chúa, khi vua mới chết.
Nhà Đinh sang nhà Lê cũng phải dựa vào việc nhà Tống xâm lược, tình huống khẩn cấp, nên quan quân mới "thuyết phục" bà thái hậu đang nhiếp chính nhường ngôi cho Lê Hoàn đang là "phó vương".
Lý Công Uẩn cũng lên ngôi khi đang làm quan to, sau khi Lê Long Đĩnh chết.
Trần Cảnh lên ngôi với sự sắp đặt của Trần Thủ Độ là đại quan triều Lý, trong khi triều Lý đã mạt, Lý Chiêu Hoàng "nhường ngôi" cho chồng 1 cách êm thấm. Trần Cảnh cũng là con của Trần Thừa, 1 đại quan khác.
Hồ Quý Ly cũng là quan đầu triều phế cháu ngoại mình là vua Trần, lên ngôi vua. Sau đó sợ điều tiếng lại nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, cũng là cháu ngoại vua Trần. Lấy cớ về việc cướp ngôi đó, nhà Minh sang chiếm nước ta. Nhà Hồ 1 phần vì thiếu chính danh mà để mất nước.
Lê Lợi, 1 địa chủ ở Thanh Hoa, dấy binh khởi nghĩa chống quân Minh dành thắng lợi, cũng phải dựng Trần Cảo (hậu duệ nhà Trần) lên làm minh chủ. Nhưng lúc sắp sửa lên ngôi vẫn phải chế ra lý do với nhà Minh là Trần Cảo (người được nhà Minh chấp thuận để khôi phục nhà Trần) đã chết, quý tộc nhà Trần không còn ai, để được lên ngôi vua 1 cách chính thống (được nhà Minh phong làm An Nam quốc vương).
Mạc Đăng Dung cũng là quan đầu triều Lê, ép vua nhường ngôi, nên cũng bị mất chính danh. Nhà Hồ và nhà Mạc không được coi là triều đại chính thống trong lịch sử phong kiến VN.
Nguyễn Kim, cũng 1 đại quan nhà Lê và con rể là Trịnh Kiểm lấy tiếng phù Lê diệt Mạc để trung hưng được nhà Lê, gọi là triều Lê Trung hưng. Kể từ Trịnh Tùng, con trai Trịnh Kiểm, họ Trịnh làm chúa, thay vua Lê cai trị đất nước. Vua Lê lúc đó giống như vua Hán thời Tam quốc, chả còn quyền hành thực tế, nhưng con cháu vẫn được nối ngôi. Chúa Trịnh không dám cướp ngôi, vì chả có lý do gì và sợ mất chính danh. Chúa Trịnh trị vì Đại Việt 200 năm như vậy.
Nguyễn Hoàng, con trai Nguyễn Kim, xin trấn thủ Thuận Hóa để ly khai chúa Trịnh. Kể từ con trai ông cũng làm chúa cai trị Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Chu, cháu 6 đời của Nguyễn Hoàng, muốn biến Đàng Trong thành 1 nước độc lập với Đàng Ngoài, xin vua Thanh phong vương nhưng không được. Vì nhà Thanh chỉ coi vua Lê là chính danh, coi Đàng Trong vẫn là đất của nhà Lê. Thế là chúa cũng đành chịu, tự phong vương và coi Đàng Trong là độc lập với Đàng Ngoài nhưng vẫn phải lấy tiếng phù Lê diệt Trịnh chứ không dám tự lên ngôi vua.
Đến khi anh em Tây Sơn khởi nghĩa chống chúa Nguyễn, cũng phải lấy tiếng là diệt quyền thần Trương Phúc Loan, kẻ lấn át chúa Nguyễn! Nhưng người chấm dứt chúa Nguyễn lại là Trịnh Sâm. Kẻ tận diệt chúa Nguyễn là anh em Tây Sơn, vốn xuất thân chỉ là thương gia nhỏ.
Sau khi Trịnh Sâm chết, Đàng Ngoài hỗn loạn, do Trịnh Sâm phế trưởng lập thứ (thiếu chính danh). Tây Sơn (chính xác là Nguyễn Huệ) nhân cơ hội mới ra Bắc diệt chúa Trịnh, nhưng vẫn không dám lật vua Lê. Cũng chỉ vì thiếu lý do và sợ không có chính danh. Nguyễn Huệ phải rút về Phú Xuân.
Sau đó, Nguyễn Huệ lại ra Bắc 2 lần để giết Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm với cái cớ là 2 người này chuyên quyền lấn át vua! Thực tế là do sợ 2 người đó muốn làm chúa, cướp mất công của mình. Vua Lê Chiêu Thống phải bỏ Thăng Long trốn đi. Nguyễn Huệ vẫn không dám cướp ngôi mà lập Lê Duy Cận, chú của Lê Chiêu Thống, làm giám quốc.
Cơ hội tiếm ngôi của Nguyễn Huệ chỉ có khi Lê Chiêu Thống cho người cầu viện nhà Thanh. Nguyễn Huệ lấy lý do chống giặc để tự lên ngôi với niên hiệu Quang Trung.
Nguyễn Huệ là kẻ tiếm ngôi duy nhất xuất thân trong giới bình dân, khi vua chính danh vẫn còn sống. Lê Lợi không bị coi là tiếm ngôi, dù bị tiếng ép chết Trần Cảo, cũng không phải xuất thân quan lại. Vì lúc đó nhà Minh đã chiếm được Đại Việt và cai trị trực tiếp, gây nhiều tội ác, lúc đó không còn nhà Trần nữa.
Nguyễn Ánh khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, thì lấy cái chính danh là hậu duệ chúa Nguyễn, khôi phục lại nhà chúa. Vua Lê lúc đó đã chạy sang Tàu nên Nguyễn Ánh tự lên ngôi. Vì thế, Nguyễn Ánh không bị cái tiếng cướp ngôi vua. Vì dù sao Nguyễn Ánh vẫn có chính danh hơn là Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc (đều tự lên ngôi).
Vì lẽ đó, nên dưới con mắt sử gia nhà Nguyễn, thì Tây Sơn là ngụy triều, do ép vua phải bôn tẩu, cầu viện, rồi tiếm ngôi.
Dưới con mắt sử gia CS thì Tây Sơn có chính danh là vì đã đánh đuổi được ngoại xâm. Nhưng việc quy kết quân Thanh là ngoại xâm mới là suy diễn cho tương lai. Chứ thực tế lúc đó quân Thanh chưa chiếm được Đại Việt, không hề đánh nhau với quân nhà Lê, chỉ đánh vài trận nhỏ với Tây Sơn, cũng chưa đặt quan lại cai trị trực tiếp (chưa sát nhập Đại Việt vào nhà Thanh) mới có ý đồ mà thôi. Lê Chiêu Thống vẫn làm vua.
Nói chung, việc Nguyễn Huệ đánh quân Thanh với hoàn cảnh hoàn toàn khác với Lê Lợi đánh quân Minh. Trong khi Lê Lợi vẫn phải dựng Trần Cảo lên để lấy tiếng khi phất cờ khởi nghĩa, thì Nguyễn Huệ đã tự xưng đế.
Mình phải tóm tắt lại các sự kiện thay đổi triều đại phong kiến VN trong gần 1000 năm, để mọi người thấy rằng cái tính chính danh quân chủ thời đó nó quan trọng thế nào. Điều này đặc biệt rõ ở thời chúa Trịnh, quyền lực như vậy mà vẫn không dám lật vua. Những kẻ "tiếm ngôi" đều phải xuất thân quan to, đầu triều và việc tiếm ngôi cũng phải hết sức khéo léo. Chỉ duy nhất Nguyễn Huệ là kẻ tiếm ngôi xuất thân bình dân và dùng bạo lực đánh vua. Các trường hợp khác đều phải tiếm ngôi khi vua đã chết.
Với 1 lịch sử như vậy, nên việc Việt Minh cướp chính quyền rồi ép vua Bảo Đại thoái vị, trao ấn kiếm là việc không đơn giản, dưới góc nhìn phong kiến. Đã cướp chính quyền rồi thì làm gì còn có chuyện vua Bảo Đại TỰ NGUYỆN trao ấn kiếm nữa?!
Đế quốc VN (nhiều người còn không biết đến cái quốc hiệu này) không bị coi là ngụy, là do vua Bảo Đại có chính danh. Vì thế chỉ bị gọi là chính quyền bù nhìn, nhưng không ngụy!
Phần 2 mình sẽ phân tích tiếp về chính danh dân chủ và so sánh tính chính danh của VNDCCH, QGVN và VNCH (2 nền cộng hòa).
2. Chính danh dân chủ
Kể từ khi bắt đầu có nền dân chủ ở phương Tây, thì khái niệm chính danh quân chủ dần trở nên lạc hậu. Vì sự nối ngôi của vị quân vương trở nên vô lý. Kẻ nối dõi không ai dám chắc sẽ trở thành vị minh quân, do chỉ là lựa chọn trong 1 nhóm nhỏ các con của vua và thường là con cả. Sự lựa chọn của vua cũng không chắc đã sáng suốt. Vận mệnh quốc gia trở nên may rủi khi phụ thuộc vào sự lựa chọn của 1 ông vua. Lãnh đạo quốc gia nếu được chọn trong quảng đại quần chúng thì cơ hội chọn được người giỏi sẽ lớn hơn nhiều. Sự lựa chọn công bằng nhất là từ đa số dân hoặc tối thiểu cũng từ 1 nhóm đại diện cho đa số, có thể là nhóm quý tộc.
Nền dân chủ đầu tiên là ở thành bang Athens vào khoảng năm 500 trước công nguyên. Đây là nền dân chủ trực tiếp, các công dân Athens đều được bầu cử và ứng cử, trừ các nô lệ. Nền dân chủ này sụp đổ vì những mặt trái của dân chủ trực tiếp.
Nền dân chủ chỉ thực sự hiệu quả từ khi nó được lặp lại ở nước Anh, bắt đầu từ thế kỷ 13, khi vua Anh buộc phải chia sẻ bớt quyền lực cho giới quý tộc và tăng lữ. Viện Quý tộc (Nguyên lão) và Viện thứ dân được lập ra để chia sẻ quyền lực với nhà vua.
Đến thế kỷ 17, hầu hết quyền lực của nước Anh rơi vào 2 viện, vua Anh chỉ còn quyền lực hình thức. Anh trở thành nước quân chủ lập hiến đầu tiên. Càng về sau này quyền lực của Viện thứ dân (Hạ viện) càng tăng, quyền lực của Viện Quý tộc (Thượng viện) càng giảm, cùng với sự phát triển về khoa học kỹ thuật và kinh tế của nước Anh.
Nền dân chủ ở Anh, cũng như các nước phương Tây khác, đều theo 1 quy trình là vua san sẻ quyền lực cho giới quý tộc, sau đó là giới nhà giàu, dân có đóng thuế. Dân nghèo, ít học và phụ nữ được quyền dân chủ sau cùng. Đến năm 1918 thì phụ nữ Anh trên 30 tuổi mới được đi bầu. Phụ nữ Pháp thì năm 1944 mới được quyền tương tự dù cách mạng Pháp xảy ra từ năm 1789 (năm vua Quang Trung lên ngôi và đánh thắng quân Thanh). Có nghĩa là 1 cuộc cách mạng đánh đổ nền quân chủ chuyên chế cũng không đồng nghĩa là sẽ có dân chủ, bình đẳng giữa tất cả mọi người, mọi giới tính.
Chính danh của Đế quốc VN
Quay lại nước VN. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Người Nhật khuyến khích vua Bảo Đại ban bố 1 bản Tuyên cáo độc lập vào ngày 11/3, tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước ký với người Pháp. Các điều ước về sự bảo hộ của Pháp với Bắc và Trung Kỳ đương nhiên bị hủy bỏ, do Pháp đã không còn năng lực bảo hộ. Nhưng điều khoản về việc chuyển giao vĩnh viễn Nam Kỳ cho người Pháp thì Bảo Đại không có quyền hủy bỏ.
Nước Đại Nam được đổi tên thành Đế quốc Việt Nam, với mô hình nửa quân chủ chuyên chế, nửa quân chủ lập hiến. Vua không còn nắm trọn quyền lực như quân chủ chuyên chế (phong kiến) mà quyền lực chủ yếu là ở Thủ tướng Trần Trọng Kim. Chính phủ Trần Trọng Kim cũng hoạt động theo kiểu CP của nhà nước dân chủ lập hiến, có lẽ copy mô hình của Nhật. Đây là điều chưa từng có ở giai đoạn trước đó. Cơ quan hành pháp thời trước là Viện Cơ mật với 4 vị đại thần điều hành dưới quyền lực tối cao của vua. Thời Pháp thuộc thì viên Khâm sứ điều hành.
Như vậy, có thể nói, chính vua Bảo Đại đã lật đổ chế độ phong kiến của chính mình lập nên 1 nền dân chủ sơ khai khi chuyển giao quyền lực cho Chính phủ và Thủ tướng. Lúc đó Đế quốc VN đang sửa soạn việc soạn thảo hiến pháp và lên kế hoạch thành lập quốc hội.
Trích hồi ký Trần Trọng Kim:
"Mỗi địa phương được quyền tự trị về phương diện cai trị và kinh tế. Các cơ quan hành chính các địa phương do chính phủ trung ương chọn người bản xứ cử ra và có các nhân vật hội nghị kiểm duyệt. Khi còn chờ có hiến pháp và sự tuyển cử phân minh, các cơ quan hành chính ở các địa phương hãy tạm cử những nhân vật xứng đáng ra xung chức địa phương tư vấn nghị viên. Chúng tôi cho chính sách địa phương tự trị như thế có nhiều điều tiện lợi và hợp với tình thế từng xứ về đường cai trị và đường kinh tế, mà không hại gì cho sự thống nhất của nước nhà."
Như vậy, dễ thấy là Đế quốc VN có chính danh quân chủ của vua Bảo Đại và đang có sự phôi thai của chính danh dân chủ.
Thực ra trước đó, thời Pháp thuộc, thì dân VN cũng đã được hưởng nền dân chủ sơ khai rồi. Đó là việc bầu cử các nghị viên ở Hội đồng tư vấn (Hội đồng dân biểu) cấp địa phương và cấp kỳ. Đây chính là 1 dạng sơ khai của Hội đồng nhân dân hay quốc hội ở cấp tỉnh và kỳ (bang). Những người được đi bầu và ứng cử ban đầu là những người giàu, công chức, dân có đóng thuế.
Tuy nhiên vai trò của các hội đồng này còn hạn chế, thiên về tư vấn, không có quyền quyết định. Nhưng đó chính là mô hình hạ viện, dân chủ sơ khai như ở các nước phương Tây. Nếu coi các đảng viên CS cũng tương tự người Pháp (giai cấp cai trị) thì lúc đó còn dân chủ hơn bây giờ. Vì người (có quốc tịch) Pháp chỉ cần chiếm khoảng 70% tổng số nghị viên, trong khi đảng viên bây giờ chiếm 95% đại biểu QH.
Chính danh của VNDCCH
Ngày 19/8/1945, Việt Minh cướp chính quyền ở HN, ngày 23/8 VM biểu tình thị uy (gần như cướp chính quyền) ở Huế. Dưới áp lực của VM, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị ngày 25/8, cũng ngày này, VM và các tổ chức khác cướp chính quyền ở SG (lãnh đạo cướp chính quyền ở Nam Kỳ không phải chỉ có VM). Ngày 2/9, nước VNDCCH ra đời, đánh dấu bởi sự kiện ông HCM đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, thành lập CP Lâm thời VNDCCH.
Bản chất CM tháng 8 là VM cướp chính quyền, việc vua Bảo Đại thoái vị đương nhiên không phải hoàn toàn tự nguyện cho dù trong chiếu Thoái vị có câu "Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị".
Trước đó, CP TTK đã có 1 số cuộc gặp gỡ với đại diện của VM để thuyết phục họ gia nhập CP, nhưng VM từ chối, quyết tâm làm CM.
Như vậy, nói VM có chính danh (quân chủ) do được Bảo Đại trao ấn kiếm (tức nhường quyền lực) là mị dân.
Vì lẽ đó, VM mới tổ chức bầu cử phổ thông để dành lấy chính danh dân chủ. Nhưng cuộc bầu cử QH khóa 1 bị các đảng phái quốc gia như Việt Quốc, Việt Cách tẩy chay không tham gia. Bầu cử diễn ra chỉ gồm VM và các thành phần thân VM, không có đảng đối lập và do VM tổ chức (vừa đá bóng vừa thổi còi). Hơn nữa, lúc đó có 95% dân VN là mù chữ (số liệu của đảng), nên hầu hết người dân đi bầu phải có sự "trợ giúp" của cán bộ VM. Điều đó dẫn đến CT HCM trúng cử với tỷ lệ 98,4%! Tỷ lệ này không bao giờ có với bất kỳ cuộc bầu cử dân chủ nào trên thế giới. Vua Bảo Đại, lúc đó là cố vấn Vĩnh Thụy, không trực tiếp ứng cử, không vận động tranh cử, cũng chẳng bầu cử nhưng vẫn trúng cử đại biểu QH khóa 1!
Như trên đã viết, đến năm 1944, ở Pháp mới có phổ thông đầu phiếu, nhưng ở VN năm 1945 cũng có phổ thông đầu phiếu. Trong khi dân trí Pháp chắc hơn VN cỡ 100 năm có lẻ. Vì thế nên bầu cử phổ thông cho MỌI THÀNH PHẦN người dân năm 1946 chỉ mang tính mị dân, vì đa số dân có biết gì đâu mà bầu? Đến chữ còn chả biết thì bầu gì?
Như vậy, nói VNDCCH có chính danh dân chủ thì cũng không chính xác. Kể từ năm 1946 đến nay nước VN CS chưa từng có 1 cuộc bầu cử dân chủ thực sự nào, vì toàn là độc diễn, không có đối lập, vừa đá bóng vừa thổi còi với cánh tay nối dài là Mặt trận TQ (chính là hậu thân của Mặt trận Việt Minh rồi Mặt trận Liên Việt).
Chính danh của Quốc gia VN
VNDCCH chỉ mới cướp chính quyền được có gần 1 tháng ở SG, thì quân Anh đem theo quân Pháp quay lại giải giáp quân Nhật ở Đông Dương theo thỏa thuận của các nước đồng minh. Ngày 23/9, Pháp nổ súng chống lại Lâm ủy Nam Bộ, sau khoảng 1 tháng thì giành lại chính quyền ở các tỉnh Nam Bộ. Quân kháng chiến (VM và các phe phái không CS) rút vào rừng và nông thôn tổ chức kháng chiến.
Về lý thì quân đội đồng minh giải giáp Nhật mới là kẻ nắm chính quyền tại nơi giải giáp. Vì họ mới là những người khiến Nhật đầu hàng. Điều này diễn ra ở khắp các nước thuộc địa Nhật như Triều Tiên, Mãn Châu quốc, Ấn Độ, Myanmar...
Ở miền Bắc thì quân Tưởng có trách nhiệm giải giáp Nhật. Họ đem theo các thành viên đảng Việt Quốc, Việt Cách đang hoạt động ở TQ. 2 tướng của quân Tưởng là Tiêu Văn (có quen thân với ông HCM từ khi còn ở TQ), Lư Hán dàn xếp để VM chấp nhận 2 đảng này có 70 ghế ở QH mà không qua bầu cử. VM tổ chức tuần lễ vàng để có vàng đút lót 2 viên tướng này. Vì thế mà CP VNDCCH được quân Tưởng chấp nhận cho tồn tại với điều kiện là mở rộng thành phần cho phe QG. Lãnh tụ Nguyễn Hải Thần của Việt Cách được làm Phó CT Chính phủ. Lãnh tụ Việt Quốc là Nguyễn Tường Tam được làm Bộ trưởng Ngoại giao.
Ngày 28/2/1946, Pháp ký hiệp định Trùng Khánh với Tưởng, trao trả cho TQ thuộc địa Quảng châu loan và đường sắt Côn Minh. Đổi lại, Tưởng nhường cho Pháp quyền ra Bắc giải giáp Nhật.
Ngày 6/3/1946, đại diện của Pháp là Sainteny ký với CT HCM hiệp định Sơ bộ có nội dung đại khái là VN sẽ là 1 nước tự do (không phải là độc lập - DQC) trong LB Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp. Nam Kỳ sẽ sát nhập vào phần còn lại qua 1 cuộc trưng cầu dân ý và 1 số điều khoản cho phép quân Pháp ra Bắc giải giáp Nhật và lộ trình rút quân Pháp sau đó.
Phía VN CS cho rằng bản hiệp định này chính là sự công nhận của Pháp với CP VNDCCH. Nhưng cần hiểu rõ là Sainteny lúc đó chỉ có quyền hạn tương đương với Thống sứ Bắc Kỳ, mà ký Hiệp định với HCM. Có nghĩa là Pháp chỉ coi ông HCM ngang hàng với 1 Thống sứ lúc đó gọi là Ủy viên Cộng hòa, dưới Toàn quyền (lúc đó gọi là cao ủy). Hiệp định này lại bị phe Quốc gia cho là hiệp định bán nước của VM cho Pháp. Nhưng ý đồ của VM là lợi dụng việc quân Tưởng rút để đàn áp phe đối lập thân Tưởng và điều đó đã xảy ra khiến các thành viên đối lập trong CP phải bỏ trốn hoặc bị VM bắt/ám sát.
2 hội nghị tiếp theo là Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau bị đổ vỡ do VNDCCH đòi phải có độc lập và thống nhất (đòi Nam Kỳ), tất nhiên Pháp không chịu. Ông HCM phải ký với Bộ trường Bộ thuộc địa Pháp là Moutet bản Tạm ước 14/9 có nội dung gần giống với Hiệp định Sơ bộ 6/3, chủ yếu để câu giờ cho chiến tranh.
Ngày 19/12, VM nổ súng tấn công quân Pháp ở HN, do Pháp đòi giải giáp VM, chiến tranh nổ ra. Một năm sau, Pháp thấy không thể đàm phán hòa bình với VNDCCH nên đã nghĩ đến giải pháp khác để có 1 chính quyền của người bản xứ ở VN, do CP VNDCCH đã bỏ chạy vào chiến khu.
Cao ủy Pháp Bollaert và các phe nhóm Quốc gia không CS sang Hongkong thuyết phục cựu hoàng Bảo Đại quay lại chấp chính. Bởi vì trong giai đoạn đó, tính chính danh quân chủ đang là hợp lý nhất. Không thể có 1 cuộc bầu cử dân chủ trong hoàn cảnh chiến tranh và với dân trí 1 nước vừa thoát khỏi phong kiến. Trước đó De Gaulle đã tính đến giải pháp Duy Tân quay lại, nhưng ông này bị tai nạn máy bay chết.
Vua Bảo Đại là 1 người có học thức, hiền lành, không gây thù chuốc oán với phe nào, lại thoái vị dưới sức ép của VM. Vì thế khi ông quay lại làm Quốc trưởng QGVN thì vẫn có được chính danh quân chủ. Hơn nữa, QGVN có mô hình gần giống Đế quốc VN, tức là 1 chính thể nửa quân chủ chuyên chế nửa quân chủ lập hiến phôi thai, có chính phủ kiểu hiện đại nhưng chưa có quốc hội và hiến pháp. Tức là QGVN cũng có mầm mống của chính danh dân chủ.
Ngày 8/3/1949, với HĐ Elysee Bảo Đại ký với TT Pháp Aurion, như giữa 2 nguyên thủ, đánh dấu sự hình thành của QGVN, cùng với việc Nam Kỳ được sát nhập vào phần còn lại. Xem chi tiết ở stt về Quốc gia VN.
Đến đầu năm 1950, có hơn 20 nước phương Tây công nhận QGVN, cùng thời điểm đó VNDCCH mới được các nước XHCN công nhận, trước đó thì không được nước nào công nhận. Vì vậy, về sự công nhận quốc tế thì QGVN và VNDCCH là tương đương nhau.
Tại hội nghị San Francisco 1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu của QGVN tuyên bố chủ quyền 2 quần đảo HS và TS. Lúc đó CP VNDCCH vẫn ở trên rừng.
Hiệp định Geneva chia VN bằng vĩ tuyến 17, phía Nam do QGVN quản lý, bao gồm cả HS và TS. Phía bắc do VNDCCH quản lý.
Chính danh của đệ nhất VNCH
Ngày 23/10/1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm của QGVN tổ chức bỏ phiếu phế truất Bảo Đại. Ông Diệm dành thắng lợi với số phiếu là 98,2%, vẫn kém ông Hồ 0,2%, nhưng bị cho là gian lận!
Ngày 26/10/1955 khai sinh nước VNCH theo thể chế CH với hiến ước tạm thời.
Tháng 3 năm 1956, VNCH tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến và ban hành hiến pháp. Như vậy là VNCH là kế thừa của QG VN và có chính danh dân chủ do có bầu cử dân chủ, có hiến pháp và quốc hội.
Chính danh của đệ nhị VNCH
Tháng 9 và tháng 10/1967, sau gần 4 năm hỗn loạn sau đảo chính ông lật đổ đệ nhất CH, VNCH đã tổ chức bầu cử cả Tổng thống và QH lưỡng viện 1 cách dân chủ.
Như vậy đệ nhị VNCH kế thừa đệ nhất VNCH và có chính danh dân chủ. Tính chính danh này còn thể hiện ở việc VNCH đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, được hầu hết các nước phương Tây công nhận và là 1 bên ký HĐ Paris cùng với VNDCCH.
Vai trò của tính chính danh của chế độ cũ với việc đòi lại HS và TS với TQ
Mấy hôm trước, TQ đã có công hàm gửi LHQ tố cáo VN tranh chấp chủ quyền 2 quần đảo HS và TS. Trong đó, TQ đưa ra luận cứ mạnh mẽ nhất chính là công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, đã công nhận chủ quyền 2 quần đảo và hải phận 12 hải lý quanh đó là thuộc về TQ.
VN chỉ có thể từ chối sự hợp pháp của công hàm Phạm Văn Đồng bằng cách công nhận sự hợp pháp của QGVN. Vì lúc đó QGVN đang quản lý hợp pháp 2 quần đảo này và cũng đã tuyên bố chủ quyền trước đó.
VNCH là kế thừa hợp pháp của QGVN nên cũng nắm chủ quyền 2 quần đảo. CP Lâm thời CH MN VN nhận đầu hàng từ VNCH nên cũng kế thừa chủ quyền 2 quần đảo vào năm 1975. Năm 1976, CH XHCN VN được thành lập nhờ sự sát nhập của CH MN VN và VNDCCH, do đó cũng kế thừa chủ quyền 2 quần đảo.
Vì thế, CH XHCN VN chỉ có thể có căn cứ pháp lý để đòi lại HS TS từ TQ nếu công nhận tính hợp pháp của QG VN và VNCH. CP VN cần khẩn cấp công nhận chính thức 2 chế độ cũ, tuyệt đối không được dùng khái niệm Ngụy quyền. Vì điều đó phủ nhận tính chính danh của chế độ cũ, đồng nghĩa với VNDCCH đã có chủ quyền HS và TS, có nghĩa là công hàm PVĐ chính là văn bản bán nước.
Stt về tính pháp lý khi đòi HS và TS:
Công hàm của TQ về HS và TS
Stt về QG VN
Dương Quốc Chính

CHÌA KHÓA HỌC NÂNG CAO CON NGƯỜI LÀ: NÓI

 CHÌA KHÓA HỌC NÂNG CAO CON NGƯỜI LÀ: NÓI

( Nói là xương sống hạt nhân cơ bản của văn hóa con người)
Paul Nguyễn Hoàng Đức
*****
Vừa rồi Pháp là một trong vài chiếc nôi văn minh châu Âu và thế giới có tiến hành cải cách giáo dục với vài điều chính:
1- Không cho học sinh đem điện thoại đến trường: vì các em sẽ sao nhãng việc liên kết bạn bè, cá nhân và tập thể.
2- Dạy nói, hùng biện và đối thoại: để học trò học biết văn hóa đối thoại trao đổi lẫn nhau cũng như đưa ra thông điệp của mình.
3- Hát đồng ca: để tạo ra hiệu ứng tập thể và xã hội…
Ở đây, tôi xin bàn đến điểm chính là NÓI.
Nói tức là ngôn ngữ. Song song với nó cũng là chữ viết. Tóm lại: Nói là chữ viết không mực được thực hiện bằng miệng. Còn Chữ Viết là Nói bằng mực được thực hiện bằng tay (vì thế chúng ta sẽ không quá tách dời nói và viết).
Triết gia tổ phụ Aristote nói: “Trong việc học mọi ngành nghề, thì học chữ vẫn là lâu nhất!” Tại sao vậy? Vì học chữ tức là xây dựng chữ nghĩa, tư duy, lý thuyết và học thuyết để từ đó dẫn dắt những hành động chuyên ngành của mình. Vì công thức của mọi thành công ở đời mà người phương Tây rút ra là: 1- nắm vững lý thuyết, 2- thực hiện thành thục. Thời trước, các bác sĩ của Việt Nam muốn giỏi tay nghề, thì hiển nhiên phải giỏi tiếng Pháp. Xa hơn nữa các thầy thuốc Đông y giỏi thì phải thạo tiếng Tàu.
Triết gia tổ phụ Platon cũng nói: “Con người tư duy bằng ngôn ngữ, vì khi tư duy, người ta đặt câu hỏi rồi trả lời trong não, đều là ngôn ngữ cả”. Và Platon chính thức đặt ngôn ngữ lên cao nhất trong các môn khoa học. Ông nói: Chỉ có Biện chứng pháp (Biện là Nói. Biện Chứng pháp là cách Nói) mới bàn định được về thiện – ác, rồi đạo đức của con người. Trong khi đó, đạo đức với con người là cao nhất, thì biện chứng pháp cũng là cao nhất!
Người Việt cũng nghĩ nhiều về ngôn ngữ. Chẳng hạn coi thường đám ăn nói ú ớ bất tài “ăn không nên đọi, nói không nên lời”, rồi “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết!” nghĩa là ra cửa quan là nơi công đường, người ta phải ăn nói, trình bày cho cho quan phủ có học nghe, nên lộ ra ngay tài ăn nói. Và: “Miệng kẻ sang có gang có thép, đồ kẻ khó vừa nhọ vừa thâm”, có nghĩa: với người có học, biết nói năng đàng hoàng đĩnh đạc, thì họ mang sức mạnh như gang thép, còn thứ vớ vẩn thì nhìn xấu xí… Người Việt cũng xác định: “Học ăn, học Nói” là tiêu chí đầu tiên của con người.
Triết gia Platon cũng khẳng định Biện chứng pháp là khoa học (dường như thuần khiết) duy nhất nhưng cao nhất của con người. Trong tất cả các môn khoa học, thì ngay cả việc chứng minh các phát minh hay công thức, người ta đều phải Nói, phải dựa trên logic – cũng tức là nói để biện giải hay minh định có lý: tại sao lại là như vậy.
Việc người Pháp đề cao dạy trẻ con Nói và đối thoại, nghĩa là trau dồi cho các trò kỹ năng trực tiếp làm người. Ở đó các trò xây dựng văn hóa đối thoại, nhường và nghe nhau nói để tìm ra cái Lý của mọi việc. Trong khi đó người châu Á xưa nay chẳng bao giờ dạy người ta ăn nói, trình bày hay đối thoại. Đối thoại nghĩa là phải: có người nói, có người nghe. Á Đông thường để các cụ già nói trước, cha chú rồi thủ trưởng thường cậy tuổi, cậy quyền ăn nói hiếp đáp kẻ dưới, chẳng hạn thường bảo “ngươi tuổi gì mà nói” hay “còn chưa đến lượt ngươi”… Còn nhiều loại chém gió huyên thuyên bát sát, tranh nói cả buổi mà chẳng có ý tưởng nào. Người Việt cũng có một thói xấu là: “Được ăn, được nói, được gói mang về”. Cái gì cũng chia đều, khi gặp mặt nhau, không chỉ tranh ăn, còn tranh nói… coi như tôi có suất được nói giống mọi người được ăn, thế là trong đầu chẳng có ý tưởng gì cũng nói lấy được. Nói để che lấp cái khôn ngoan của người khác bằng sự huyên thuyên của mình. Vì thế người Pháp dạy các trò nói và văn hóa đối thoại là hết sức cần thiết. Ở đó trẻ em vừa xây dựng lý trí khả lý, lại vừa làm quen với chia sẻ cộng đồng, đó cũng là óc dân chủ biết tôn trọng ý kiến của người khác.
Người Việt rất đề cao ngôn ngữ trong câu ca dao:
Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
Còn người Ả Rập thì xác tín mạnh mẽ qua châm ngôn: “Mực của học giả còn quí hơn máu kẻ tử đạo”. Việt Nam chúng ta hiện nay, hình như chưa có bộ môn dạy trẻ con Nói, hùng biện… cũng có nghĩa chúng ta chưa dạy học trò làm người căn bản cũng như người vươn đến đỉnh cao. Từ triết lý của các triết gia cũng như Pháp là quốc gia văn minh, tôi viết bài này để nhắc nhở rằng: Chúng ta còn chưa dạy môn khoa học đích thực cao nhất là Nói – Hùng biện – cũng là Biện chứng pháp cho học trò. Nếu không biết nói năng chững chạc, đĩnh đạc, thì các thảo dân của chúng ta sao có thể gột bỏ những xó máy cóc cáy để trở thành ông chủ - công dân lập hiến tầm cao?!
Paul Đức 18/10/2021

BỘ TRƯỞNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC

 BỘ TRƯỞNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC

Kế hoạch hôm nay đi thăm cựu Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc không thực hiện được. Tôi ngồi nhà viết tản mạn vài câu chuyện vặt về Ông. Xin post lên đây, ai thích thì đọc nhé.
1/ Một Bộ trưởng khác người
Đầu năm 1993 chúng tôi trở về nước từ Liên Xô (cũ). Lúc này Thầy Lộc đã về làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp được hai năm. Về cái sự làm Bộ trưởng của Thầy Lộc cũng khá thú vị. Tôi có cái may mắn được chứng kiến “hiện tượng lạ” của Ngành Tư pháp suốt 20 năm: Hai đời bộ trưởng liền nhau không là “trung ủy”. Mặc dầu vậy, tôi và hầu hết mọi người trong giới luật gia Việt Nam rất mừng vì Đảng và Nhà nước ta đã chọn đúng hiền tài để góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền trong thời kỳ đổi mới. Tôi nghe kể rằng trước khi được “đưa về” làm Bộ trưởng Tư pháp, Thầy Lộc vẫn chưa biết gì cả. Trong một lần Thầy giảng bài ở đâu đó, có người hỏi: Có phải Thầy sắp về làm Bộ trưởng Tư pháp không? Thầy trả lời rằng không biết!. Về sau, trong một lần mấy người ngồi uống bia hơi với Bộ trưởng Lộc, vui mồm hỏi rằng “Anh lên bộ trưởng có phải mất gì không?”. Trả lời: Nói thật là tớ chẳng mất một điếu thuốc!. Sau này có lãnh đạo nghe được câu nói đó đã rất khó chịu với Bộ trưởng Lộc. Thì ra ở đời còn có một thứ “bất công” khác mà chỉ người trong cuộc mới biết: Cùng chức bộ trưởng như nhau nhưng có người phải mất tiền, có người “không mất một điếu thuốc” là sao?. Nếu như ở thời buổi hiện nay thì “hiện tượng” này chỉ có thể xảy ra đối với các “hoàng tử đỏ” - những người đem lại “hồng phúc cho dân tộc” mà thôi. Không chỉ có thế, khi hết nhiệm kỳ thứ nhất có kẻ rắp tâm chiếm bằng được chiếc ghế Bộ trưởng của Ông,mọi việc tưởng chừng như đã an bài và kẻ đó đã mở tiệc ăn mừng, cắt đặt nhân sự ... vậy mà đến “phút tám chín” cấp trên vẫn quyết Ông Nguyễn Đình Lộc làm tiếp nhiệm kỳ Bộ trưởng thứ hai. Thế là “Kẻ đảo chính” mất cả chì lẫn chài, ra đi trong nhục nhã.
2/ Một Bộ trưởng khắt khe, cần mẫn trong công việc
Không chỉ tôi mà hầu hết anh em cấp vụ dưới thời Bộ trưởng Lộc đều có chung nhận xét rằng làm việc với Ông rất mệt nhưng trưởng thành lên rất nhanh, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng pháp luật. Không chỉ là người có trí tuệ uyên bác mà còn là một cây viết luật rất chuyên nghiệp nên ông đòi hỏi mọi người rất khắt khe. Có một lần, từ cuộc họp Chính phủ về, Ông cho gọi một vị Vụ trưởng lên làm việc ngay giữa ban trưa. Ông mang cái Dự thảo nghị định ra cùng trao đổi với vị Vụ trưởng về một vài chỗ câu , từ còn “chưa ổn” rồi Ông cầm bút để chỉnh sửa. Vị Vụ trưởng phần muốn để cho Ông có thời gian nghỉ trưa, phần cho rằng đó là việc của chính mình nên buột miệng: Thôi ! Anh nghỉ đi ! Việc này là của em. Ông dừng bút, nhìn vị Vụ trưởng rồi nói:
Việc của cậu nhưng tớ là người chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ và Thủ tướng nha!. Nói xong Ông vừa cười vừa viết tiếp.
Một lần, sau buổi họp giao ban cấp vụ kết thúc lúc 5 giờ chiều, Ông vội vàng ôm áo, xách cặp chạy ra xe đang nổ máy chờ sẵn. Thấy tôi Ông bảo: - Tớ đi Quảng Bình đây!. Bác định đi cả đêm sao? - Tôi hỏi. Ông trả lời tỉnh bơ: - Vào Thanh Hoá ăn tối rồi đi luôn để kịp sáng mai làm việc.
3/ Bộ trưởng phát biểu không cần giấy
Để ý qua các cuộc họp giao ban khi đến phần kết luận của Bộ trưởng chẳng bao giờ thấy Ông cầm đến giấy tờ, sổ sách gì cả. Mọi người bảo Ông là “nói vo”. Ông nói vo nhưng rành rọt từng vấn đề, từng ý tứ và không bao giờ Ông quên những điều mình đã kết luận. Việc thể hiện thành giấy trắng, mực đen là việc của Thư ký.
Ngay cả Hội nghị tổng kết công tác của Ngành Tư pháp, khi phát biểu kết luận Ông cũng chẳng mấy khi nhìn vào Bản đánh máy đã được Tổ thư ký chuẩn bị công phu. Ông cứ đứng vậy, mắt nhìn thẳng xuống Hội trường, miệng nói mà như đọc. Đôi khi cần nhấn mạnh vấn đề nào đó trong Kết luận của mình thì Ông dừng lại vài giây rồi nói: “Chỗ này tôi xin nhấn mạnh một chút...” hoặc “Chỗ này tôi xin mở rộng ý một chút...” rồi Ông lại tiếp tục nói rành rọt, suôn sẻ như đọc. Một lần trong Hội nghị tổng kết ngành, khi giải đáp những vướng mắc của các địa phương, sau khi nêu một câu hỏi của địa phương nào đó, Ông dừng lại một chút rồi nói: “Vấn đề này tôi còn nhớ trong Hội nghị lần trước tôi đã giải đáp như thế này ...”. Lúc ấy, ngồi cạnh tôi là một vị Giám đốc Sở bèn lắc đầu “ Chịu Cụ thôi ! Nhớ dai thế !”.
4/ Bộ trưởng ham đọc sách
Còn nhớ hồi đầu 1993, tôi và Lê Mạnh Luân (sau này là Phó Ban Nội chính Trung ương, Đại sứ Việt Nam tại Taskent) vừa từ Liên Xô (cũ ) về nước đến thăm Thầy tại Bộ Tư pháp. Khi đến cổng Bộ mới nhớ ra và hỏi nhau có quà gì tặng Thầy không?. Luân mở cặp ra thì có chiếc cà vạt, tôi thì có quyển sách. Hai thằng cười bảo: Đúng “gu” của Thầy rồi. Khi gặp thầy, sau “màn chào hỏi” và chúc mừng thì Bộ trưởng hỏi độp ngay một câu: Các cậu vừa bên đó về có mang theo được nhiều sách không? Tôi vội vàng mở cặp lấy ra quyển sách tiếng Nga nói về Stalin để giới thiệu với Thầy. Ông cầm xem tên và bìa quyển sách rồi bảo: Cho tớ mượn nhé! Chiều mai tớ đi Pháp, lên máy bay tớ đọc. Ông còn nói thêm: Tớ mượn thôi! Tớ không xin đâu!.
Sau này tôi có lệ cứ chừng 27 - 28 Tết âm lịch là đến chúc Tết Thầy và kèm theo quà là một quyển sách và một chai rượu vang để Thầy thư giãn trong những ngày nghỉ Tết. Sách thì tôi nhờ Nhà văn Đoàn Tử Huyến, bạn thân của tôi chọn cho trong số những quyển sách văn học nổi tiếng nhất thế giới của năm đó. Nếu là Tác phẩm đoạt Giải Nobel thì càng tốt. Có lần tôi mang tặng Ông mấy tập “Lịch sử Trung Quốc 5000 năm”. Đó là những tập sách kể về lịch sử Trung Quốc thông qua các câu chuyện lịch sử nổi tiếng có thật. Ông xem lướt qua rồi hỏi tôi: - Thất đã đi Trung Quốc chưa nhỉ?. Tôi nói vui rằng đi chính thức theo Đoàn công tác thì chưa nhưng đi du lịch sang vùng giáp biên ngồi nhậu với mấy ông Tầu trong chợ thì nhiều rồi.
Ông trầm ngâm một lúc rồi bảo tôi: Vậy là tốt! Mình không thể học theo cách của Trung Quốc được đâu! Họ là đất nước một tỷ tư dân cơ mà!. Sau này tôi hiểu thâm ý của Ông mà không tiện nói ra đây. Nhưng qua đợt dịch Covid 19 cùng với cách xử lý của Chính quyền
Trung Quốc tôi càng hiểu sâu thêm cái ý của Ông.
5/ Niềm vui nhân đôi
Đó là khoảng cuối năm 1999. Chỉ nhớ hồi ấy xảy ra một trận lụt rất lớn ở Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng. Sau lụt thì phong trào ủng hộ đồng bào vùng lũ lụt rầm rộ khắp cả nước. Một hôm, tôi được Văn phòng báo cho biết là có khách nước ngoài xin gặp. Theo quy định của Bộ thì tiếp khách nước ngoài phải có ít nhất hai người. Tôi cùng cô Thu Hằng (chuyên viên) xuống tiếp. Khách là ông Phạm Bá Ngà, Việt kiều ở Pháp về cùng Đoàn cứu trợ của “Hội hạt gạo Việt Nam”. Nhân thể ông Ngà muốn nhận một đứa trẻ Việt Nam làm con nuôi nên Ông muốn nhờ Bộ Tư pháp hỗ trợ. Tôi thấy việc ông Ngà trình bày là phù hợp với pháp luật nên hứa là sẽ có công văn cho địa phương. Kết thúc tiếp khách Ô Ngà tặng tôi một túi quà. Tôi nói với Ông: Tôi là công chức nhà nước, lại là công chức Bộ Tư pháp trong khi Pháp lệnh cán bộ công chức (hồi ấy chưa có Luật) không cho phép chúng tôi nhận quà biếu. Ô Ngà nói: Đây là quà của Ông tặng tôi với tư cách cá nhân. Tôi bảo: Nhưng lúc này tôi đang thi hành công vụ nên không thể nói là cá nhân được. Ông ấy lại bảo tôi là hãy bước ra bên ngoài cổng Bộ (25A Cát Linh) để nhận quà với tư cách cá nhân. Tôi bảo: Bây giờ đang trong giờ hành chính, tôi không thể ra ngoài cổng nếu không phải là thi hành công vụ. Ông Ngà đuối lý đứng thẫn thờ rồi Ông nói thật rằng: Khi ông ở Pháp về, nhiều bạn bè khuyên Ông rằng về Việt Nam đến bất kỳ cơ quan hành chính nào cũng phải có quà thì mới được việc; nay tôi không nhận quà thì có nghĩa là tôi sẽ không giải quyết việc cho Ông. Tôi thấy Ông tội nghiệp quá nên bảo Ông mở túi quà ra để tôi chọn một món quà nhỏ nhất. Ông Ngà mở túi ra tôi thấy có một gói kẹo. Tôi bảo tôi xin gói kẹo này và đem cho cô Thu Hằng mang lên chia cho mọi người. Thế là vui vẻ hai bên chủ - khách. Khi cô Hằng mang gói kẹo lên Vụ mở ra thì hoá ra không phải là kẹo mà là một hộp xì gà. Thế là mỗi anh em nam giới được chia một điếu. Chừng dăm ngày sau, buổi sáng đến Cơ quan, tôi gặp Bộ trưởng Lộc tại sảnh. Ông bảo tôi ghé qua phòng Ông ở tầng hai có chút việc. Tôi theo Ông vào phòng, sau khi Ông tự tay rót trà mà chị phục vụ đã pha sẵn, đưa tận tay cho tôi. Tôi thấy cử chỉ của Ông hơi “lạ” nhưng không dám hỏi. Sau khi tôi nhấp ngụm trà, Ông cất giọng: Vừa rồi Thất có tiếp Ông Phạm Bá Ngà phải không? Tôi trả lời là có tiếp và nhân đó báo cáo Ông về công việc của Ông Ngà nhưng Bộ trưởng cắt ngang lời tôi và bảo: Tôi biết rồi! Ông Ngà đã nói với tôi. Nhưng hôm nay tôi gọi Thất vào đây là để cám ơn Thất vì đã xử sự rất tốt nên Bộ trưởng cũng được thơm lây. Ông ấy (tức Ông Ngà) đã cám ơn tôi vì có những cấp dưới tuyệt vời. Nói ra những lời ấy tôi thấy nét mặt của Bộ trưởng rất xúc động. Tôi hiểu Ông đang mơ gì về một nền công vụ./.
Trần Thất
Nguyên Vụ trưởng, Bộ Tư pháp