Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

50 NĂM NHÌN LẠI CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN NĂM 1968 QUA MỘT SỐ VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG

 

50 NĂM NHÌN LẠI CUỘC TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY

TẾT MẬU THÂN NĂM 1968 QUA MỘT SỐ VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG

 

ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền

 

Tóm tắt:

Xuân năm 2018 này, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta long trọng kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Với tinh thần “ôn cố tri tân” bài viết trình bày về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thông qua một số văn kiện chủ yếu của Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay) – nguồn sử liệu quan trọng và tin cậy để tìm hiểu về lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

Từ những văn kiện cho thấy, quan điểm của Đảng lúc bấy giờ về tổng tiến công và nổi dậy trong năm 1968 là thực hiện một cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa. Đó là một cuộc tổng tiến công chiến lược kết hợp đồng thời tiến công quân sự với tiến công chính trị và ngoại giao, kết hợp với khởi nghĩa của quần chúng nhân dân, thực hành ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, liên tục tiến công, truy kích, tiêu diệt địch nhằm cướp chính quyền của giặc và xây dựng chính quyền mới. Những thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống lại chiến lược “chiến trành cục bộ” của Mỹ - Ngụy là cơ sở quan trọng để Đảng xác định hướng tổng công kích vào các thành thị. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân có ý nghĩa bước ngoặt, tạo điều kiện và tiền đề quan trọng dẫn tới chiến thắng cuối cùng vào mùa xuân năm 1975.

1. Vấn đề về tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968

Tổng khởi nghĩa đã diễn ra trong Cách mạng tháng Tám (1945), nhưng vừa tổng khởi nghĩa và tổng công kích thì chưa có tiền lệ. Để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thành công, chúng ta sẽ tổng công kích đồng thời với tổng khởi nghĩa hay tổng tiến công và nổi dậy? Điều này được Bí thư thứ nhất Lê Duẩn giải thích (1/1968): “Chúng ta cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa là một quan niệm mới. Ta có khởi nghĩa từng phần tiến lên, phấn đấu từ du kích chiến tranh nhân dân tiến lên đấu tranh quân sự, chính trị song song, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa… Khởi nghĩa mới giải quyết về chính trị, quân sự chưa mạnh đâu, sau phải đánh giặc nữa, đánh lâu mới thắng được… thế giới chỉ có công kích hay khởi nghĩa không thôi. Công kích, khởi nghĩa là việc riêng biệt của Việt Nam làm bây giờ… Cuộc khởi nghĩa của ta không phải chỉ cướp chính quyền đô thị, mà còn để đánh giặc, để chiến đấu, để phá hết tất cả lực lượng của nó, đồng thời xây dựng chính quyền[i]. Nghi quyết Hội nghị lần thứ 14 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (1/1968) một lần nữa nêu rõ quan điểm của Đảng về tổng công kích, tổng khởi nghĩa: “Cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất mãnh liệt và phức tạp, kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, thực hành ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và phối hợp với tiến công ngoại giao. Đó là một giai đoạn bao gồm nhiều chiến dịch lớn của lực lượng vũ trang cách mạng ở các vùng chiến lược quan trọng kết hợp với những cuộc nổi dậy dưới nhiều hình thức của quần chúng nhân dân cách mạng ở các thành thị và vùng nông thôn còn bị tạm chiếm, bao gồm những cuộc công kích kết hợp với những cuộc khởi nghĩa tại “đô thành” của địch và các thành phố lớn, đặc biệt là các thành phố X, Y, Z, nơi tập trung bộ máy quân sự và hành chính đầu não của địch[ii]. Trong Nghị quyết này Đảng ta nhấn mạnh: “Tổng công kích và tổng khởi nghĩa là một quá trình liên tục tiến công, truy kích, tiêu diệt và đánh đổ địch về quân sự và chính trị, đồng thời cũng là quá trình địch phản kích ác liệt để giành giật và chiếm lại những vị trí chiến lược quan trọng đã mất[iii].

2. Điều kiện cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào các đô thị trong Tết Mậu Thân 1968

Từ năm 1965, Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”, dùng sức mạnh của quân Mỹ cùng đồng minh và quân đội Việt Nam Cộng hòa để mở các cuộc hành bình lớn nhằm “bẻ gãy xương sống Việt Cộng” ở miền Nam. Lần đầu tiên, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đem lực lượng quân nhiều nhất đi xâm lược với kế hoạch 3 giai đoạn: Giai đoạn 1, phá kế hoạch mùa mưa của ta, “chặn chiều hướng thua” bảo đảm triển khai nhanh lực lượng quân viễn chinh Mỹ; Giai đoạn 2, mở các cuộc phản công chiến lược tìm diệt chủ lực ta và kiểm soát vùng nông thôn; Giai đoạn 3, hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực của ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967, đồng thời dùng không quân và hải quân leo thang đánh phá, “đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá” để đè bẹp cách mạng Việt Nam. Biện pháp quân sự chủ yếu ở miền Nam là chiến lược hai gọng kìm “tìm và diệt”, sau đó là “tìm diệt  bình định” với hy vọng trong vòng khoảng 30 tháng sẽ thành công. Tuy nhiên, chiến lược này đã bị chúng ta từng bước đánh bại.

Ngay từ khi bước vào cuộc chiến chống lại “chiến tranh cục bộ”, Đảng ta đã chú ý đến độ thị. Bức điện mật của Bộ Chính trị (22/4/1966) chỉ rõ: “Ở miền Nam, mấy năm nay, phong trào quần chúng ở đô thị luôn dựa vào các mâu thuẫn trong nội bộ địch mà vùng lên. Tình hình ấy sau này cũng còn như vậy,… điều kiện cơ bản để làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, chủ yếu là ngụy quân, là đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt quân Mỹ và quân ngụy kết hợp chặt chẽ với công tác địch vận và câc cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn của hàng triệu quần chúng ở đô thị”[iv]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ tư (3/1966) cũng nhận định: “Ở một số đô thị lớn, hình thức phá kìm kẹp bằng chính trị và vũ trang của quần chúng đã bắt đầu xuất hiện… và có kết quả tốt[v]. Tuy vậy, cho đến năm 1966, Đảng ta vẫn chưa xác định hướng tổng công kích chủ yếu của ta là các đô thi. Nghị quyết của Khu ủy Khu V (20/3/1966) cho biết tình hình công tác thành thị từ Huế đến Nha Trang vẫn còn nhiều nhược điểm: “nói chung đặt ra chậm, chỉ đạo công tác thành, thị chưa sâu sát. Trừ Huế, các thành, thị khác đều chưa xác định tư tưởng xây dựng lực lượng lãnh đạo và hoạt động bên trong là chính[vi].

Để tạo ra thời cơ, Bộ Chính trị đã ra nghị quyết (10/11/1966), xác định nhiệm vụ lúc này là: “toàn bộ công tác đô thị phải nhằm đẩy mạnh đấu tranh chính trị, ra sức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang tích cực chuẩn bị về mọi mặt tư tưởng, chính trị, tổ chức và vật chất đặng kip với đấu tranh quân sự tiến lên thực hiện tổng công kích tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến[vii].

Mặc dù đạt được nhiều thắng lợi nhưng Đảng nhận thấy đến đầu năm 1967 tình hình vẫn chưa cho phép chúng ta chĩa mũi nhọn vào các đô thị. Trong bản Đề cương báo cáo tại Hội nghị Trung ương bàn về một số vấn đề chỉ đạo chiến lược (1/1967), Đảng đã nhận thấy “lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn[viii]. Điều này được khẳng định lại trong Nghị quyết của Bộ Chính trị (27/1/1967): “Ở miền Nam, phong trào đấu tranh chính trị chưa tiến kịp với đấu tranh quân sự. Công tác đô thị chưa đáp ứng kịp yêu cầu của tình hình ngày càng phát triển nhanh chóng. Về tác chiến và xây dựng lực lượng, chúng ta chưa phát huy hết khả năng của chiến tranh du kích, chưa chú trọng trang bị đủ vũ khí tốt cho du kích và bộ đội địa phương để đẩy mạnh chiến tranh di kích hơn nữa, chưa xây dựng bộ đội chủ lực mạnh cả về chất lượng và số lượng, trang thiết bị và thể lực để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới[ix]. Trung ương Cục cho biết thêm: “Thời gian qua, công tác đô thị của ta có một số tiến bộ nhưng nhìn chung cón yếu, chưa theo kịp tình hình. Do đó trước mắt, ta phải hết sức khẩn trương tăng cường chỉ đạo công tác đô thị tận dụng những thuận lợi, khả năng to lớn hiện nay để làm cho phong trào đô thị có bước chuyển biến mạnh[x]. Dựa trên diễn tiến tình hình, đầu năm 1967, Đảng dự đoán Mỹ có thể tăng số quân lên tới 60, 70 vạn hoặc hơn nữa vào những năm 1967 - 1968 “nhằm đánh nhanh, thắng nhanh[xi]. Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (5/1967), Trung ương Cục miền Nam dự đoán: “Trên chiến trường miền Nam, trong năm 1967 - 1968 Mỹ sẽ ra sức tăng quân, tăng vũ khí phương tiện để… đẩy mạnh chiến lược hai gọng kìm,,... sẽ đưa cuộc “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam lên đến mức cao hơn, làm cho tình trạng chiến tranh ở cả hai miền nước ta càng thêm ác liệt hơn[xii]. Từ đó, Trung ương Cục nhấn mạnh, “Công tác đô thị sắp tới có một ý nghĩa đăc biệt quan trọng[xiii]Như vậy, những thắng lợi của ta trong việc đập tan những cuộc hành binh hai mùa khô và những thất bại của Mỹ - Việt Nam Cộng hòa trong bắn phá miền Bắc. Hơn nữa, theo báo cáo của Trung ương Cục thì từ giữa năm 1967, “tình hình ở các đô thi hiện nay đang có nhiều thuận lợi cho ta tiến hành nhiều kiểu cách phá kìm kẹp dưới nhiều mức độ ở ngoại ô các đô thị, tạo ra một tình thế thuận lợi để tiến lên tổng công kích tổng khởi nghĩa[xiv]. Đây chính là cơ sở quan trọng để Đảng quyết tâm tập trung hướng tấn công vào đô thị.

3. Vấn đề về thời cơ tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong Tết Mậu Thân 1968

Việc xác định thời cơ cho một cuộc tổng tiến công và nổi dậy có vai trò quan trọng. Nắm đúng thời cơ, chúng ta sẽ thắng lợi, ít hao người tốn của. Đúng như Nguyễn Trãi xưa kia từng khẳng định: “Được thời mà có thế thì biến mất làm còn, hoá nhỏ thành lớn; mất thời mà không thế thì trở mạnh ra yếu, đổi yên làm nguy, chỉ ở trong khoảng trở bàn tay mà thôi[xv].

Khi bàn về sự cần thiết của tổng công kích, trong bài phát biểu của mình (1/1968), Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khẳng định, ta “phải chuyển qua tổng công kích, tổng khởi nghĩa, có khả năng đè bẹp ý chí xâm lược của nó; làm nó tan rã thật sự, nó phải đi đến ngồi với ta[xvi]. Nhưng vấn đề là chọn thời điểm nào cho đúng? Nếu chọn đúng thời cơ, chúng ta sẽ giành thắng lợi nhanh chóng, ít tổn thất và ngược lại. Trong Nghi quyết Hội nghị lần thứ 14, Trung ương Đảng nhận thức: “Tiến hành tổng công kích và tổng khởi nghĩa không phải trong điều kiệu kẻ địch đã kiệt quệ mà là trong những điều kiện như: về mặt quân sự, địch còn trên một triệu quân và một tiềm lực chiến tranh lớn, nhưng đội quân đó đã liên tiếp thất bại về chiến lược và chiến thuật, quân số tuy đông nhưng tinh thần bạc nhược và bắt đầu suy sụp; về mặt chính trị, địch đang lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng, chúng tỏ ra không thể thống trị nhân dân miền Nam được nữa và nhân dân miền Nam cũng không chịu sống dưới ách thống trị của chúng nữa; lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh về mọi mặt, đôi quân chính trị quần chúng của ta rất hùng hậu; đại bộ phận quần chúng nhân dân trong các vùng tạm chiến đã được rèn luyện và thử thách qua nhiều năm đấu tranh gay go và đã tỏ rõ quyết tâm cách mạng[xvii].

Đầu năm 1968: “về so sánh lực lượng: 1962 - 1963, địch 5 ta 1; nhưng từ 1965 đến bây giờ: Mỹ nửa triệu người nữa, tất cả, đến bây giờ, địch 3, ta 1. Đó là số quân đấy, nhưng về lực lượng cơ động, bây giờ ta 1, địch 0,5… Như vậy ta mới nói về quân sự, nói vài con số như vậy rõ ràng đó là về quân sự nó thua rồi. Còn về mặt chính trị, chưa bao giờ địch lại rối loạn, thua như bây giờ… Chưa lúc nào, mâu thuẫn trong nội bộ nó và quần chúng đô thị chống lại chúng mạnh như bây giờ… Chưa có nước nào bị cô lập ghê gớm như Mỹ bây giờ trên thế giới[xviii]. Đảng khẳng định lúc này ta đã làm chủ được vùng đô thị: “Mùa mưa vừa rồi, ta đã đánh hơn 40 thị trấn, thị xã lớn nhỏ. Đó là chuyện mới, ta đánh vào Huế và nhiều thị trấn khác. Tình hình xưa nay, ta đã chuyển hướng như vậy từng bước tiên lên[xix]. Về khả năng, “ta vào Sài Gòn đánh vài ba tháng ta ra cũng được, không có chuyện gì… về quân sự, Trung ương nói, ở miền Nam cũng như ở cả nước, chưa có lúc nào ta sung sức như bây giờ, ta vững như bây giờ, khí giới có thể đánh hàng năm trời, lương thực cũng vậy… Còn về chính trị,… Hiện nay ở đô thị, đã có từng chòm, phường ấp ta làm chủ. Hầu hết đô thị đều sôi nổi, coi như bây giờ không có con đường nào khác, phải khởi nghĩa, phải đánh đổ Mỹ”[xx]Bí thư thứ nhât Lê Duẩn khẳng đinh: “Tiền đề đã có rồi. Chính trị, quân sự ở đô thị đã lên rồi, bố trí lực lượng xung quanh đô thị đã làm rồi, các mũi nhọn quân sự được ta đẩy lên… Vì vậy, chính bây giờ chúng ta không đề ra cái này là bỏ lỡ cơ hội, rồi phong trào sẽ lừng chừng, sẽ nguy hiểm, lúc đang thắng thế này”[xxi]Nghi quyết Hội nghị lần thứ 14 (1/1968) Trung ương cũng nhận định: “Mỹ đã phải chuyển sang thực hiện chiến lược hai gọng kìm vừa tìm diệt vừa bình định… Đó là sự chuyển hướng từ thế phản công chiến lược sang thế bị động phòng ngữ về chiến lược; đó là một bước thụt lùi về chiến lược của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam… Việc đế quốc Mỹ phải chuyển sang thế bị động phòng ngự về chiến lược trong “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, cộng với sự thất bại cơ bản của chúng trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, là một thất bại lớn về chiến lược của đế quốc Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam[xxii]. Đặc biệt, Đảng khẳng định quân ta đang đánh bại bước phát triển cao trong “chiến tranh cục bộ” của Mỹ: “Chúng ta đã thắng cả về chiến lược lẫn chiến thuật và thế lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết… Hàng triệu quần chúng sôi sục cách mạng và sẵn sàng vùng lên, sẵn sàng hy sinh tất cả… Nhân dân lao động miền Nam, nhất là công nhân ở Sài Gòn – Chợ Lớn, đang vùng dậy mạnh mẽ, mở ra một khí thế mới đấu tranh quyết liệt chống Mỹ và tay sai trong các thành thị”[xxiii]. Ngược lại, “quân ngụy hiện nay không còn đủ sức làm nhiệm vụ “bình định”, còn Mỹ và quân chư hầu thì không thể làm được nhiệm vụ “tìm diệt” có hiệu quả nữa[xxiv]. Mặc dù còn một số khó khăn nhưng với quyết tâm cao độ, Trung ương Đảng vẫn khẳng định: “Nhưng điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và lợi thế, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn[xxv]. Nghi quyết Hội nghị lần thứ 14 kết luận: “Tình hình ấy cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giảnh thắng lợi quyết định[xxvi].

Như vậy, theo Đảng ta thì thời cơ sẽ xuất hiện khi hội tụ đủ các yếu tố sau:

- Kẻ địch đã kiệt quệ, lâm vào khủng hoảng trầm trọng;

- Nhân dân không chịu sống dưới ách thống trị nữa;

- Lực lượng của ta lớn mạnh về mọi mặt;

- Quần chúng nhân dân trong các vùng tạm chiến đã tỏ rõ quyết tâm cách mạng.

Xét trong hoàn cảnh thực tế, nếu chúng ta tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào thời điểm Tết Mậu Thân, chúng ta còn tạo ra được những yếu tố bất ngờ:

- Bất ngờ về thời gian. Tết là thời điểm nhạy cảm, quân đội Sài Gòn nghỉ phép nhiều, quân Mỹ và đồng minh cũng vừa qua lễ Noel và tết dương lịch nên tinh thần chiến đấu có giảm sút, lực lượng thường trực cũng xuống mức thấp nhất;

- Bất ngờ về mục tiêu. Để che dấu và đánh lạc hướng phán đoán của địch, chiều ngày 20/1/1968 chúng ta mở chiến dịch Khe Sanh, ngay sau đó tập trung tấn công toàn bộ các đô thị và căn cứ quan trọng sẽ tạo ra bất ngờ lớn cho địch;

- Bất ngờ về quy mô. Chúng ta biết rằng, cuối 1967 đầu 1968, giới chức Mỹ - Chính quyền Sài Gòn tỏ ra rất lạc quan không thể biết thực lực của ta, cho rằng chúng ta chỉ có thể tấn công quy mô nhỏ mà thôi. Trong cuộc họp kín với Ủy ban quân lực ngày 16/11/1967, Westmoreland còn tự tin khẳng định “có thể giành thắng lợi trong 2 năm[xxvii]. Người phụ trách chương trình bình định ở Việt Nam lúc này là Robert Komer cũng tuyên bố trong cuộc họp báo ở Sài Gòn ngày 24/1/1968: “chúng ta bắt đầu năm 1968 trong tư thế thuận lợi hơn bất kì thời gian nào trước đây[xxviii]. Vì vậy, nếu ta tổng nổi dậy, tổng công kích trên khắp chiến trường miền Nam, đặc biệt là đầu não của chúng, chắc chắn sẽ làm cho địch choáng váng, mất tinh thần.

Trước khi mở màn cuộc tổng tấn công, Đảng ta dự đoán 3 khả năng xảy ra:

a, Khả năng thứ nhất là ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, những cuộc công kích và khởi nghĩa của ta cuối cùng thành công ở các thành thị lớn,… đè bẹp ý chí xâm lược của địch, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng, đi đến kết thúc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta.

b, Khả năng thứ hai là tuy ta giành được những thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi, nhưng địch cố gắng tập trung và tăng viện thêm lực lượng từ ngoài vào, giành lại và giữ được những vị trí quan trọng.

c, Khả năng thứ ba là Mỹ động viên và tăng cường thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc, sang Campuchia và ở Lào, hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng[xxix].

Chúng ta nhận định: “Nếu tình hình diễn biến theo khả năng thứ hai, thì do những thắng lợi quan trọng mà chúng ta đã giành được, lực lượng ta không những không hề bị giảm sút, mà trái lại còn mạnh lên gấp bội về quân sự và chính trị[xxx].

Dự kiến thời gian diễn ra cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đồng chí Lê Duẩn nói: “có thể 3 tháng, 6 tháng, 1 năm… Cuộc này nếu ta làm tốt, ta đánh 2, 3, 4 tháng,… nếu ta đánh 3, 4, 5 tháng, nó đem quân vào, ta giữ không nổi, ta ra, không có vấn đề gì, lực lượng ta sẽ mạnh hơn, ta không mất mà sức ta tăng gấp 2, 3. Nếu mà giữ được thì kết thúc”[xxxi]. Nghi quyết Hội nghị lần thứ 14 cho rằng: “Giai đoạn tổng công kích và tổng khởi nghĩa sẽ kéo dài trong một thời gian nào đó hoặc có thể rút ngắn hơn, điều ấy tùy thuộc vào sự cố gắng chủ quan của ta và sự đối phó của địch. Nhưng trong tình hình địch chuyển vào thế bị động phòng ngự và đang tiến thoái lưỡng nan về chiến lược như hiện nay thì những cố gắng chủ quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của ta có tác dụng quyết định trực tiếp[xxxii]. Như vậy, theo Đảng ta thì thời cơ đã xuất hiện vào thời điểm tết Mậu Thân và sẽ tồn tại một thời gian tương đối dài, phụ thuộc chủ yếu vào hành động của chúng ta.

4. Chủ trương và nhiệm vụ của Đảng Lao Động Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của Trung ương Đảng chủ trương: “không chỉ phát động tổng công kích, mà còn đồng thời phát động tổng khởi nghĩa, tức là dùng lực lượng vũ trang mạnh của ta đánh vào các binh đoàn chủ lực của địch, đánh mạnh vào “đô thành” và các thành phố khác, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở thành thị và các vùng nông thôn còn tạm bị chiếm nổi dậy khởi nghĩa, phối hợp với các lực lượng vũ trang của ta để tiêu diệt và làm tan rã quân địch, đánh đổ các cơ quan đầu não của ngụy quyền, làm rối loại và tê liệt tận gốc bộ máy chiến tranh của Mỹ và Ngụy, biến hậu phương và dự trữ chiến lược của địch thành hậu phương và dự trữ chiến lược của ta, vừa liên tục tiến công tiêu diệt địch, vừa không ngững phát triển lực lượng ta về chính trị và quân sự, làm thay đổi mau chóng lực lượng so sánh một cách có lợi cho ta, không có lợi cho địch và giành thắng lợi quyết định về ta[xxxiii].

Về nhiệm vụ, Trung ương Đảng chỉ rõ:

“a, Tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

b, Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam.

c, Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng miền Nam là độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà[xxxiv]… “Đặc biệt, cuộc tiên công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn cuộc chiến tranh. Vì thế, tất cả những cuộc công kích và khởi nghĩa ở các vùng khác trên chiến trường miền Nam đều có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các thành thị và trợ lực đầy đủ cho các cuộc công kích và khởi nghĩa ở các thành thị lớn”[xxxv]Bên cạnh đó, “phải biết điều động lực lượng quân sự của địch ra các chiến trường quan trọng và sử dụng những quả đấm mạnh đánh quỵ các binh đoàn chủ lực của địch, đồng thời biết kịp thời phản công tiêu diệt địch[xxxvi].

Nhiệm vụ cụ thể về quân sự, “phải có kế hoạch kéo cho được lực lượng cơ động của địch ra ngoài để tiêu diệt và đánh mạnh vào các đơn vị chủ lực lượng của địch; mặt khác phải nhằm đúng hướng công kích chủ yếu là các thành thị,… Khi công kích vào các thành thị, phải lập tức kết hợp phát động quần chúng khởi nghĩa, nhanh chóng tổ chức và vũ trang quần chúng, lãnh đạo quần chúng tham gia vũ trang, đập tan chính quyền và các ổ đề kháng của địch, tước vũ khí địch, nhanh chóng tổ chức tốt việc phòng thủ thành phố,… Cần dựa trên cơ sở hàng triệu quần chúng khởi nghĩa vũ trang,… làm thay đổi hẳn lực lượng so sánh giữa ta và địch trong một thời gian ngắn… phải thừa thắng xông lên, kiên quyết và liên tục truy kích quân địch cho đến toàn thắng”. Về chính trị, “phải nhanh chóng tổ chức chính quyền cách mạng của nhân dân. Chính quyền cấp huyện, quận, khu phố, xã phải do ta nắm hoàn toàn và phải dựa hẳn vào sức mạnh của nhân dân lao động. Ở trên, phải kịp thời thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc[xxxvii].

5. Kết quả, ý nghĩa của cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân

Chúng ta đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa to lớn đặc biệt trong giai đoạn thứ nhất của cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Cuộc tổng công kích Mậu Thân được mở màn từ đêm 29 rạng sáng 30/1/1968 (đêm mùng 1 Tết) chúng ta đã tấn công. Sang đêm 30 rạng sáng 31/1/1968, chúng ta đồng loạt tấn công trên toàn chiến trường, tập trung vào các đô thị[xxxviii]. Với lực lượng “ước chừng 84.000 người đã đột nhập vào 5 trên 6 thành phố, 36 trên 44 thị xã, 36 trên 242 huyện lỵ, 25 sân bay, nhiều kho tàng, ấp chiến lược, trụ sở chính qyền, trạm cảnh sát[xxxix]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục mở rộng lần thứ 5 (3/1968) ghi về thắng lợi của ta trong đợt 1: “Ta đã tiêu hao, tiêu diệt và làm tan rã độ 1/3 quân Ngụy, làm cho quân Ngụy gặp khó khăn rất nghiêm trọng,… làm cho sức chiến đấu và tinh thần của quân Mỹ bị giám sút rõ rệt,… đẩy ngụy quyền tới chỗ rệu rã;… thực hiện quyền làm chủ một thời gian nhứt định với mức độ khác nhau. Hiện nay vẫn đứng vững trên các vùng ven và duy trì thế hoạt động liên tục vây ép các vùng đô thị và căn cứ của địch”.[xl]

Cuộc tấn công làm địch thực sự choáng váng, Tổng thống Johnson buộc phải tuyên bố không ứng cử nhiệm kỳ thứ hai đồng thời chấp nhận sẽ chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chịu ngồi vào bàn đàm phán. Ngày 1/3/1968, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ MacNamara bị cách chức, sau đó Westmoreland cũng bị bãi quyền. Clark Clifford nhậm chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thay MacNamara tỏ ra hoang mang: “Tôi không biết bao giờ cuộc chiến tranh kết thúc, không biết nó kết thúc bằng cách nào,… Không biết liệu bao giờ quân đội Nam Việt Nam có thể thay thế được quân Mỹ[xli]. Cuộc tổng công kích đã buộc chuyển chiến lược “tìm diệt” sang “quét và giữ” và đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ. Nghị quyết của Bộ Chíh trị (8/1968) khẳng định: “Thắng lợi to lớn nhất là chúng ta đã tạo ra một sự thay đổi đột biến trong cục diện chiến tranh” [xlii]. Ngày 1/11/1968, Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá miền Bắc, “đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ[xliii]. Năm 1973, khi đánh giá về ý nghĩa của cuộc tổng công kích, một lần nữa Trung ương Đảng khẳng định: “Thắng lợi của cuộc tiến công Tết Mậu Thân là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra một bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ,… Ta đã giành thắng lợi to lớn này chỉ sau ba năm, kể từ khi địch chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, trong lúc địch đã có trên 20 vạn quân Mỹ, Ngụy và quân chư hầu trên chiến trường, … Sự kiện này chứng minh rực rỡ sức mạnh của phong trào cách mạng của quần chúng và sức mạnh của chiến tranh nhân dân ở miền Nam[xliv].

Mặc dù giành được thắng lợi nhưng cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa vẫn có những hạn chế.

Về khách quan, cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa diễn ra giữa cuộc chiến tranh trong điều kiện địch còn đông, được trang bị nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, mặc dù lúng túng về chiến lược, bị động về chiến thuật song trên thực tế vẫn chưa rơi vào tình trạng hoang mang đến cực độ. “Tổng số quân Mỹ - Ngụy và Đồng minh là 1.298.000[xlv]. “Trên chiến trường miền Đông, tính riêng khối chủ lực, 3 sư đoàn chủ lực quân giải phóng phải đối đầu với lực lượng tương đương 9 sư đoàn Mỹ - Ngụy, Đồng minh[xlvi]. Rõ ràng lực lượng so sánh thực tế chưa cho phép chúng ta giành thắng lợi quyết định trong chớp nhoáng.

Về chủ quan, trước khi tiến hành tổng công kích, Trung ương Đảng đã nhận thấy “Trong các vấn đề bổ sung tại chỗ lực lượng vũ trang, đánh tiêu diệt những đơn vị lớn của Mỹ, xây dựng thực lực chính trị và chỉ đạo phong trào thành thị. Chúng ta cũng còn có những khó khăn nhất định về hậu cần, về giao thông vận tại, về công tác ngụy vận, địch vận[xlvii]. Ngay khi cuộc tổng công kích đang trong ở cao trào (2/1968), Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã nhận thấy nguyên nhân của khuyết điểm “chủ yếu là do về mặt chỉ đạo chỉ huy, ta còn phạm khuyết điểm chủ quan đơn giản, tính toán kế hoạch chưa thật cụ thể tỉ mỉ và chưa dự kiến hết các tình huống có thể xảy ra, tác phong thâm nhập kiểm tra trong giai đoạn chuẩn bị chưa chu đáo[xlviii]. Trong Nghị quyết này, chúng ta cũng đã xác nhận cuộc tấn công của ta “chưa đạt yêu cầu về quân sự và chính trị. Nhiều tiểu đoàn mũi nhọn chưa vào được nội thành để tiếp sức cho các đội biệt động, do đó chưa dứt điểm các mục tiêu chính. Quân sự phối hợp chưa chặt, đánh chưa tốt nên chưa thành đòn xéo mạnh để quần chúng đứng lên khởi nghĩa[xlix]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này viết: “Do nhận thức và đánh giá chưa thật sát đúng tình hình, nên lúc chiến tranh đang diễn ra quyết liệt, địch còn khá mạnh là không sát thực tế. Cuộc tổng khởi nghĩa đã không diễn ra. Ta đã kéo dài cuộc Tổng tiến công vào các đô thị trong khi yếu tố bất ngờ không còn, địch đã củng cố. Ta đã chậm chuyển hướng về nông thôn rộng lớn  … Khuyết điểm, sai lầm ấy đã gây cho ta những tổn thất và khó khăn về sau” [l]. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (thời điểm đó là Phó Bí thư Trung ương Cục, kiêm Bí thư “khu trọng điểm”) cũng xác nhận: “Đúng là do ta giữ bí mật tuyệt đối để giáng đòn bất ngờ cho địch, quần chúng không nổi dậy diệt ác phá kìm giành quyền làm chủ khóm phường cùng lúc với lực lượng biệt động và các tiều đoàn chủ lực đánh vào các cứ điểm quy định[li]. Đồng chí Trần Bạch Đằng (thời điểm đó giữ chức Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Khu Trung tâm trong Mậu Thân, Phó bí thư Đảng ủy Tiền phương Nam, Bí thư Thành ủy Sài Gòn) cho biết tình hình ở vùng Sài Gòn – Gia Định: “Thời điểm đó, chúng tôi gặp một khó khăn rất lớn,… một số Khu ủy viên bị bắt,.. và một số cán bộ cốt cán khác, một mảng tổ chức quần chúng bị thiệt hại nặng do tên Ba Trà, Bảy Nhỏ, Ca Vĩnh Phối phản[lii]. Ngay cả ở miền Bắc, “những thành tích đó rõ ràng là chưa đủ để đáp ứng yêu cầu thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng… Công tác động viên sức người, sức của cho tiền tuyến chưa tập trung, chưa khẩn trương đúng mức cần thiết[liii]. Vì vậy, mặc dù chúng ta “đã và giữ được trong một thời gian nhất định, đã gây cho địch những tổn thất nhất định về sinh lực và cơ sở, làm tê liệt và,… đặc biệt đã làm cho tinh thần bè lũ Mỹ - Ngụy hoang mang dao động đến cực độ” nhưng từ tháng 2 “ta đã lỡ một một thời cơ cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ” [liv]. 50 năm sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy, Đại tướng Phạm Văn Trà cho biết thêm: “Cũng chính vì rất bí mật, nên có những trục trặc. Ví dụ, ở Sài Gòn biệt động thành đánh rất mạnh vào Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu… nhưng lực lượng quân chủ lực chỉ đánh vòng ngoài nên hỗ trợ không được mấy. Đó là điều đáng tiếc nhưng phổ biến cụ thể sẽ bị lộ không đánh được. Chính điều này cũng dẫn đến sơ hở, bộc lộ hết các cơ sở lực lượng bí mật trong nội thành, sau này rất khó khăn để gầy dựng lại”. Tuy nhiên, ông cũng khẳng đinh:  “Nhiều người ngoài cuộc và một số cán bộ miền Bắc trước đây không ra chiến trường, hỏi "tại sao hết quân nhưng vẫn đánh?". Họ không hiểu rằng mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh đều có mục đích. Ở đây là vì Mỹ lần lữa, nên ta phải đánh để buộc Mỹ vào Hiệp định Paris. Khi đạt rồi thì đấy là thắng lợi, dù hy sinh đến mấy cũng là thắng lợi”[lv].

 

Nghị Quyết của Bộ Chính trị (8/1968) đã nêu rõ: “Chúng ta đã chưa đạt được những yêu cầu đã đề ra về quân sự và chính trị,… Công kích quân sự và sự nổi dậy của quần chúng ở các thành thị, nhất là ở các thành thị lớn, chưa đủ mạnh hoặc chưa giữ vững được thế tiến công liên tục. Huế lúc đầu thắng lớn nhưng không duy trì được thế tiến công thường xuyên. Sài Gòn lúc đầu có một số trận vang dội, về sau đã giữ vững và phát triển được thế tiến công thường xuyên, nhưng nổi dậy của quần chúng vẫn còn yếu. Đà Nẵng chưa phát huy được những khả năng của mình; Việc giải phóng nông thôn chưa đạt yêu cầu. chúng ta đã giải phóng thêm 2 triệu dân, làm chủ hoàn toàn hai phần ba các ấp ở nông thôn. Tuy nhiên, số xã chưa được giải phóng hoàn toàn còn nhiều, địch còn chiếm đóng hầu hết các quận lỵ; Các lực lượng vũ trang của ta chưa thực hiện được chủ trương đánh những trận lớn, tiêu diệt những đơn vị lớn của địch; Công tác vận đông binh sĩ địch, gây binh biến và khởi nghĩa trong quân đội địch còn yếu. Đồng thời ta cũng chưa làm tốt công tác chống địch bắt lính, chưa hạn chế và triệt được nguồn bổ sung của chúng; Công tác bảo đảm vật chất đã có những cố gắng lớn và thành công lớn, nhưng trên những hướng nhất định vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của chiến trường. Công tác hậu cần có những tiến bộ lớn nhưng cũng còn nhiều khuyết điểm, tuyến chiến lược chưa thật vững, tuyến chiến dịch còn yếu[lvi]. Đảng cho rằng, nguyên nhân khách quan là: “Ta tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong điều kiện địch còn trên một triệu quân và rất ngoan cố, ta phải giải quyết những vấn đề mới, rất phức tạp chưa thể nhận thức đầy đủ ngay từ đầu, thời gian hành động lại rất gấp, ảnh hưởng tới việc hoàn thành công tác chuẩn bị về các mặt[lvii]. Về chủ quan, Đảng chỉ rõ: “Việc quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị có nhiều thiếu sót. Nhiều địa phương chưa nắm thật vững quan niệm tổng công kích, tổng khởi nghĩa là một quá trình, có nơi chưa nắm thật vững phương hướng chiến lược; chưa nắm thật vững phương châm kết hợp quân sự và chính trị, kết hợp tiến công và khởi nghĩa, v.v..; Đánh giá địch nhìn chung căn bản là đúng, nhưng trên từng chiến trường có những điểm đánh giá chưa chính xác, chưa đánh giá đúng mức âm mưa và khả năng của của địch đánh phá các tuyến vận chuyển của ta; Việc chỉ huy tác chiến của đội chủ lực trên một số chiến trường còn có khuyết điểm, nhược điểm; Tổ chức chỉ huy và lãnh đạo chưa kịp yêu cầu của nhiệm vụ to lớn và phức tạp của tổng công kích, tổng khởi nghĩa[lviii]. Sau 5 năm nhìn lại, Đảng ta thừa nhận đã “chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó; nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm ngay để đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời; ta chậm thấy cố gắng mới của địch và những khó khăn lúc đó của ta… Mặc dù có những khuyết điểm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị trí to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ[lix].

Thời điểm trước khi diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, có khoảng một nữa triệu quân Mỹ và chư hầu cùng với đó là hơn 1 triệu quân của Việt Nam Cộng hòa. Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân để cho Mỹ thấy rằng không những chúng ta đủ sức đánh lớn mà có thể đánh kéo dài nếu Mỹ còn chiến tranh, muốn giải quyết buộc Mỹ phải bước vào Hiệp định Paris. Có thể nói, thời điểm đó cũng là thời điểm chín muồi để bước vào Hiệp định Paris, bởi có nhiều quốc gia vận động, bản thân Mỹ cũng muốn (ban đầu không muốn). Qua đó có thể thấy, chúng ta tổ chức cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân chính là để buộc Mỹ phải vào Hiệp định Paris. Có Hiệp định Paris rồi Mỹ mới cút dẫn đến Ngụy nhào, chúng ta mới thực hiện giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Phải có đường lối kháng chiến đúng đắn, nghệ thuật chiến tranh nhân dân độc lập, sáng tạo. Để giành thắng lợi, phải nắm vững chiến lược và luôn bám sát thực tế, xuất phát từ thực tiễn để kịp thời đưa ra chủ trương đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo. Bênh cạnh đó, phải biết ta biết địch, nhận định đúng và xác định đúng, chớp thời cơ kịp thời. Đó là những bài học từ cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Sau 50 năm nhìn lại, những bài học này vẫn còn nguyên giá trị của nó./.



Chú thích:

Khoa LLCT&KTĐC - Trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh.

[i] Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 29, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 7.

[ii] Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 29, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 46.

[iii] Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 29, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 47.

[iv] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 106.

[v] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 320.

[vi] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 137.

[vii] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 551.

[viii] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 106.

[ix] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 143.

[x] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 551.

[xi] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 150.

[xii] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng, toàn tập, tâp 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà

Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021

Lê Giản - Trong sách Nợ tang bồng (Đại Định)

Bài viết về cụ lão thành cách mạng Lê Giản rút ra từ sách "Nợ tang bồng"

Đại Định

3. Lê Giản (1911 - 2003).

Còn có khi gọi là (Tô Gĩ, Tô Dĩ), người Hưng Yên, từng là người đứng đầu đầu tiên ngành Công an của chính quyền mới (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ - Bộ trưởng Công an), Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Cuối đời, do trải nghiệm ông nhận thấy những điều ông từng tin tưởng mà dấn thân là sai lầm. Ông viết một loạt bài để thể hiện lập trường quan điểm mới của mình. Tuy bị đoàn thể tổ chức phê phán nhưng không quá bạo liệt, không khai trừ ông ra khỏi đảng, đối xử với ông có phần nhẹ nhàng hơn so với vài người phản tỉnh khác như với ông Trần Xuân Bách, Trần Độ chẳng hạn.
Cuối năm 2000, ông Lê Giản gửi cho BCT 4 lá thư liên tiếp. Khi đó trong các cuộc giao ban thông tin cho là do một số người bất mãn như Lê Đạt (một yếu nhân của Nhân Văn - Giai Phẩm) lợi dụng uy tín của ông, mượn danh ông để tán phát quan điểm của mình.
Tôi có quen biết con trai cụ Lê Giản là anh Tô Linh, Vụ trưởng vụ Khoa giáo phủ Thủ tướng. Tôi cũng nhiều lần trực tiếp được tiếp cận cụ, gần gũi cụ Lê Giản, nhất là trong các cuộc khai hội để đóng góp ý kiến khi các siêu VIP - tập thể các vị “dua” triệu tập (trong các cuộc khai hội này những cán bộ đang lên còn mải theo các vip đương quyền, tôi thường được phân công dự để ghi chép - tôi lại thích thú vì đến lúc này các vị nguyên lão thường nói thật). Tôi đã trực tiếp nghe nhiều điều từ cụ trong các lần được cụ cho gặp. Vì lý do riêng, tôi quan tâm về chuyện ông Tạ Đình Đề từ việc học những hai lớp điệp viên của Tàu Tưởng đến của Mỹ như cụ Lê Giản, đến chuyện vụ án Tạ Đình Đề, khi đó cụ là Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Nhưng ấn tướng lại là việc cụ nhận thức lại về những điều có tính chất chủ nghĩa, chủ thuyết, đường lối đã chọn mà bấy lâu nay cụ tin và theo đuổi, bảo vệ nó.
Tuy có ghi chép trong các lần tiếp cận, nhưng ở đây tôi chỉ viết về những điều cụ trăn trở thành văn dưới hình thức là các bức thư, các đề cương chuẩn bị phát biểu của cụ. Các lần khai hội loại này tôi thường có mặt với vai trò là thư ký. Sau khi phát biểu, các cụ thường giao bài (có khi chỉ là đề cương một vài trang viết tay) cho chúng tôi. Chính hội nghị loại này - nguyên lão hội nghị, các cụ nói nhiều điều, mà là nói thật.
Tháng 9 và tháng 10 năm 2000, cụ Lê Giản liên tiếp viết 4 lá thư. Tôi nghĩ, những bức thư này đang được lưu giữ trong các Trung tâm Văn khố quốc gia.
Các lá thư ông viết ngắn, chỉ nêu những vấn đề có tính chất khẳng định, ít phân tích lý luận dài dòng. Nhiều nội dung, khi ông đến họp với tư cách là lão thành cách mạng (ngày 12 tháng 10 năm 2000 chẳng hạn) ông đã nêu lại dựa trên một bản đề cương viết tay. Chung lại tư tưởng xuyên suốt trong các bức thư là đường hướng mà cách mạng đã chọn để dẫn dắt dân tộc là sai lầm, và ông cũng đề cập đến từng vấn đề cụ thể cần phải thay đổi như thế nào để phát triển đất nước. Những ý kiến của cụ rất tâm huyết, như chắt lọc từ trái tim và khối óc của mình dâng hiến cho dân, cho nước. Từ trái tim cụ chỉ có máu, không có nước lã càng không có nước bẩn.
Một lần cụ Lê Gản trực tiếp đến hội nghị lão thành và để lại mấy dòng dưới đây (thủ bút của cụ) khi cụ nghe tin có ngườu phê phán bất nhã cụ trong một buổi nói chuyện của một tuyên truyền viên của ban tuyên huấn tên Xuân Huyền ở khu tập thể Nam Đồng.
Đề cương chuẩn bị phát biểu của cụ Lê Giản (thủ bút)
Những vấn đề cơ bản ông Lê Giản nêu trong các bức thư:
Trong bức thư thứ nhất (đề ngày 15 - 9 - 2000) góp ý vào dự thảo văn kiện cho Đại hội IX có những nội dung: “Tránh việc quay trở lại những sai lầm trước đây đã từng đưa đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội toàn diện kéo dài (1978 - 1989)”; cần “phát huy dân chủ”; “báo Nhân dân và các báo khác không chỉ đăng các ý kiến đồng tình, mà cần phải đăng cả các ý kiến trái ngược với dự thảo, thậm chí cả những kiến nghị đưa ra những dự án khác với dự thảo"; “trung ương đảng và báo Nhân dân nên biểu thị sự thành thực, lưu tâm lắng nghe một cách thực sự chứ không phải là một thủ đoạn chính trị, một thái độ khôn khéo tạm thời”; “tôi nghe nói, Hội đồng toàn quốc ĐCS Pháp trong kỳ Đại hội lần thứ 29, còn dám đưa ra cho toàn đảng không phải chỉ 1 dự án mà là 4 dự án để cho các đảng bộ cơ sở thảo luận thoải mái, sâu rộng mà không sợ kẻ địch lợi dụng quấy rối”.
Trong bức thư thứ hai (đề ngày 22 - 9 - 2000) cũng góp ý với các báo cáo chuẩn bị đại hôi IX ông viết: “Tạm gác lại khẩu hiệu chủ nghĩa xã hội”; “thay đổi tên nước, không gọi là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nên lấy tên là Việt Nam, hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa”.
Trong bức thư thứ ba (đề ngày 30 - 9 - 2000) tiếp tục góp ý vào dự thảo báo cáo chính trị, sau khi phân tích đã nêu ra một loạt kiến nghị, ngoài những nội dung quen thuộc đã được ông đề cập trong các thư trước, lần này có vài nội dung cụ thể sát sườn vào văn bản dự thảo báo cáo chính trị chuẩn bị trình trong Đại hội IX: “Bỏ cụm từ đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường”; “ bỏ cụm từ chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu… sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối”; “bỏ cụm từ kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”; “bỏ cụm từ tính chất của thời đại vẫn không thay đổi” …
Và ông cũng nêu một số nội dung có tính chất bổ sung: Cần bổ sung khái niệm “nhà nước pháp quyền”;
“Đổi mới ngay lập tức công tác nghiên cứu lý luận:
a/ Thay đổi các cán bộ hiện đang phụ trách công tác lý luận, tổ chức lại các cơ quan lý luận và tạp chí lý luận;
b/ Tranh thủ giới trí thức trong và ngoài đảng tham gia nghiên cứu khoa học một cách thực sự dân chủ, tránh bệnh biệt phái giáo điều quan phương;
c/ Đặt chương trình nghiên cứu khoa học một cách rõ ràng tránh áp đặt một cách duy ý chí: “chỉ cho phép nghiên cứu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, không cho phép nghiên cứu các con đường đi tới dân giầu nước mạnh”;
d/ Phải có tạp chí hoặc thông tin đăng công khai các ý kiến, quan điểm, dự án khác nhau, không nên dìm đi, giấu đi các ý kiến trái ngược với các nhà cầm quyền”.
Trong bức thư thứ 4 (đề ngày 6 - 10 - 2000) ông Lê Giản tiếp tục những quan điểm tư tưởng đã nêu ở các bức thư trước và có đi sâu phân tích. Vì vậy ở đây xin ghi lại toàn văn để có thể hiểu tư duy của vị lão thành cách mạng đã một thời “dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa”.
Kính gửi BCT, trong thư số 4 này, tôi kiến nghị: Đại hội IX “cần phải và chỉ nên nêu cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta” với các căn cứ sau đây:
1. Từ năm 1930 cho tới nay, Đảng ta đã từng bổ sung, điều chỉnh hệ tư tưởng chỉ đạo của đảng.
Nếu trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (10 - 1930) đã nêu “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa C.Mác và Lênin làm gốc…”.
Đến Đại hội II (1951), Điều lệ của Đảng đã đưa cả lý luận của Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Từ Đại hội III đến Đại hội VI, Đảng lại lấy chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Đến Đại hội VII (và sau đó đến Đại hội VIII), Đảng lại bổ sung lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng.
Cách đặt vấn đề của Dự thảo Báo cáo chính trị và Dự thảo Điều lệ coi như giữ nguyên như cũ, và không có một cố gắng gì đi sâu nghiên cứu, tổng kết trong khi xã hội đang chuyển biến mạnh mẽ, thực tiễn đấu tranh đang hết sức phong phú, có nhiều điểm mới so với trước kia.
Tôi nghĩ rằng, để chuẩn bị tốt cho Đại hội IX Đảng ta cần để công phu tổng kết lại lịch sử đấu tranh mấy chục năm qua để xem xét cách đặt vấn đề nền tảng tư tưởng trước đây có cần nghiên cứu điều chỉnh gì không.
2. Tôi được bạn bè cho biết cách nêu nền tảng tư tưởng của các Đảng cộng sản trên thế giới cũng rất khác nhau.
Rất nhiều Đảng đã bỏ cả chủ nghĩa Lê - Nin, chỉ còn lại chủ nghĩa Mác; có Đảng chỉ nêu chủ nghĩa xã hội khoa học mà không nêu người sáng lập.
Đảng Trung Quốc nêu cả chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông, và lý luận Đặng Tiểu Bình.
Đảng Pháp từ Đại hội 29, 30, đã thôi không dùng từ chủ nghĩa xã hội, mà chỉ bàn đến chủ nghĩa cộng sản, và trong văn kiện không nhắc gì tới chủ nghĩa Mác.
Do vậy Đảng ta cũng cần để công sức đi vào nghiên cứu kỹ vấn đề này, xuất phát từ kết quả và kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng nước ta trong mấy chục năm qua.
Tôi xin phép kiểm điểm lại vai trò, tác dụng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam, trên 2 lĩnh vực:
- Đấu tranh giành độc lập dân tộc,
- Đấu tranh để phát triển kinh tế, xã hội vì tự do, dân chủ, hạnh phúc của nhân dân.
3. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng chí Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam, khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin, đã học được rất nhiều điều bổ ích, rất quan trọng. Có thể nêu lên một số nét chủ yếu sau đây:
a) Những người yêu nước Việt Nam đã nhìn rõ sức mạnh cách mạng to lớn ở trong nước ở trong các tầng lớp lao động đông đảo nhất, nghèo khổ nhất, nhưng lại kiên cường nhất là nông dân, công nhân, và các tầng lớp lao động khác.
b) Những người yêu nước Việt Nam đã tìm thấy nguồn sức mạnh to lớn ở ngoài nước, ở sự liên minh với phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển, ở sự liên minh với phong trào cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc.
c) Những người yêu nước Việt Nam có điều kiện nhận thức rõ bộ mặt thực, chỗ mạnh, chỗ yếu của bọn đế quốc, thực dân dưới bề ngoài văn minh và hùng hổ.
d) Những người yêu nước Việt Nam có thể hình dung một xã hội tương lai đẹp đẽ, không có người bóc lột người, trong đó mọi người có thể phát huy được các khả năng của mình, đó là một thiên đường trên trần gian này.
d) Những người yêu nước Việt Nam học được kinh nghiệm tổ chức Đảng chính trị gồm những người yêu nước giác ngộ nhất, những người hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, biết hoạt động bí mật, biết tổ chức quần chúng đứng lên lật đổ ách thống trị của bọn thực dân.
Đó là những bài học quý giá, cực kỳ bổ ích cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
4. Nhưng khi đánh giá nguồn gốc, nguyên nhân thắng lợi của các cuộc kháng chiến mấy chục năm qua, thì cần phải thấy rõ:
a) Cái chủ yếu tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần, và sức mạnh vật chất của nhân dân ta là ở văn hóa Việt Nam, ở lòng yêu nước Việt Nam, ở tư duy Việt Nam, ở cách ứng xử đùm bọc, thương người của con người Việt Nam, tức là ở truyền thống ngàn đời của tổ tiên ta để lại, từ 1000 năm chống Bắc thuộc, trải qua những chiến thắng của Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, trải qua đấu tranh của phong trào Cần Vương, của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…
Tinh hoa ấy của Việt Nam được thể hiện ở Hồ Chí Minh và những người yêu nước của nước ta.
b) Trong khi tham khảo, học tập kinh nghiệm nước ngoài, bên cạnh việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin và phong trào cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh và những người yêu nước Việt Nam còn chú trọng học tập cả kinh nghiệm của Đại cách mạng Pháp 1789 của các nhà tư tưởng ưu tú của nước Pháp, của Tôn Trung Sơn, của cách mạng Mỹ, của Đạo Nho, của Đạo Phật, Đạo Cơ đốc giáo… với một thái độ khiêm tốn phát hiện những điều có ích cho nhân dân Việt Nam, không hề sùng bái một cách lệ thuộc bất kể một học thuyết ngoại lai nào.
c) Trong quá trình học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin, một số người cộng sản Việt Nam cũng đã phạm phải một số sai lầm, gây tổn thất cho cách mạng Việt Nam, như: Sai lầm của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là đồng chí Trần Phú đã phê phán đả kích chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, và đưa ra một đường lối tả khuynh, dẫn tới sai lầm trong Xô viết Nghệ Tĩnh (1931), sai lầm về chủ trương mở cuộc cải cách ruộng đất (1954 - 1955) ở miền Bắc, trong khi 85% ruộng đất đã chia cho dân cày.
(Tư tương này - “chỉ nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh” cũng là tư tưởng của Võ Nguyên Giáp nêu ra từ đầu những năm 90 thế kỷ trước và bị những nhà LL của đảng như NĐB phê phán là nêu cao tư tưởng HCM cũng đồng nghĩa là nhằm hạ thấp tư tưởng Mác - Lênin).
5. Trên lĩnh vực để đấu tranh phát triển kinh tế, xã hội, thì tình hình khác hẳn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Sau khi giành được độc lập dân tộc trong cả nước, xuất phát từ học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về “cách mạng không ngừng”, về “chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ được thay thế bằng chủ nghĩa xã hội thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa”, ngay trong Đại hội IV, Đảng đã quyết định cả nước đi vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với một lòng tin tưởng sắt đá là chỉ trong vòng 3 hoặc 4 kế hoạch 5 năm là có thể hoàn thành thời kỳ quá độ và sẽ xuất hiện chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước.
Như bức thư số 3 đã nêu rõ, việc thực hiện đường lối cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo như sự chỉ dẫn của học thuyết Mác - Lênin không những không mang lại kết quả, mà ngược lại đưa đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội toàn diện và kéo dài (1978 - 1988). Với sự nỗ lực cố gắng của Đảng, dựa trên sáng kiến của nhân dân, đất nước đã đi vào đổi mới, vượt qua khủng hoảng, dành được những thắng lợi to lớn như dự thảo Báo cáo chính trị đã nêu. Nội dung của quá trình đổi mới, chủ yếu là sự từ bỏ những nguyên lý cơ bản của mô hình chủ nghĩa xã hội mác xít, trở lại và phát huy những kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc và tiếp thu những bài học hay của thế giới hiện đại.
Qua cuộc khủng hoảng và qua sự nghiệp đổi mới, rõ ràng học thuyết Mác - Lênin chưa cho chúng ta những bài học bổ ích như trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đồng thời sự đổ vỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng chứng minh sự không đúng của học thuyết Mác về xã hội xã hội chủ nghĩa.
Xã hội xã hội chủ nghĩa trong chủ nghĩa Mác, là nói về một mẫu hình xã hội hậu tư bản, sản sinh trên cơ sở chế độ TBCN đã trải qua 200 năm hình thành và phát triển (kể từ thế kỷ 16, 17) ở Âu châu.
Mô hình CNXH Mác xít về bản chất là mô hình xa lạ, không phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của Việt Nam.
6. Do đó, người Việt Nam phải đi tìm con đường đi tới dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính ở đây ta càng cần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, khi người nói tới xã hội tốt đẹp tới đây của dân tộc: “Nước độc lập mà dân không hưởng tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giầu nước mạnh”. Cách lý giải của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, không giống với nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Mác xít được diễn đạt trong các sách kinh điển và các sách giáo khoa: Nào là công hữu hóa, xóa chế độ tư hữu, nào là kế hoạch hóa có chỉ huy từ TW, xóa bỏ nền kinh tế hàng hóa, nào là đấu tranh giai cấp giữa 2 con đường, nào là chuyên chính vô sản với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa…
Nhiều nhà lý luận “chính thống” (ăn lương, ăn KX, KC) ở nước ta đã phạm một sai lầm cực lớn khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là một cách hiểu rất sai lầm.
Theo tôi, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết và chủ yếu nhất, là thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam, là thể hiện tinh hoa của tư duy và tâm hồn Việt Nam, là tiếp nối truyền thống lòng yêu nước, tình thương con người của xã hội Việt Nam. Hồ Chí Minh là người con của dân tộc Việt Nam, đã kế thừa và nâng cao bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã học tập những điều có ích trong học thuyết Mác - Lênin, và các học thuyết tiến bộ khác, các nền văn hóa khác trên thế giới, và truyền bá vào Việt Nam, nhưng không hề là tín đồ cuồng tín của bất cứ một học thuyết nào.
7. Giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm khác biệt khá quan trọng.
a) Trong khi Mác bàn về sự chuyển hóa từ một xã hội tư bản phát triển để chuyển sang xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh lại phải giải quyết nhiệm vụ của mộ đất nước còn quá nghèo khổ từng bước đi lên thoát nạn nghèo hèn.
b) Trong khi Mác lấy đấu tranh giai cấp làm động lực thúc đẩy xã hội thì Hồ Chí Minh lại lấy đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân để đẩy xã hội tiến lên.
c) Trong khi Mác lấy đấu tranh làm hạnh phúc, thì Hồ Chí Minh lại lấy tình thương, tư tưởng đùm bộc, nhường cơm sẻ áo làm hạnh phúc.
d) Trong khi Mác đề xướng chuyên chính vô sản và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh nền dân chủ nhân dân, với nhà nước do dân, vì dân, của dân.
e) Trong khi Mác nói đến Đảng chỉ là của giai cấp vô sản thì Hồ Chí Minh lại nêu Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là Đảng của dân tộc Việt Nam.
(Cần lấy các chính sách cụ thể, các phong trào cách mạng cụ thể để soi rọi xem quan điểm của ông Trần Độ xác thực đến mức nào?)
Sở dĩ có những điểm khác nhau quan trọng trên đây là do những khác nhau về sự xuất thân, về điều kiện đấu tranh, và hoàn cảnh lịch sử.
a) Nếu Mác xuất thân từ lớp tư sản, trí thức của một nước tư bản, thì Hồ Chí Minh lại xuất thân từ lớp trí thức của một dân tộc nô lệ (quan lại dù nhỏ và bất phùng thời).
b) Nếu Mác tắm mình trong cuộc đấu tranh giai cấp công nhân chống lại tư sản, thì Hồ Chí Minh lại tắm mình trong đấu tranh của cả một dân tộc đang bị đế quốc thống trị.
c) Nếu Mác thừa nhận văn hóa của Tây phương là chính, thì Hồ Chí Minh lại thừa nhận văn hóa của Đông phương, của Việt Nam, và sau đó của cả Tây phương.
d) Nếu như quá trình hoạt động của Mác về cơ bản là thuận lợi, thì đời hoạt động của Hồ Chí Minh lại long đong, vất vả, ba chìm bảy nổi.
8. Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh về thực chất là nêu cao bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, nêu cao tư duy truyền thống Việt Nam, nêu cao lòng yêu nước Việt Nam.
Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, không có nghĩa là phủ nhận chủ nghĩa Mác.
Đảng ta có thái độ trân trọng nghiêm túc, khách quan đối với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng ta phải tổ chức việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, cố rút ra các điều bổ ích, nhưng cần tránh lệch lạc coi như quốc giáo, là tư tưởng chủ đạo của toàn dân tộc. Trong công tác giáo dục cho thanh niên, thì chớ nên chỉ cho phép học chủ nghĩa Mác - Lênin, không cho nghiên cứu tham khảo các học thuyết khác trên thế giới. Phải mở rộng sự hiểu biết của giới trí thức và thanh niên ở nước ta.
9. Cuối cùng tôi xin nhắc lại đề nghị của tôi trong Đại hội IX: “Cần phải và chỉ nên lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta”.
Đến ngày 12 tháng 10 năm 2000 những quan điểm nêu trong 4 bức thư nói trên đã đươc ông tóm tắt lại và trực tiếp đọc trước cuộc họp do BCT triệu tập các lão thành cách mạng và có phát triển thêm (viết tay chữ to - việc này dập tắt ý kiến cho rằng các lá thư của ông Lê Giản là do bọn phản động lợi dụng ông để tán phát quan điểm và có ý ám chỉ là Lê Đạt). Sau khi đọc, ông gửi lại bài viết cho tôi - tác giả sách này, thư ký cuộc họp. Nội dung chính như sau:
Trước hết ông phản bác đường lối kinh tế, ông viết: “Chúng ta không thể đặt vấn đề CNH, HĐH, bảo đảm độc lập tự chủ trong kinh tế theo các quan điểm của ĐH – IV, VII, VIII đã nêu trước đây (cách mạng QHSX mở đường, KHKT là then chốt, CCVS phải nắm vững), cần phải chuyển hướng toàn bộ các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, hành chính sang một quỹ đạo mới đi thẳng vào nền kinh tế tri thức ”.
Và ông đề nghị “tạm gác lại khẩu hiệu CNXH” và lần này ông nêu một số lý do: 1/ Trong di chúc của chủ tịch HCM… người đã không nói đến CNXH trong mục tiêu của đất nước Việt Nam; 2/ Trong 70 năm đã nhiều lần Hồ Chí Minh và Đảng ta cũng đã tạm gác khẩu hiệu CNXH ví như: khi thành lập mặt trận Việt Minh, ngày lễ 2 - 9 - 1945 khi đọc tuyên ngôn Đọc lập, cương lĩnh MTDTGP miền Nam 1962, trong nghị quyết của BCT số 07/NQTW ngày 11 - 7 - 1993 khi nói về nhiệm vụ chung của MTDTTN cũng không nói gì đến CNXH; 3/ xuất phát từ luận điểm của Mác… mà sự vận động thực tế của các nước tư bản phát triển… thì trong thế kỷ 20 đã chứng minh luận điểm của Mác là không đúng; 4/ tất cả các nước đã đi vào mô hình CNXH Mác xít trong thế kỷ 20 đều không thành công, phần lớn đã tan vỡ, kể cả Liên Xô, thành trì của phe XHCN, tình hình đó không phải thoái trào tạm thời của CNXH, mà quan trọng hơn đó là bài học chứng tỏ mô hình CNXH Mác xít không phù hợp với quy luật của sự phát triển xã hội; 5/ hàng 100 nước trên thế giới kể cả nhiều nước kém phát triển trước đó, không đi theo CNXH đã vượt ta theo GDP bình quân đầu người hoặc chỉ số phát triển con người; 6/ mô hình CNXH Mác xít thể hiện bằng đường lối của ĐH IV của Đảng thực tế đã đẩy đất nước ta vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội toàn diện và kéo dài suốt 10 năm trước đây (1978 - 1988); 7/ thực tế CNXH là gì cho tới nay vẫn là một ẩn số; 8/ nếu ta cứ chủ trương nêu khẩu hiệu CNXH trong tình hình hiện nay thì khó thực hiện được chiến lược ĐĐ kết toàn dân, khó có thể tranh thủ được sự ủng hộ của số đông kiều bào và do đó sẽ kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Và ông một lần nữa kiến nghị: “Cần phải và chỉ nên nêu cao tư tưởng HCM là kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng ta” với một loạt căn cứ.
Xuyên suốt 4 bức thư ông Lê Giản gửi cho các siêu VIP đương quyền, cũng như phát biểu trực tiếp trong cuộc họp do BCT triệu tập, ông Lê Gian nhất quán quan điểm cho rằng đương lối đã chọn là đường lối sai lầm và đòi thay đổi đường lối xây dựng đất nước. Những quan điểm của ông trái với các quan điểm “chính thống” hiện hành về những vấn đề cơ bản, nhưng ông không bị các VIP đương quyền gọi đến khuyên bảo và phê phán trực diện kiểu như đối với Trần Độ, Hoàng Hữu Nhân.
Trong tang lễ ông Trần Độ, bất chấp sự ngăn cản, ông Lê Giản trở thành thành viên tích cực - là chỗ dựa cho không ít người đến viếng với bức trướng:
Tướng quân Trần Độ
Nhân văn danh tướng
Trí dũng vẹn toàn
(các lá thư khác của cụ Lê Giản chỉ lựa chọn nội dung vắn tắt. Riêng lá thư thứ tư cụ Lê Giản viết kỹ có tính lý luận và lịch sử, nên đăng toàn văn).

Thứ Năm, 19 tháng 8, 2021

Hoàng Tùng phát biểu đóng góp ý kiến với Tiểu ban Báo cáo chính trị Đại hội IX về định hướng viết báo cáo chính trị.

Hoàng Tùng phát biểu đóng góp ý kiến với Tiểu ban Báo cáo chính trị Đại hội IX về định hướng viết báo cáo chính trị.

Đại Định

Xin gửi đến bạn đọc bài viết về ông Hoàng Tùng rút ra từ chương "Nợ đời, đời nợ" sách "Nợ tang bồng".

10. Hoàng Tùng (1920 - 2010).
Tên thật là Trần Khánh Thọ, người Hà Nam, từng là Ủy viên BBT, Chánh văn phòng TW, Tổng biên tập báo Nhân Dân nhiều năm. Vốn là cây viết hàng đầu của hệ thống. Sau khi tham chính ông cũng có nhiều trăn trở. Những tư duy “mới” của ông thể hiện trong các bài viết như “Những kỷ niệm về Bác Hồ” tới 19 trang đánh máy giấy A4 nói về nhiều điều liên quan đến nhiều sự kiện lịch sử hiện đại; “Thời đại mới, tư duy mới”….các bài nói trong các buổi thuyết trình của ông - các bài này phần lớn đã được đăng tải trên các trang mạng xã hội. Ta tiếp cận mấy bài đưới đây là những bài chưa thấy công bố để có tư liệu giúp cho việc nhận biết tư duy của ông sau khi tham chính.
Góp ý kiến về định hướng Báo cáo chính trị Đại hội IX
Đầu tháng 12 - 1999, ông Hoàng Tùng phát biểu đóng góp ý kiến với Tiểu ban Báo cáo chính trị Đại hội IX về định hướng viết báo cáo chính trị.
( “Kỹ thuật là then chốt mà không chơi với Mỹ thì lấy đâu ra mà then chốt”. Trong khi nói, ông Hoàng Tùng nói ý này, nhưng Tiểu ban lược đi mất nên bài ghi của Tiểu ban không có đoạn này. Tôi với tư cách là người có tham dự buổi khai hôi, xin được bổ sung).
Vấn đề thứ nhất: Đại hội chúng ta sắp họp: Muốn gọi cái tên, tức là cho nó một chủ đề trung tâm vấn đề đang tranh luận là con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nghĩa là từ những lời nói rải rác bấy lâu nay xuất phát từ tình hình đất dước và thế giới để xác định đường đi. Trước mắt không nên ngày nào và lúc nào cũng nói, nó là cái gì và đi như thế nào. Trước hết là đổi mới cách làm Đại hội Đảng. Ta đã trải qua mấy lần Đại hội, lần này theo phong cách này là hay nhất, đường cách mạng không phải là do đại hội thông qua, do một nhóm người mà nói cho đúng là Cụ Hồ thảo ra. Nhưng đấy chính là nền tảng của lý luận cách mạng của Việt Nam ta, làm xong cách mạng dân tộc rồi chuẩn bị điều kiện đi vào chủ nghĩa xã hội. Cái tư tưởng lớn ấy là thực tế, lý luận và thực tiễn đều chứng minh. Ở trên thế giới ai cũng ca ngợi ta là sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chứ đã có phải là nhà cộng sản vĩ đại đâu. Sau đó các hội nghị hợp nhất 3 đảng không có tính đại hội, không gọi là đại hội, nhưng mang tính chất đại hội vì là thành lập. Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng thành lập bằng cuộc hội nghị 5 - 7 người. Nhiều khi đại hội không có vị trí đại hội, không có tính lịch sử bằng Hội nghị TW, thậm chí hội nghị chỉ có 2 ông TW mà quyết định cả vận mệnh cách mạng. Cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ, dân quyền sau đó đưa phủ định cái chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của cụ Hồ, nhưng cuối cùng đến Hội nghị thứ 8 năm 1941, cụ Hồ lại lấy lại và phát triển trong thời kỳ mới là con đường giải phóng dân tộc với lại cương lĩnh cứu quốc bằng 2 trang giấy mà chuẩn bị cho cuộc Cách mạng tháng 8 thành công, chứ nếu cứ đi con đường của cách mạng tư sản dân quyền thì không được. Hội nghị lúc bấy giờ ngôn ngữ gọi là điều chỉnh chiến lược, thực chất là thay đổi chiến lược, mục tiêu không thay đổi. Hội nghị ấy có tính quan trọng, lịch sử hơn các đại hội sau này. Năm 1951 tại Đại hội lần thứ II, Hồ Chí Minh phát biểu một bài khai mạc ngắn gọn 1 trang. Có người nói với tôi: tưởng rằng là cái gì, ai ngờ cái núi đẻ ra con chuột. Nhưng thật sự là cái then chốt nhất. Còn bàn về lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tôi cho là hết sức đúng đắn, từ Đại hội III trở đi đến các đại hội sau này, trừ Đại hội VI thì đều làm theo công thức của Liên Xô, cho nên tất cả những đại hội ấy chỉ mang theo tính hình thức. Cho nên phải đưa ra một phương hướng, một giải pháp, một chiến lược trong một thời kỳ nhất định, đấy là chức năng của đại hội. Còn báo cáo kinh tế không nên làm như bản kế hoạch nhà nước, mà đề ra ngắn gọn những tư tưởng lớn, những mục tiêu lớn, chính sách lớn. Báo cáo chính trị lần này tập trung giải quyết những vấn đề về con đường phát triển của đất nước tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa, mục đích là tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Vấn đề thứ hai: Việt Nam trong thế kỷ 20 tổng kết những sự kiện lớn, những biến đổi lớn, triển vọng tiền đồ của thế kỷ 21. Nội dung thời đại mới mà lấy cái lý luận hay là quan điểm của loài người đã hình thành mà không ai bắt buộc, thời kỳ đồ đá, đồ đồng, thời kỳ cơ khí, thời đại công nghiệp cao khoa học - kỹ thuật mà đấy là nền tảng của mọi xã hội. Chính sức sản xuất, công cuộc sản xuất nó quyết định tất cả, làm đảo lộn toàn bộ cả cuộc sống. Đấy là một quan điểm của con người Mác - xít, bây giờ nó sẽ đảo lộn, đảo lộn như thế nào thì ngắn gọn, nhưng mà có tầm vóc, khái quát cao.
Vấn đề thứ ba: Chiến lược phát triển, thời kỳ, bước đi hiện nay trong 20 năm sẽ là 20 năm gì, các đồng chí hỏi thế thì anh trả lời cho tôi rõ là nhiệm vụ trung tâm là kinh tế có phải không? Tôi nói kinh tế cũng đúng, nhưng phải nói đúng như Mác tức là sau khi giành lại được chính quyền rồi, nhất là những nước kinh tế lạc hậu, công nghệ lạc hậu thì phát triển sức sản xuất là nhiệm vụ trung tâm, để tạo ra nền tảng sản xuất cho quan hệ sản xuất mới, hình thức kinh tế mới, nền chính trị mới và nền văn hóa mới, cố nhiên có kế thừa của văn hóa dân tộc, nhất là con người mới…Nếu biết làm đúng, như nó làm theo việc xây dựng 30 công ty độc quyền chiếm 80% của cải xã hội, ta làm ngược lại 80% của cải thuộc về xã hội và các hình thái kinh tế khác nhau, còn 20% có thể xài như tư bản, buộc anh tư bản phục vụ chủ nghĩa xã hội, chứ không phải buộc anh xã hội chủ nghĩa phục vụ anh chủ nghĩa tư bản. Phải đi qua con đường, hình thức tư bản chủ nghĩa nhà nước để đi lên chủ nghĩa xã hội, ông thày nói thế. Chúng ta hiểu thời đại này phải ra làm sao? Nói khái quát nhưng mà đầy đủ tức là anh trình bày các quan điểm của anh về chặng đầu. Cái trên là toàn bộ cái quá trình, cái dưới là thời đại mới là để chuyển tiếp làm tiền đề cho việc giải trình cái trước mắt. Kinh tế thị trường có phải là tư bản chủ nghĩa không? Không phải, có từ thời Tam hoàng Ngũ đế.
Vấn đề thứ tư: Nhà nước của dân, là do dân, vì dân, chính là tư tưởng của Bác mà nói theo ngôn ngữ của Hồ Chí Minh, trong đó có ẩn ý những khái niệm mà người đã chứng kiến, nhất là ở Liên Xô. Ta làm thật sự có phải cái nhà nước này là đúng không? Cái nhà nước kiểu này mới là nhà nước chuẩn bị cho chủ nghĩa xã hội. Cho đến thủ tiêu nhà nước, cách mạng chủ nghĩa cộng sản mục tiêu cuối cùng là để thủ tiêu nhà nước, cái sự người cai trị người bằng cái quản lý vật chất. Cách làm thí dụ trong cuộc bầu cử hội đồng nhân dân ba cấp có thật đúng của dân, do dân không? Nhà nước của dân, do dân và vì dân xin hãy làm đúng như lời Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề chỉ nói khái quát, mà nhất là phải làm cho thật đúng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Sự phân công giữa Đảng và nhà nước phải nâng cao, phải thật sự coi trọng chính quyền, phải nêu cao chính quyền. Những người lãnh đạo chính quyền xuất hiện trước, người lãnh đạo của Đảng thì đứng đằng sau, khi cần lắm mới đưa ra. Cái gì cũng bí thư đảng, từ trên xuống dưới toàn là Đảng, cái gì cũng thấy Đảng. Như vậy chưa phải cách làm của Hồ Chí Minh.
Vấn đề thứ năm: Đảng cầm quyền, lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền, tôi cho là hết sức xuất sắc, hết sức quan trọng, hết sức đúng đắn. Trong tình hình có thay đổi nhưng điều ấy không hề sai chỉ có những biện pháp. Những chính sách thì phải phù hợp với tình hình mới của đất nước, đất nước của những người tự do. Mình từ một phong trào giai cấp, trở thành phong tào dân tộc, từ một người lãnh đạo một dân tộc nô lệ, thành một dân tộc làm chủ đất nước mà cứ như khi nói cách đây bảy tám mươi năm hay là 150 năm về trước. Thế thì không phải chủ nghĩa duy vật biện chứng. Hãy giải quyết những vấn đề đang đặt ra, nếu có báo cáo xây dựng Đảng, hoặc sửa đổi Điều lệ Đảng thì anh bảo đảm luận về xây dựng đảng của Đảng Cộng sản cầm quyền. Nhà nước của một xã hội tự do và của những người dân tự do, bây giờ làm gì có giai cấp vô sản, thế mình là giai cấp tư bản à, mình là người chủ, mà người chủ lại đứng đầu mình. Trí thức là con em chúng ta cả, mà lại là một anh em bạn đường gép vào. Mà cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng trí tuệ này thì người I tờ và lao động chân tay làm được không. Những vấn đề nói ra sợ mất lập trường Mác - xít không? Mác - xít quá đi chứ, bây giờ ai là chủ của khoa học – kỹ thuật phải rõ ràng. Dân tộc và nhân dân không bao giờ xa, giai cấp công nhân có, nhưng bây giờ sự phân tầng xã hội không thành những giai cấp đối lập hay xa cách như trước mà xích gần lại. Mấy năm mình phải xây dựng cho được trong quá trình này một dân tộc tú tài, cái nền tảng vì nước vì dân là tú tài. Trên này là các ông cử, ông tiến sĩ theo cái hình tháp. Còn vấn đề tranh luận, anh nào không có quyền lãnh đạo thì nhấn mạnh quyền dân chủ, anh nào có quyền lãnh đạo thì thích nhấn mạnh tập trung. Nêu sách dân chủ và tập trung ra thì muôn đời tranh luận, thế thì về tính chất, nguyên tắc, tổ chức sinh hoạt là cái nền của nó là dân chủ, còn nguyên tắc điều hành thì có cơ quan điều hành cùng do đại hội bầu ra và nó phải chấp hành cái đó nếu anh đi chệch thì sẽ bị xuống dốc, tức là tập trung trong quá trình điều hành, chứ không phải là lúc nào cũng là điều hành.
(còn tiếp)

Vị trí Trần Phú trong lịch sử Đảng ta và cách mạng nước ta (Bài nói của ông Hoàng Tùng nhân 100 năm ngày sinh của Trần Phú)

 Bài nói của ông Hoàng Tùng nhân 100 năm ngày sinh của Trần Phú

Đại Định

Với trải nghiệm của mình trong suốt thời gian dài tham chính, ông trăn trở nhiều điều. Nhân được mời phát biểu cảm tưởng trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của TBT Trần Phú, ông chuẩn bị bài: “Vị trí Trần Phú trong lịch sử Đảng ta và cách mạng nước ta” .
(Ông Hoàng Tùng được Ban tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Trần Phú mời phát biểu. Nhận lời mời, ông đã viết một bài gửi đến Ban tổ chức lễ kỷ niệm để định đọc. Bài viết được các siêu VIP đương quyền góp ý và yêu cầu sửa. Nên bài đọc chính thức được sửa lại theo hướng đề cao khí tiết, phẩm chất cộng sản của Trần Phú, không đả động gì đến vấn đề cương lĩnh 1930. Đọc xong bài, ông rời bục, LQV, một vụ trưởng khi đó rìu ông xuống. Ông nói với LQV: Trần Phú dl - không tiện nhắc lại nên phải viết tắt. Sau này, Văn phòng TW mời ông Hoàng Tùng đến nói chuyện với tuổi trẻ của cơ quan, nhưng trước khi đến ngày gặp thì được biết TBT NĐM nói đến quan điểm của Hoàng Tùng khi ông nói chuyện ở chỗ này chỗ khác, về một vài bài viết của ông không được các siêu VIP tán thành. Cuộc gặp không được thực hiện).
(ảnh trang đầu bài viết có thủ bút của cán bộ phụ trách tổ chức mít tinh)
Đưới đây là bài viết định đọc trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Trần Phú chưa có sự sửa chữa gì (còn bài đọc tại cuộc mít tinh, bạn đọc dễ dàng tìm thấy trong các báo chính thống khi đó):

Vị trí Trần Phú trong lịch sử Đảng ta và cách mạng nước ta
(Bài nói của ông Hoàng Tùng nhân 100 năm ngày sinh của Trần Phú)
Hoàng Tùng

Sinh năm 1904, lúc Hồ Chí Minh 14 tuổi, học song bậc cao đẳng tiểu học, ông là giáo viên trường tiểu học thị xã Vinh. Trong thời gian này, ở nước ta, sau thất bại của cuộc binh biến Thái Nguyên, phong trào chống Pháp lắng xuống tưởng chừng nguội lạnh, sau vụ Phạm Hồng Thái ném bom mưu sát viên toàn quyền Pháp trên đường đi Nhật Bản, ghé lại thành phố Quảng Châu. Ném lầm vào một người Pháp khác, người anh hùng của chúng ta chạy ra bờ sông và nhảy xuống nước thẳm tự vẫn giữa năm 1924.
Vụ mưu sát ấy có tiếng vang lớn trong nước và người mình ở ngoài.
Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu tháng 11 năm 1924. Người nhanh chóng liên hệ với nhóm Tâm Tâm Xã gồm mấy thanh niên ta sang Trung Quốc theo Phan Bội Châu - lúc này cụ ở Hàng Châu làm nghề viết báo.
Nguyễn giáo dục nhóm thanh niên này, phần đông là người Nghệ An. Họ đồng ý thành lập Hội Cách mạng thanh niên, Nguyễn lại qua Hồ Tùng Mậu viết thư gợi ý cụ Phan về nước thành lập Việt Nam quốc dân Đảng theo cương lĩnh mới của Tôn Trung Sơn. Đến Tô giới Pháp ở Thượng Hải, cụ Phan bị hai học trò của mình là Phan Bá Ngọc (con PĐP) và Lê Dư phản bội, chỉ cho mật thám Pháp bắt đưa về nước… Ba nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh ở Pháp cũng về Sài Gòn.
Ở trong nước, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Thái Học lập ra Việt Nam quốc dân Đảng.
Ở Trung Kỳ, mấy nhà yêu nước thuộc nhóm trí thức mới lập ra Đảng Hưng Nam, sau đổi thành Tân Việt cách mạng Đảng do Đào Duy Anh đứng đầu. Trần Phú là một người lãnh đạo của đảng này sau chuyển sang Đảng Cộng sản và được cử đi Liên Xô học.
Cuộc đấu tranh về con đường cách mạng cứu nước nhà diễn ra sôi nổi khắp cả nước, kéo dài 5 năm (1925 - 1930).
Do tác động của đảng Cộng sản Pháp, những người lãnh đạo Kỳ bộ Bắc kỳ, Kỳ bộ Nam kỳ của Hội thanh niên, giải thể Hội thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng. Tổng bộ thanh niên chuyển thành Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn.
Trước tình hình đó, Hồ Tùng Mậu sang Xiêm tìm Nguyễn về Hồng Kông để tìm cách thống nhất 3 tổ chức cộng sản lại. Tại Hội nghị hợp nhất họp ở Hồng Kông ngày 3 - 2 - 1930, Nguyễn Ái Quốc trình bày Chính cương, chiến lược, sách lược vắn tắt và được Hội nghị thông qua. Như vậy, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là cương lĩnh này, bản Cương lính viết đầy đủ sau này, khi công bố chỉ còn mấy câu.
Sau khi xem thư báo cáo và các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc gửi sang Matxcơva, Ban Thư ký Quốc tế cộng sản nhận xét rằng: Tư tưởng Cương lĩnh này là sai lầm, dân tộc chủ nghĩa, cải lương, hữu khuynh, phải viết lại và đổi cả tên lại là Đảng Cộng sản Đông Dương. Quốc tế ủng hộ Trần Phú và mấy người vừa học xong một lớp ở Liên Xô về viết lại Cương lĩnh. Tháng tư, Trần Phú về đến Hà Nội cùng với Trịnh Đình Cửu (triệu tập viên của Trung ương lâm thời), Nguyễn Thế Rục viết Cương lĩnh mới, theo mẫu của Đại hội VI Quốc tế Cộng Sản năm 1928 thể hiện quan niệm của Stalin trình bày trong cuốn “Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin”. Tháng 7, một hội nghị bầu Trần Phú làm Tổng bí thư. Tháng 10, Trần Phú đi Hồng Kông tham khảo ý kiến Nguyễn Ái Quốc và đến Thượng Hải báo cáo với Noulène, Trưởng ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản vừa được thông qua. Về nước, tháng 3 - 1931 Trần Phú triệu tập Hội nghị Trung ương (mở rộng) bàn và quyết định tổ chức bộ máy của Trung ương. Cuộc họp kéo dài 10 ngày và bị mật thám của địch bắt gọn. Cùng với cuộc khủng bố trắng bắt đầu từ đầu tháng 9 năm 1930, đến đây toàn bộ hệ thống tổ chức cách mạng bị địch phá vỡ, thoái trào kéo dài đến cuối năm 1934, khi Ủy ban hải ngoại do Lê Hồng Phong đứng đầu nắm quyền lãnh đạo, quyết định sử dụng những hình thức thích hợp để từng bước khôi phục phong trào quần chúng.
Tháng 3 - 1935, Hà Huy Tập thay Lê Hồng Phong triệu tập Đại hội lần thứ nhất. Đại hội chỉ bàn những công tác cụ thể và bầu Ban Chấp hành Trung ương mới.
Tháng 6, Hà Huy Tập về nước giữa lúc ấy mấy trăm tù chính trị Cộng sản được trả lại tự do. Một cao trào dân chủ được phát động, chiến tranh thế giới bùng nổ, Nam kỳ khởi nghĩa. Một cuộc khủng bố dữ dội lại diễn ra ở cả nước. Hệ thống tổ chức của Đảng và quần chúng lại bị phá vỡ. Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước đưa ra Cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc, chuẩn bị tổng khởi nghĩa và thắng lợi (năm 1943 Quốc tế Cộng sản tự giải tán).
Như vậy, con đường cách mạng của Đảng ta do Nguyễn Ái Quốc đề xuất năm 1925, thể hiện trong Cương lĩnh vắn tắt năm 1930, Cương lĩnh do Trần Phú soạn thảo theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản chưa kịp phổ biến. Năm 1936 Đảng ta chủ trương thực hiện mặt trận dân chủ với tư sản và trí thức (trên cơ sở công nông). Năm 1938 Trung ương Đảng quyết định tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, năm 1941 là cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đến năm 1945 mới thắng lợi.
(Trong những năm 1930, nhiều đảng viên ta học Cương lĩnh Trần Phú theo cuốn “Những nguyên lý của Stalin” phát biểu năm 1924).
Chính cương vắn tắt viết khá đầy đủ, không phải như bản cắt xén đã in (Bảo tàng cách mạng giữ bản đầy đủ).
Trần Phú xứng đáng được kính trọng mãi mãi, trước hết ông là lãnh tụ cộng sản đầu tiên nêu cao khí tiết cách mạng trước quân thù và tinh thần kiên quyết cách mạng đến hơi thở cuối cùng.
Hiên ngang trước quân thù, không nói nửa lời có hại cho Đảng và cách mạng, kể cả thách thức chúng bằng hành động, Trần Phú nêu cao một tấm gương lớn gần như đầu tiên trong phong trào Cộng sản quốc tế. Tấm gương của ông có ý nghĩa to lớn đối với các lớp đảng viên từ đó đến nay và cả từ nay về sau nữa. Ông là niềm vinh quang của toàn Đảng và nhân dân ta, kiểu Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu ngày xưa.
Sau Trần Phú có Lý Tự Trọng, các lãnh tụ của Đảng khi ra trường bắn như Nguyễn Đức Cảnh, Lương Khánh Thiện, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ…và cao hơn tất cả là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, hai lần bị đầy đọa ở nhà tù đế quốc và phản động, ý chí cách mạng vẫn trong sáng, kiên cường, coi thường cái chết. Người cộng sản Việt Nam như vậy đó.
Nói thêm: Trong lịch sử cách mạng từ khi chủ nghĩa Mác ra đời chưa từng xảy ra một cuộc cách mạng tư sản dân chủ. Chuyên chính vô sản không thể kết hợp với dân chủ tư sản.
Là những thỏa hiệp với Quốc dân đảng. Chế độ dân chủ nhân dân bị bóp chết ngay ở Đông Âu và Trung Quốc.
Hình thức quá độ do Mác đề xướng chưa trở thành hiện thực.
Trần Phú viết lại Cương lĩnh do Quốc tế Cộng sản buộc phải làm và chỉ mấy năm sau Đảng ta đã thay đổi, trở lại Cương lĩnh của Hồ Chí Minh, Cương lĩnh này không có ảnh hưởng gì đối với ba cao trào cách mạng: 1930, 1936, 1939 và cao trào cứu quốc tổng khởi nghĩa. Ảnh hưởng của Stalin và Mao Trạch Đông trực tiếp đối với cải cách ruộng đất và đi ngay vào chế độ công hữu.
Sự thật lịch sử là như vậy.

Đọc lại hồi ký Trần Quang Cơ

 

Đọc lại hồi ký Trần Quang Cơ

Hồng Khiêm( Nguyên Tham tán Bộ Ngoại giao )
 

Đã hớ, đã dại rồi mà còn nói đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết… Người lãnh đạo không nên làm như vậy. Với Trung Quốc, vừa qua không phải là chúng ta bình thường hóa, mà là chúng ta đã bị “phụ thuộc hóa” quan hệ (Phạm Văn Đồng).
 
Tối hôm trước ngày đi viếng cựu Thứ trưởng Trần Quang Cơ, tôi đọc lại “Hồi ức và Suy nghĩ”của ông, coi như một cách tưởng nhớ đối với người quá cố mà tôi rất đỗi kính trọng, người đã tự rút ngắn sự nghiệp của cả đời mình đặng để lại cho hậu thế những trang tư liệu lịch sử quý giá cùng những kiến nghị và những bài học đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Nhiều bài học đến nay vẫn chưa được học hết, nhiều khuyến nghị ông nêu ra cho vẫn chưa được áp dụng hoặc thực hiện đến nơi đến chốn.

  Qua điếu văn do Bộ trưởng BNG Phạm Bình Minh đọc tại tang lễ, ta được biết chàng thanh niên TRẦN QUANG CƠ đã là người lính bảo vệ thủ đô Hà Nội, rồi hoạt động địch vận trong kháng chiến, sau đó khi hòa bình lập lại, theo sự phân công của tổ chức lại khoác ba lô về nhận công tác tại Bộ Ngoại giao. Tại đây, sau các công việc với Mỹ (đàm phán ở Paris với Mỹ về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đàm phán bình thường hóa quan hệ với Mỹ dở đang), Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã phân công cho ông - một người am hiểu về Mỹ, phương Tây - phụ trách mảng khó khăn nhất, “xương xẩu” nhất của công tác ngoại giao lúc bấy giờ: đó là giải pháp cho vấn đề Campuchia. Bắt đầu tham gia cách mạng là 1 người lính, rồi trở thành Thứ trưởng, Thứ trưởng thứ nhất, ông đã lại như một người lính dành cả chục năm cuối đời công tác của mình cho vấn đề Campuchia gai góc, mà vấn đề CPC lại gắn chặt với Trung Quốc. Ông đã sát cánh cùng với Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, trở thành một “cặp bài trùng” trong cuộc đấu tranh gay go phá bao vây cấm vận như mục tiêu đấu tranh cho cả một giai đoạn cách mạng nước ta lúc đó.
●  Bằng sự phân tích tinh tường, thấu đáo, “Hồi ký” của Trần Quang Cơ đã vạch ra ý đồ và vai trò thực sự của các nước lớn: Mỹ, Liên Xô, Trung quốc trong cuộc xung đột CPC. Trung Quốc bằng mọi cách đòi bỏ chữ “diệt chủng” để “rửa mặt” khỏi sự dính líu của họ với một trong những chế độ tàn bạo ghê tởm nhất trong lịch sử. Ông phân tích cái gọi là “giải pháp đỏ” sẽ gây cho Việt Nam rắc rối như thế nào, đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc vất vả ra sao khi những người lãnh đạo Trung Quốc từ trên xuống dưới kể cả Đặng Tiểu Bình đều sử dụng thủ đoạn xuyên tạc sự thật một cách trắng trợn (cuộc nói chuyện của Đặng Tiểu Bình với Kayson về Việt Nam 7/10/1989), không bao giờ ngừng chia rẽ nội bộ và làm suy yếu Việt Nam.
Đọc “Hồi ức và Suy nghĩ”, có thể theo dõi cách xử lý vấn đề CPC và quan hệ với Trung Quốc của lãnh đạo Việt Nam đã khiến Việt Nam bị lừa và trượt dần vào vòng xoáy xảo trá của Trung Quốc như thế nào, mà bước ngoặt là hội nghị Thành Đô, và ông Trần Quang Cơ coi đó là hành động vô nguyên tắc, không đúng với nghị quyết BCT và bị Trung Quốc lỡm. Cuối chương 10, Trần Quang Cơ đã phải thốt lên: “Thuốc đắng thầy Tầu bốc cho ta đắng thật, nhưng vẫn không dã được tật”. Ngây thơ, cả tin vào Trung Quốc là đồng minh bảo vệ CNXH mặc dù bị Trung Quốc từ chối mà vẫn tự nguyện “giơ ngực cho người ta đấm” như nhận xét vừa hài hước vừa chua xót của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Ông Cơ đã dẫn lời phát biểu của Phạm Văn Đồng tại cuộc họp BCT: “Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, còn được hay không thì không sao. Tôi không nghĩ người lãnh đạo nên làm như vậy”.
Theo ông Trần Quang Cơ, Việt Nam-Trung Quốc “không phải là bình thường hóa quan hệ, mà là phụ thuộc hóa quan hệ”, và kể từ sau Đại hội VII, đánh giá Trung Quốc của Bộ chính trị từ chỗ có 2 mặt: bành trướng bá quyền và XHCN nhưng về sau chủ yếu chỉ còn mặt thứ 2. Dẫn sự việc cấp cao của ta chỉ đạo các ngành quan hệ với Trung Quốc thông qua Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam mà không cần qua Sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc, thậm chí không cần qua cả Bộ Ngoại giao Việt Nam và còn đi xin ý kiến đối phương (Ban Đối ngoại đi hỏi Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Từ Đôn Tín) về hướng giải quyết vấn đề trong đàm phán trước khi cử người đi đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao với Trung Quốc cho có kết quả. Ông Cơ cho rằng  “thật là có một không hai trong lịch sử đối ngoại!”.
 ●  Trước bước ngoặt thay đổi thời đại, thay đổi chiến lược trên thế giới cuối thế kỷ XX, Trần Quang Cơ mong ước Việt Nam sẽ “thay đổi tư duy đối ngoại để có được một đường lối phù hợp thực tế khách quan nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi thế cô lập, hòa nhập được với đà phát triển chung của khu vực và thế giới”.
“Nhưng không!”, ông Cơ than thở: “Tư duy chính trị xơ cứng đã giam giữ nước ta trong hoàn cảnh khó khăn một thời gian dài”. Có nhiều chủ trương, quyết sách ta chậm đến 20 năm, chẳng hạn như  “từ chối đề nghị của Mỹ và làm cao khiến ta bỏ lỡ cơ hội, khiến cho bình thường hóa với Mỹ và gia nhập ASEAN mãi 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện một cách chật vật”.
Ông lấy làm tiếc rằng “việc ta bỏ lỡ cơ hội với Mỹ đã khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng”, và đặt câu hỏi: “Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và Trung Quốc có dám đánh ta năm 1979, nếu như ta có một chiến lược đúng đắn và cầu thị hơn?” Một câu hỏi đau đáu và chưa bao giờ mất tính thời sự.
Sau khi giải quyết xong vấn đề CPC, đáng lẽ về mặt đối ngoại  phải mở ra 1 thời kỳ đa phương hóa quan hệ một cách thực sự vì mục đích cao nhất là lợi ích dân tộc và phát triển đất nước, thì đất nước lại rơi ngay vào cái bẫy “toàn diện” mới (bẫy “ý thức hệ” về chính trị và “bẫy phát triền” về kinh tế). Nếu tính từ khi lập nước (năm 1945), đây là lần thứ ba hoặc thứ tư trước các bước ngoặt lịch sử (1946, có thể 1954, 1975, 1990), chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội cho an ninh và phát triển tốt hơn.
Đọc lại Hồi ký Trần Quang Cơ và phần “Kiến nghị” ông viết gửi cho Bộ Chính trị theo yêu cầu của BCT, chúng ta thấy thật kỳ lạ là những vấn đề ông đặt ra từ cách đây 20 năm đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Chẳng hạn về những thách thức, trong số thách thức bên trong ông Cơ nhấn mạnh “tệ tham nhũng đang hủy hoại sức đề kháng vật chất cũng như tinh thần của dân tộc ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ đối với các thách thức bên ngoài”. Về thách thức bên ngoài, ông nhấn mạnh diễn biến hòa bình và bá quyền bành trướng, trong đó những thách thức đe dọa nhiều mặt của Trung Quốc đối với ta đều là những vấn đề hiện thực đang xảy ra và ta đang phải xử lý, khác với những thách thức đe dọa của các đối tượng khác có phần nào chỉ là giả định và có khi chỉ là sự hù dọa của Trung Quốc.
Truyện Trung Quốc có quân sư Gia Cát Lượng viết bảo bối, kế sách cho tướng ra trận khi gặp hiểm nguy thì giở ra xem. Nhưng các kiến nghị của Trần Quang Cơ dù có giá trị đến mấy, nhưng đáng tiếc, ở Việt Nam không có nhà ‘minh quân” nào biết  giở ra xem và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn.
Tâm nguyện đau đáu của “Hồi ức và Suy nghĩ” của Trần Quang Cơ là “rút ra những bài học bổ ích và đích đáng cho ngoại giao trong hiện tại và tương lai vì một mục đích tối cao là đảm bảo lợi ích của dân tộc trong mọi tình huống”. Vì thế ông đã bỏ vào đấy tất cả tâm huyết, trí tuệ, bản lĩnh, cả sinh mệnh chính trị, toàn bộ sức bình sinh của con người ngoại giao - một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, kỳ cựu, thượng thặng, vì đất nước! Tôi cũng suy tư mãi về quyết định “bỏ cuộc chơi” của ông. Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là bị ép, còn ông, ông tự bỏ. Bỏ cuộc chơi khi canh bạc đã tàn hoặc chỉ còn lại những con bạc khát nước thì cũng là điều không hẳn là đáng hối tiếc. Chỉ tiếc là tiếc cho đất nước, cho dân tộc, nếu nhỡ lần này nữa thì chúng ta sẽ rơi vào một vòng trầm luân mới mà chưa biết khi nào mới lại thoát ra được?

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 3-7-15
__________

Mục Lục

Hồi ức và Suy NghĩViệt Nam trong thập niên 70 của thế kỷ 20Một nhiệm kỳ đại sứ không tẻ nhạtĐại hội “đổi mới” CP87 và 3 tầng quan hệ của vấn đề CampuchiaTừ chống diệt chủng đến “giải pháp đỏ”?Một bước tự cởi trói: đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ .Trung Quốc uốn ḿnh để thích nghi với thế cựcHiệp 1 của Hội nghị quốc tế Pa–ri về CampuchiaĐặng Tiểu B́nh tiếp Kaysone Phomvihan[1] để nói với Việt NamThuốc đắng nhưng không dă được tậtBCT đánh giá cuộc đàm phán tháng 6/1990Một sự chọn lựa thiếu khôn ngoanCuộc gặp cấp cao Việt–Trung tại Thành Đô
3–4/9/90
Thành Đô là thành công hay là thất bại của ta?Ai là người đáng lư ra phải nhớ dai?Món nợ Thành ĐôNhững vấn đề về t́nh h́nh quốc tế và chính sách đối ngoại c̣n có tranh luậnĐại hội VII và cái giá phải trả cho việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc.Hiệp 2 của Hội nghị quốc tế về Campuchia.Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trangNhững thách thức đối với an ninh và phát triển của ta –– Một số kiến nghị đối sáchNhững thách thức đe dọa an ninh và phát triển của ta có thể xuất xứ từ đâu và dưới những dạng nào?Nguy cơ lớn nhất và thúc bách nhất đe dọa an ninh và phát triển của ta là từ đâu?Kiến nghị đối sáchBảng niên đạiPhụ Bản