Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

TẾT MẬU THÂN – TRẬN TẬP KÍCH CHIẾN LƯỢC (Trần Độ)

 TẾT MẬU THÂN – TRẬN TẬP KÍCH CHIẾN LƯỢC.

Năm 1968, tướng TRẦN ĐỘ là Phó Chính ủy Quân giải phóng miền Nam, ông là một trong những người chỉ huy trực tiếp trận Mậu Thân.

Năm 1986, trong hội thảo Khoa học Quân sự về Mậu Thân (1968), ông đã có bài phát biểu tham luận …
----------------

... Kể từ năm 1968 đến giờ, đã qua 18 năm, hôm nay được dự hội nghị này, tôi mới có dịp nói với các đồng chí về những suy nghĩ của tôi trong suốt 18 năm qua về Tết Mậu Thân.

Hội nghị này là hội nghị khoa học. Kể từ khi rời khỏi quân đội đi làm việc khác, tôi đã dự nhiều hội nghị khoa học. Lẽ ra, trong một hội nghị khoa học thế này thì tham luận của tôi phải viết ra giấy, thành văn bản đàng hoàng, đọc để các đồng chí nghe mới phải. Nhưng vì vội quá cho nên tôi không kịp viết, ở đây tôi xin phát biểu miệng thôi. Tôi xin phát biểu 3 vấn đề:

- Một là, một số ý kiến chung quanh việc đánh giá Tết Mậu Thân,
- Hai là, ý kiến về sự chỉ đạo chiến lược trong Tết Mậu Thân,
- Ba là, một số ý kiến chung quanh vấn đề về Tổng tiến công và Tổng Khởi nghĩa.

I. Đánh giá Mậu Thân 1968

Về đánh giá Tết Mậu Thân, từ lâu nay tôi cũng có nhiều suy nghĩ, tự mình lật đi lật lại. Hôm nay, lại được nghe nhiều ý kiến trong hội nghị này, tôi thấy cần phải báo cáo với các đồng chí một số diễn biến trong suy nghĩ của tôi, hy vọng góp được phần nào vào việc nghiên cứu, đánh giá của chúng ta.

Trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến năm 1985, tôi có hai lần bị các nhà báo quốc tế phỏng vấn về Mậu Thân. Họ tìm tôi vì chẳng may tôi được đưa tin là chết trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân ở Sài Gòn. Họ tưởng Trần Độ ghê gớm lắm, biết hết mọi chuyện.

Lần thứ nhất, có một anh nhà báo phương Tây đến xin làm việc về văn hoá, văn nghệ. Làm việc xong, cuối buổi anh ta mới nói : còn chút thì giờ, xin trung tướng cho được hỏi đôi điều về Tết Mậu Thân. Tôi nói :

- Thôi, thôi, ông đến làm việc về văn hoá, ta làm về văn hoá chứ sao lại hỏi Tết Mậu Thân vào đây ?

Thế nhưng họ cũng cứ tìm mọi cách “săn” cho bằng được. Rồi mình cũng phải nói.

Lần thứ hai, trong dịp làm cuốn phim “Việt Nam thiên lịch sử truyền hình”, một nhà báo phương Tây lại tìm gặp tôi để hỏi về Mậu Thân. Tôi sợ quá. Bộ Ngoại giao cho người đến bảo cần phải gặp họ. Tôi bảo :

- “Không, tôi chưa tin. Các anh có văn bản giấy tờ gì không, chứ cứ nói mồm thế này, tôi chưa tin”.

Sau tôi phải xin ý kiến của Ban Bí thư. Lúc bấy giờ ông Nguyễn Duy Trinh phụ trách. Tôi hỏi ông xem có cho họ gặp không ? Ông Trinh ra hai điều kiện. Cả hai điều kiện này tôi đều không giữ được (có tiếng cười). Ông ấy bảo :

- “Gặp thì gặp nhưng không được nói lúc đó làm gì ở chiến trường”
(có tiếng cười sảng khoái của đại tướng Lê Trọng Tấn).

Mình làm gì ở chiến trường thì họ biết quá rõ rồi còn gì. Họ biết rõ mới xin gặp. Điều thứ hai ông ấy dặn chớ có nói gì về Mậu Thân
(tiếng ồn ào, tiếng cười. Có tiếng ho của ai đó không nhịn được cười).

Người ta gặp mình chủ yếu là hỏi về Mậu Thân mà lại không được nói thì gặp để làm gì ? Tôi bảo ông Trinh :

- Thôi thế này, Ban Bí thư đã đồng ý cho gặp thì tôi cứ gặp. Còn tôi nói với họ cái gì thì có anh cán bộ ngoại giao ngồi đấy, anh làm chứng cho tôi
(có tiếng xen vào: Trần Độ mà còn phải rào đón như thế đấy).

Có mấy lần anh em ở Hà Nội thấy tôi ở chiến trường ra, đến thăm, cũng muốn tôi giải thích về Mậu Thân.

Đấy xung quanh cái Mậu Thân, ở trong nước cũng như trên thế giới người ta muốn được giải thích lắm vì có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Có người cho là không có thắng lợi chỉ có thất bại thôi, chẳng được cái tích sự gì. Nhưng lại có ý kiến cho là thắng lợi tuyệt vời, nghĩa là chính nó làm nên tất cả các giai đoạn của lịch sử chống Mỹ. Lại có ý kiến – trong đó có ý kiến của các nhà báo ngoại quốc – còn hoài nghi phân vân không biết có thắng lợi không. Không biết thắng như thế nào tức là hoài nghi phân vân, không biết đánh giá như thế nào, …

Tôi đề nghị như thế này : Bây giờ nhìn lại để đánh giá Tết Mậu Thân, chúng ta cần xem xét nó trên cơ sở hai tác dụng đối với cuộc chiến tranh. Một là Tết Mậu Thân rõ ràng đã làm biến chuyển cục diện cuộc chiến tranh. Hai là, cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Đây là hai điều rất rõ ràng. Thế nhưng, không nên chỉ đánh giá mặt thắng lợi và ý nghĩa tích cực của nó mà phải phân tích cả những mặt không tốt, những hậu quả không tốt của Tết Mậu Thân, do sự chỉ đạo về chiến lược dẫn đến. Chẳng hạn, khi tổng tiến công, chúng ta đã tung hết lực lượng. Từ hôm qua đến nay được nghe tham luận của các đồng chí tôi mới biết là chiến dịch nào chúng ta cũng tung hết lực lượng ra, không có chiến dịch nào có lực lượng dự bị chiến dịch cả. Đánh Huế cũng thế và ở Sài Gòn cũng thế, không có lực lượng dự bị chiến dịch. Đánh như thế, ở miền Nam lúc đó gọi là đánh “mút mùa”, đánh “tới số”, đánh hết thì thôi. Cho nên đến khi địch phản kích thì chúng ta không có lực lượng, chúng ta gần như mất thế và đối phó phản kích rất khó khăn. Chúng ta lâm vào tình hình rất khó khăn trong những năm 1969, 1970, 1971. Đó là những năm có rất nhiều nguy cơ, tạo nên nhiều cái khủng hoảng căng thẳng, thiệt hại rất lớn. Trong những năm đó, có nhiều nhà báo phương Tây có dụng ý moi móc mình. Họ hỏi : - “Năm 1971 này các ông nắm được bao nhiêu dân, giải phóng được bao nhiêu phần trăm đất đai ?”. Họ hỏi thế là vì trong những năm 1963, 1964, 1965 cứ mỗi năm, chúng ta lại đưa tin số dân được giải phóng tăng lên, tỷ số phần trăm đất đai được giải phóng cũng tăng lên. Đến năm 1974 họ lại hỏi như thế. Chúng ta trả lời : chúng tôi dùng “dã số”. Mình chưa có con số mà dùng con số đó là dại. Bởi vì thật ra là mình mất gần hết. Trong những năm đó, lực lượng vũ trang không có quân số bổ sung, rất gay go. Số đồng bào bị kìm kẹp, tàn sát cũng ghê gớm lắm.

Tôi cho đó là hậu quả sự chỉ đạo có thiếu sót, sự chỉ đạo về chiến lược có thiếu sót. Cho nên đánh giá thắng lợi Tết Mậu Thân mà tách ra khỏi những thiếu sót, tách cái làm được ra khỏi cái chưa làm được thì sự đánh giá sẽ không rõ lắm bởi vì thắng lợi và thiếu sót, cái làm được và chưa làm được nó quyện vào nhau, thiếu sót nằm ở ngay trong thắng lợi. Cho nên khi đánh giá Tết Mậu Thân năm 1968, tôi đề nghị đánh giá rõ cái tác dụng lớn lao của nó, đồng thời phải nói ngay cái hệ quả tiêu cực của nó do sự thiếu sót trong chỉ đạo mà có. Đánh giá cho đúng Tết Mậu Thân rất quan trọng vì những vấn đề diễn ra trong năm 1968 có liên quan đến toàn bộ cuộc chiến tranh trong những năm tiếp sau.

Đánh giá Tết Mậu Thân phải thấy hai mặt của một vấn đề, phải có cái nhìn toàn cục vào trong một sự việc, chứ không thể tách ra như khi đánh giá một công việc bình thường, đại khái như việc này có ưu, có khuyết, ưu mấy điểm, khuyết mấy điểm, v.v…

II. Chỉ đạo chiến lược
Vấn đề thứ hai, tôi xin phát biểu về chỉ đạo chiến lược. Đến bây giờ tôi mới được biết (nói cho đúng hơn trước đây có khi biết nhưng mà quên biến đi mất), nhưng lần này qua báo cáo được nghe lại tôi mới được biết rõ hơn Trung ương có Nghị quyết 21 nhận xét, đánh giá rõ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Cách đánh giá như Nghị quyết 21 là chính xác. Ở đây tôi chỉ đi sâu vào một số điểm cụ thể.
Trong Nghị quyết 21 có nêu lên một điểm quan trọng nhất là do đánh giá tình hình chủ quan cho nên trong Tết Mậu Thân ta đã đề ra yêu cầu đối với cuộc Tổng tiến công không thích hợp. Đây là then chốt của vấn đề. Tuy nhiên, về đánh giá tình hình tôi thấy lãnh đạo của chúng ta cũng có những mặt rất tài tình. Ví dụ như việc nêu vấn đề thời cơ chiến lược mà báo cáo của anh Cao Pha (Thiếu tướng, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam) có nói tới. Nhưng tôi thấy những nhận định về thời cơ chiến lược này cũng chỉ là xuất phát từ một cái dự cảm tài tình chứ chưa phải từ những nhận định cụ thể, từ những nhân tố về địch và ta. Và cái dự cảm tài tình đó đã dẫn chúng ta đi đến hạ quyết tâm chiến lược là Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa để kết thúc chiến tranh vào năm 1968. Và sau đó mọi nhận định tình hình đều cố gò sao cho nó đúng với quyết tâm chiến lược này, cố làm sao để chứng minh cho việc hạ quyết tâm chiến lược là đúng.

Trong cuộc sống, người có đầu óc kiệt xuất có thể dự đoán được những điều ghê gớm sẽ xảy ra một cách chính xác. Thế nhưng trong chiến tranh thì không nên lấy cái dự cảm tài tình để thay thế cho sự tính toán khoa học.

Tôi xin dẫn ra đây một số điểm mà tôi nghe được trong bản báo cáo của anh Cao Pha. Tôi lấy ví dụ như khi nhận định về tình hình ở miền Nam lúc đó, văn kiện có một câu : “Kẻ địch ở miền Nam không cai trị nổi nhân dân miền Nam nữa”. Tức là tình hình đã tới mức đúng như luận điểm của Lê-nin là điều kiện để Tổng khởi nghĩa đã chín muồi.

Nhưng bây giờ chúng ta thử nhìn lại thực tế xem có phải lúc đó, kẻ địch ở miền Nam không cai trị nổi nhân dân miền Nam nữa không ? Thực ra lúc đó, kẻ địch vẫn đang cai trị được.

Nhân dân miền Nam uất ức, căm thù địch, điều đó đúng. Nhưng nhân dân miền Nam sẵn sàng đứng dậy hành động một cách có tổ chức thì chưa phải. Căm thù, uất ức, chửi rủa, căm giận, mong cách mạng, … chứ còn có một quyết tâm hành động thì cũng chưa thật rõ rệt lắm. Về tình hình ở Sài Gòn cũng như ở Huế và các nơi khác, các anh đã nói rồi. Về lực lượng chính trị, từ nhận định này đi đến hạ quyết tâm Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa, kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi hoàn toàn. Lúc đó nói giành thắng lợi quyết định, nhưng với nội dung lại là “Đánh đổ toàn bộ nguỵ quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân”. Điều này thể hiện ở mấy chữ - chúng ta nhớ lại mà xem, “dứt điểm”, toàn bộ tư tưởng của chúng ta đều tập trung vào vấn đề “dứt điểm”. Tôi nhớ lúc bấy giờ ở B2, hai từ “dứt điểm” nghe nó sung sướng, nó khoan khoái lắm.

Không biết các anh khác thế nào chứ riêng tôi, bây giờ “hồi ký” lại, tôi thấy tâm trạng của tôi lúc đó là như vậy. Tôi không có cái trăn trở như anh Trần Văn Quang (Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Xuân 1968 là Tư lệnh mặt trận Trị Thiên – Huế). Anh Trần Văn Quang còn có cái thực tế của người chỉ huy, có những điều phải tính toán thực tế, phải phân tích. Còn riêng tôi, tôi thích làm tới thôi, nghe thấy làm tới nó khoái trong bụng lắm (có tiếng cười), chứ không có đặt lại vấn đề như hôm nay. Sau 18 năm, chúng ta đặt lại vấn đề xem xét, chứ lúc đó thì chẳng có đặt đi, đặt lại gì cả. Hôm qua, anh Trần Văn Quang có nêu lại hiệu triệu của Trung ương cục, của Mặt trận. Đúng là những hiệu triệu đó do tôi dự thảo thật. Lời lẽ cứ phơi phới (có tiếng cười khà khà của đại tướng Lê Trọng Tấn). Hôm nọ gặp anh Phạm Hùng, anh Phạm Hùng còn nhắc lại câu chuyện bản hiệu triệu. Nó như thế này : Anh Phạm Hùng muốn dùng cụm từ “Dãy Trường Sơn đã chuyển mình, sông Cửu Long đã dậy sóng”. Tôi bảo hiệu triệu chỉ nên 500 từ thôi, phải súc tích, tôi đã tính toán từng từ rồi. Anh ấy vẫn thích để cụm từ đó và trách vui tôi : “Ông chơi kiểu cắt chữ của người ta”. Lúc bấy giờ tôi khoái hai từ “dứt điểm” lắm. Muốn nói tình huống gì thì cũng phải “dứt điểm” thôi. Tiếp đó chúng tôi triển khai một kế hoạch có thể nói là rất phức tạp, phức tạp vô cùng - một kế hoạch chưa có học viện nào dạy cả : Nào là đón tiếp Liên minh dân tộc, dân chủ, nào là kế hoạch khởi nghĩa, kế hoạch binh vận. Cán bộ binh vận của ta đi từ phía Bắc vào, từ thành phố Sài Gòn đáp máy bay lên Đà Lạt, xuống Cần Thơ để nắm các đầu mối binh vận. Nghe nói nắm được nhiều tướng nguỵ lắm, toàn tướng cả. Cho nên lại càng tin vào khả năng dứt điểm. Bây giờ xem lại các văn kiện thấy tư tưởng chỉ đạo cũng là kết thúc chiến tranh, cũng là dứt điểm. Qua văn kiện mà anh Cao Pha đọc trong Hội nghị này thì chúng ta thấy ở đó có nói đến ba tình huống. Tôi hỏi, anh Cao Pha cho biết có một văn kiện nói đến ba khả năng. Anh Sáu Khâm (nguyên tư lệnh Sư đoàn 9) cũng cho tôi biết rằng ba khả năng đó là của Trung ương cục. Lúc đó tôi cũng ở trong Trung ương cục mà đến nay không nhớ họp ở đâu, họp vào lúc nào để thảo luận về ba khả năng. Nhưng tôi nhớ lại thì thấy ba khả năng mà chúng tôi thảo luận lúc đó nó không giống như các văn kiện của Bộ Chính trị hay của Trung ương. Bởi vì bây giờ xem lại các văn kiện của Bộ Chính trị, của Trung ương tôi thấy ba khả năng này chỉ là một khả năng thôi. Tức là chỉ dự kiến các khả năng khác nhau sau khi mình đã giành được thắng lợi.

Hiện ở đây hôm nay có anh Mười Khang (Đại tướng Hoàng Văn Thái. Xuân 1968 là Tư lệnh Nam Bộ) và anh Ba Long (Đại tướng Lê Trọng Tấn), không hiểu các anh có còn nhớ rõ không. Còn tôi thì tôi nhớ lúc thảo luận về ba khả năng dạo ấy, nó là như thế này. Khả năng thứ nhất là dứt điểm, tức là tất cả các yêu cầu của mình đều đạt. Và yêu cầu của mình lúc đó là “Đánh sập nguỵ quyền, làm tan rã toàn bộ nguỵ quân” (Chưa đụng đến Mỹ, chưa tiêu diệt được nó),thành lập một chính phủ liên hiệp và qua chính phủ liên hiệp đó mà nói chuyện với Mỹ. Cho nên lúc ấy chúng tôi tìm mọi cách mời các ông, các bà thuộc Liên hiệp dân tộc, dân chủ ra vùng giải phóng một cách “quyết liệt lắm”. Vì vậy khi đánh Đài phát thanh, anh em còn mang theo cả bản Tuyên ngôn của Mặt trận. Về sau, đánh không được, anh Tư Tăng (Nguyễn Văn Tăng, anh hùng LLVTND, một chỉ huy biệt động Sài Gòn năm 1968) phải mang chôn ở một chỗ nào đó.

Khả năng thứ hai là cũng thắng ở mức đánh cho nguỵ quyền suy yếu nhưng nó chưa sập được và làm cho nguỵ quân bị thiệt hại nặng, nghĩa là nó vẫn còn, nó thua to nhưng vẫn còn.

Còn khả năng thứ ba, tôi nhớ không rõ ai nói mà tôi thấy nó hay quá. Đó là nếu cả hai khả năng trên không đạt thì coi như một trận tập kích lớn thắng lợi. Tôi còn nhớ hai từ coi như nghĩa là cũng thắng, nhưng chỉ là thắng lợi của một trận tập kích lớn. Đấy là khả năng thứ ba hay là tình huống thứ ba.

Tôi nhớ như vậy. Anh Sáu Khâm lại có văn bản cẩn thận. Văn bản nói thế này : khả năng thứ nhất có hai tình huống hoặc là thắng lợi lớn ở một số trọng điểm, ở một số vùng nông thôn rộng lớn. Khi đó ta phải tiếp tục truy kích làm tan rã nguỵ quân, nguỵ quyền, nhanh chóng phát triển, tăng cường lực lượng chính trị, củng cố vùng mới giải phóng. Hoặc là ta thành công ở một số nơi và vùng nông thôn rộng lớn nhưng ở trọng điểm không đạt. Trọng điểm là Sài Gòn. Như vậy khả năng thứ nhất là đạt cả ở trọng điểm và cả ở các nơi khác.

Khả năng thứ hai là đạt ở các nơi khác nhưng ở Sài Gòn không đạt.

Khả năng thứ ba là những mục tiêu chủ yếu không đạt, chính quyền nguỵ vẫn còn, địch đối phó quyết liệt để làm thay đổi tương quan lực lượng.

Bây giờ nhìn lại 3 khả năng như tôi đã trình bày, tôi thấy ta rơi vào giữa khả năng 2 và khả năng 3. Tôi nêu lên tình huống này bởi vì nó liên quan đến sự chỉ đạo của Trung ương cục.

Sau đợt I (chưa phải là ngày 28 tháng 2 đâu mà chỉ sau dăm, bảy ngày thôi), các mục tiêu ta đánh rộ lên rồi thôi. Anh em biệt động hy sinh gần hết. Lực lượng của mình không làm được gì lớn hơn nữa trong thành phố. Ngay lúc ấy có một số anh em chỉ huy ở các đơn vị đã có ý kiến hỏi về Trung ương cục : thế thì hiện nay chúng ta ở vào tình huống nào, ở trong khả năng nào ? Lúc đó tôi có nhận được một số câu hỏi này và cũng xin nói thật là tôi cũng không đề nghị Trung ương cục họp mà chỉ trao đổi với vài anh em xem là ta đang ở trong tình huống nào. Nhưng tình thế lúc đó nó cứ trượt đi khẩn trương vô cùng, thành thử việc đề nghị có một cuộc họp trong lúc đó, không hiểu sao tôi cứ thấy nó ngường ngượng thế nào ấy. Không họp được như bây giờ. Sau này có dịp tôi có trao đổi với anh Phạm Hùng (tôi cũng không nhớ là vào dịp nào, toàn là nhớ lại thôi, không có văn bản, không có chứng cứ) về suy nghĩ lúc đó của tôi. Anh Hùng cũng tỏ ý ân hận và cho rằng giá như lúc ở chiến trường mà có ngay được cuộc họp để đánh giá tình hình kịp thời thì hẳn sẽ tốt hơn. Tôi cũng cho rằng về chỉ đạo ở chiến trường, giá như lúc đó Trung ương cục nhạy bén, kiên quyết có một cuộc họp để đánh giá tình hình, chắc sẽ nhận ra được một số vấn đề. Nhưng tình hình chiến trường lúc đó sôi động lắm. Mặt khác, cái ý kiến “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa là một giai đoạn, một quá trình” cũng thúc đẩy chúng tôi lao vào hành động rất khẩn trương, quyết liệt. B2 thì nhận được ý kiến này sau đợt I, sau Tết. Tôi cũng không nhớ rõ là bằng con đường nào, nhưng mà sau khi tình hình đã hơi trục trặc thì nhận được ý kiến này. Ý kiến này lúc đó thật như một liều thuốc bổ, làm cho tinh thần đang hơi có chút buồn rầu lại hăng hái lên và lại nhằm vào mục tiêu dứt điểm một cách hăng hái như cũ. “Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa là một giai đoạn, một quá trình”. Phải, ta có cả một quá trình cơ mà. Mới có vài hôm, ăn thua quái gì. Cho nên “cứ yên tâm vững bước mà đi” chứ không có gì phải suy tính cả. Và cũng không cần phải đánh giá lại tình hình nữa. Đó là lý do vì sao chúng tôi đã không có ngay được một cuộc họp để đánh giá tình hình cho kịp thời.

Lúc bấy giờ ở chỗ chúng tôi có tình hình như thế này : Là sau khi anh Mười (Đại tướng Hoàng Văn Thái) vào bàn bạc quyết tâm đặt kế hoạch rồi thì anh Trà (Thượng tướng Trần Văn Trà) ra Hà Nội nhận mệnh lệnh. Và ở trong này ra tay chuẩn bị. Tôi chuẩn bị mấy bản hiệu triệu, triển khai công tác Đảng, công tác chính trị, công tác cán bộ, … làm náo nhiệt lắm. Cho đến lúc sở chỉ huy từ bắc Lộc Ninh di chuyển xuống để có thể bám vùng bổ túc làm sở chỉ huy cơ bản thì lúc ấy anh Trà mới về đến nơi. Anh Trà về trong lúc đang di chuyển sở chỉ huy cơ bản nên cũng không có cuộc họp nào để anh trình bày ý kiến của Hà Nội. Anh Trà gặp từng người để nói ý kiến của Hà Nội. Riêng tôi thì tôi nghe được hai câu thế này : Tập trung vào các thành phố nhưng phải quan tâm nông thôn. Một ý kiến chỉ đạo rất quan trọng như vậy nhưng mà nó lại rơi vào cái lúc đang triển khai rồi. Tôi tính không thể nói với ai được hai câu này và có nói cũng không ai nghe. Thế là toàn bộ, từ cán bộ cao đến chiến sĩ đều tập trung vào cái việc dứt điểm.

Cho nên mới diễn ra cái chuyện đốt lán, ra đi không trở lại. Không biết bây giờ gọi nó là cái gì nhưng có lẽ cái tư tưởng chỉ đạo là như vậy. Lúc này ai cũng thấy trong văn bản có đề ra ba khả năng nhưng thực tế chỉ tập trung vào một khả năng thôi. Lý giải bây giờ khó thật. Không biết các anh khác thì thế nào chứ lúc đó tư tưởng tôi cũng thế. Khi gặp cán bộ cũng có đề ra ba khả năng đấy, có giải thích về ba khả năng nhưng riêng tư tưởng của mình cũng chỉ tính đến một khả năng thôi.

Cho nên thấy kế hoạch tác chiến tung ra hết : lực lượng, cơ sở binh vận dùng hết thì thấy nó là tất nhiên. Không có thắc mắc gì cả. Cũng không cần thấy có điều gì phải xem xét nó có trái với nguyên lý khoa học quân sự không ? “Đấu tranh này là trận cuối cùng” mà ! Tư tưởng chung lúc đó là đi vào cái hướng dứt điểm. Bản thân tôi cũng không lý giải được là tại sao khi giải thích cho cán bộ thì nói ba khả năng, nhưng tư tưởng lại nhất định chỉ có một khả năng thôi. Bản thân mình đã như vậy thì cấp dưới cũng như vậy thôi, đó là điều dễ hiểu. Vì cuộc kháng chiến đến lúc đó cũng đã gay go rồi, Mỹ nhảy vào nhiều rồi, chiến đấu ác liệt rồi. Cho nên sự mong đợi kết thúc chiến tranh cũng là một mong đợi nóng bỏng.

Tôi nghĩ rằng tư tưởng chỉ đạo chiến lược ở đây là từ chỗ nhận định thời cơ chiến lược rồi phân tích địch ta, đi đến kết luận rằng lúc này là lúc chúng ta có thể kết thúc chiến tranh và kết thúc chiến tranh bằng phương thức Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa là tư tưởng đã chỉ đạo mọi mặt suy nghĩ, hành động của các cấp. Và chính điều đó nó đã làm cho chúng ta có những cái không được chặt chẽ, không được cẩn thận, không được chắc chắn trong việc đặt kế hoạch và xử lý các tình huống.

Trong chỉ đạo chiến lược có một vấn đề như vậy và các văn kiện cũng chứng minh như vậy.

Sự chỉ đạo chiến lược từ cấp cao nhất đến cấp cao vừa vừa cho đến cấp dưới đều hướng vào một chỗ là quyết dứt điểm, quyết tung lực lượng ra để dứt điểm. Không cần biết sau đó thì tình hình sẽ thế nào nữa (ồn ào).

Vậy thì chính cái tư tưởng dứt điểm ngay trong đợt một đã làm cho chúng ta mất thế sau khi chúng ta không giành được thắng lợi như ý định và địch thì ra sức phản kích, phản kích điên cuồng.

Tôi nghĩ rằng sự bắt đầu là từ ở đây, từ sự chỉ đạo chiến lược. Tôi xin được trình bày ý kiến này.
Nếu lúc ấy ta tỉnh táo hơn, đánh giá tình hình một cách cụ thể hơn, thiết thực hơn hay như các đồng chí thường nói nó thật hơn thì những yêu cầu chúng ta đặt ra sẽ thích hợp hơn. Chúng ta sẽ chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị tư thế và chuẩn bị tư tưởng để tiếp tục đối phó với địch sau này. Nếu được như thế thì có lẽ những năm 1969 – 1970 chúng ta không bị mất thế lớn như vậy. Và ngay từ sau đợt I, nếu chúng ta quan tâm đến nông thôn nhiều hơn, chúng ta giành lực lượng cho nông thôn tốt hơn có lẽ địch cũng không thể dễ dàng phản kích như những năm 1969 – 1970.

Từ chỗ nhận định thắng lợi cho đến nhận định về sự chỉ đạo chiến lược, bây giờ nhìn lại cái đã qua, tôi thấy cần phải phân tích kỹ như vậy, có lẽ nó rõ hơn.

Cuộc tổng tiến công năm 1968 đạt được thắng lợi rất lớn và thắng lợi đó có tác động chiến lược rất lớn. Nhưng rõ ràng cái mức độ thắng lợi trên chiến trường như chúng ta đã nhận định thì nó là trận tập kích lớn thôi, một trận tập kích chiến lược giành được thắng lợi lớn, làm suy yếu, rệu rã nguỵ quân, nguỵ quyền, làm lung lay ý chí xâm lược của giặc Mỹ. Nếu lúc ấy, trong chỉ đạo chiến lược nhằm đạt tới mục tiêu như vậy thôi thì chắc là chúng ta bố trí kế hoạch, sử dụng lực lượng có lẽ tốt hơn.

Nhân đây xin phát biểu luôn ý kiến hôm trước anh Mười Khang có khêu gợi là đợt hai đánh vào Sài Gòn có cần không ? Riêng tôi, tôi thấy không cần. Bởi vì mọi tác động về quân sự, về chính trị, về tâm lý và nhiều cái khác đều đã diễn ra ngay từ sau cuộc tiến công hồi Tết rồi. Chứ không phải đợi đến đợt tiến công tháng 5 này mới tác động thêm. Mọi tác động cơ bản đã diễn ra trong dịp Tết. Cái vụ Tết đã làm địch giật mình, choáng váng, hoang mang. Địch rối rít là ngay từ sau Tết. Sau Tết mình không làm gì hơn được nữa thì nó đã bình tĩnh trở lại. Cho nên sau đợt hai thì tình hình cũng diễn ra bình thường như các chiến dịch khác. Chỉ có khác là mục tiêu tiến công trong thành phố thôi. Và kết quả cũng bình thường như vậy. Sức sôi động của đợt tiến công tháng 5 cũng không có gì tăng thêm so với Tết. Tôi nghĩ rằng nếu Trung ương cục họp ngay sau đợt I, phân tích tình hình một cách kỹ hơn thì dứt khoát là không nên mở đợt hai nữa. Bây giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy cuộc tiến công đợt hai là không cần thiết. Ta dành lực lượng ấy, dành cố gắng ấy cho những mục tiêu khác thì có lẽ có hiệu quả hơn.

Trong đợt hai cũng vẫn tiến công, vẫn xem đây “là một quá trình, một giai đoạn”. Sau đợt I, anh Lê Đức Anh thay mặt Bộ chỉ huy Miền ra Hà Nội báo cáo và anh Lê Đức Thọ vào tăng cường. Tôi không nhớ là anh Lê Đức Thọ có nói cái chuyện “quá trình, giai đoạn” không. Nhưng vẫn có một cái luồng chúng tôi tiếp thu. Tôi quên mất không biết tiếp thu từ đâu nhưng nhận thức về “quá trình, giai đoạn” thì vẫn không có gì thay đổi.

Sau đợt hai lại còn đợt ba vào tháng 9 nữa, tuy lực lượng không còn bao nhiêu nhưng mà cố lên một tý.

Vậy mà đến bây giờ nghe anh Cao Pha trình bày thì cho đến năm 1969 vẫn còn tư tưởng giành thắng lợi quyết định. Thế mới biết cái tư tưởng “giai đoạn” với “quá trình” này nó hăng lắm.

Tóm lại, trong ý kiến thứ hai tôi muốn nêu lên sự thiếu sót trong công tác chỉ đạo chiến lược nó nằm trong cái tổng thể là có mặt thì rất tài tình, sáng suốt nhưng lại có mặt rất chủ quan.

Một bài học cần rút ra là cái dự cảm, cái mẫn cảm, cái sắc bén của người lãnh đạo không nên thay thế cho khoa học. Mà phải trên cơ sở khoa học thì cái mẫn cảm sắc bén càng có sức mạnh lớn hơn.

III. Một số vấn đề về khoa học và nghệ thuật quân sự

Bây giờ đến ý kiến thứ ba là mấy vấn đề về khoa học và nghệ thuật quân sự. Tôi nói chữ nghĩa thế cho nó “oai” chứ thật ra đây là một vấn đề rất day dứt. Nhưng về sau, tình hình phát triển thấy có nhiều mặt đặt ra. Tôi xin trình bày bằng mấy mẩu chuyện thực sinh động. Đó là chuyện xảy ra đã lâu, ở Nam Bộ mà anh Phạm Hùng rất thú vị, tôi cũng thích, đã viết vào một tiểu luận. Chả là ngày ấy nêu vấn đề “tiến công làm chủ, làm chủ tiến công”. Anh em chiến sĩ ta đi xuống đồng bằng, các cụ già mới hỏi : các chú đánh để làm gì ? Chiến sĩ ta đã được học cả rồi, trả lời : Thưa đánh để làm chủ. Lại hỏi : thế ai làm chủ ? Các chiến sĩ ta vốn thông minh nên trả lời : Thưa cô bác làm chủ, chúng cháu đánh xong rồi thì đi chỗ khác. Các cụ bảo : Thế thì được, các chú nói nghe được. Bà con làm chủ thì bà con phải có ý kiến với các chú. Các chú đánh xong rồi các chú làm chủ thì mặc các chú, chứ còn bà con làm chủ thế nào thì bà con phải có ý kiến.

Thế là có khúc mắc trong lý luận tiến công để làm chủ, làm chủ để tiến công.

Tôi còn nhớ sau đợt I, nhân dịp Trung ương cục phái tôi xuống chỗ ông Tám Thương (Thiếu tướng Lê Quốc Sản, tư lệnh Khu 8, lúc đó gọi là T2), tôi có gặp ông Sáu Đường (Bí thư Khu ủy Khu 8), lúc đó làm bí thư khu uỷ, xảy ra một cuộc tranh cãi, bây giờ nhớ lại, tôi thấy tôi cũng dốt. Chả là ông Sáu Đường có nêu vấn đề là : tiếp tục đánh, nhưng phải đánh thế nào để giữ thế hợp pháp cho nhân dân. Vốn đang có tư tưởng “đánh dứt điểm, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân” nên thấy ông này nói đến chuyện giữ thế hợp pháp, xem ra không xuôi tai, tôi liền cãi : Lúc này là phải nổi dậy nắm chính quyền, thằng nào chống lại chính quyền, thằng nào chống lại lập toà án xử, không có lôi thôi. Sao còn nói đến giữ thế hợp pháp.

Anh Đường nói với tôi :

- Không được đâu anh ạ ! Chúng tôi ở đây lâu rồi, nhiều năm rồi, chúng tôi thấy có vấn đề lịch sử không phải dễ dàng như vậy đâu. Ta đánh trận này cũng phải dự kiến không thuận lợi, địch nó trở lại thì làm thế nào. Nó trở lại thì dân sống ra làm sao ? Cho nên không thể không nghĩ đến thế hợp pháp của nhân dân được.

Nghe anh ấy trình bày, tôi cũng phải chịu là anh ấy đúng. Còn nhân dân thì nói với bộ đội : các chú thì đơn giản lắm vì các chú chỉ có khẩu súng với cái bòng, các chú đi đâu chả được. Còn “qua” đây còn vợ, còn con, nào là thóc, là trâu, nào là ruộng, là vườn, … khênh đi đâu được. Mỗi lần đi, dắt con trâu đi đã khó rồi chứ khoan hãy nói đến các thứ khác. Cho nên “qua” phải ở lại. Mà ở lại phải có cách cho “qua” ở lại chứ. “Qua” khác với các chú. Địch đến, không đánh được, các chú chém vè (nấp trốn dưới nước hoặc bụi rậm) một cái là xong. Còn “qua” đây, các chú xem đấy, nào là con nít, nào là trâu bò, …

Thế là trong tôi có chuyện về tư tưởng. Một tư tưởng muốn dứt điểm, giành toàn bộ chính quyền và một tư tưởng nữa do thực tế chiến trường đặt ra là sau trận đánh nếu không dứt điểm, địch nó còn sờ sờ ra đó thì dân sống ra sao. Đó là một vấn đề dằn vặt ghê gớm, nó buộc ta phải nghĩ đến, phải tính đến.

Còn một ví dụ nữa là tôi hay đến giảng bài ở Trường quân chính của Miền. Khi giảng đến tình hình, thường là tôi có nói : sở dĩ đợt nọ, đợt kia nhân dân ta chưa nổi dậy được là do đòn tiến công của chủ lực ta chưa đủ “đô”. Nhưng không ngờ một lần có một đồng chí chỉ huy ngồi học ở đấy, đứng dậy chất vấn liền :
- Mỗi lần mở chiến dịch, Quân uỷ Miền giao cho chúng tôi nhiệm vụ, giao chỉ tiêu. Kết thúc chiến dịch, chúng tôi được thưởng huân chương Quân công. Như vậy nghĩa là chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Bây giờ lại nói chúng tôi đánh chưa đủ “đô”. Vậy “đủ đô” là thế nào ? “Đô” là thế nào ? Nói như vậy chúng tôi khó hoạt động quá. Không hiểu làm thế nào cho hết khuyết điểm cả ?

Tôi cũng bí, nghĩ bụng “ừ mà thật”. Trước khi đi đến chiến dịch mình giao cho anh em nhiệm vụ, kết thúc chiến dịch mình trao cho anh em huân chương. Rõ ràng như vậy là chiến dịch thành công và đơn vị đó hoàn thành nhiệm vụ, quả đấm chủ lực đã làm tròn nhiệm vụ. Từ câu chất vấn của anh em, tôi cứ nghĩ mãi mong sao tìm cho được cách giải đáp như thế nào là đòn chủ lực đủ “đô”.

Mãi đến năm 1975 tôi mới vỡ lẽ ra cái “đủ đô” nó là như thế đấy. Cuộc sống và chiến đấu nó đặt ra vấn đề như vậy đấy.

Trong suốt cuộc chiến tranh, tôi say sưa với vấn đề Tổng tiến công hay là Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa lắm. Chẳng hiểu mình có làm khoa học quân sự không nhưng mà say sưa lắm, bởi vì thấy nó sáng tạo ghê gớm lắm ; Đông Tây, kim cổ chưa từng có nên mình lại càng say sưa muốn tìm hiểu. Tôi mới lên một cái sơ đồ. Đại khái cái sơ đồ nó như thế này : Vế bên này là vế chính trị, vế bên kia là quân sự.

Chính trị có lực lượng chính trị. Đấu tranh chính trị, rồi nổi dậy hay là khởi nghĩa từng phần và tất yếu phải đi đến Tổng khởi nghĩa.

Vế bên này là quân sự, lực lượng quân sự gồm ba thứ quân, có đấu tranh quân sự, đánh du kích, đánh chính quy rồi công kích hay là tiến công và tất yếu dẫn đến Tổng công kích, Tổng tiến công để kết thúc chiến tranh. Cho đến khúc này thì hai anh này chơi với nhau. Thế nghĩa là ở chỗ này vẫn kết hợp quân sự và chính trị. Rồi kết hợp tiến công và nổi dậy, v.v…

Ở đây đẻ ra vấn đề là khởi nghĩa là cái gì và nổi dậy là cái gì ? Tôi thử dịch nghĩa từ Hán : Khởi nghĩa là dậy, Khởi nghĩa và nổi dậy hoá ra từ Hán dịch sang tiếng Nôm thôi (cười ồn ào). Vậy mà trong cuộc sống, tôi vẫn thấy khởi nghĩa khác với nổi dậy. Vậy thì khi dịch sang tiếng Pháp hay tiếng Nga để giới thiệu với bạn bè quốc tế, không hiểu ta sẽ dịch thế nào để phân biệt sự khác nhau giữa khởi nghĩa và nổi dậy (có người nói tiếng Pháp). À ra tiếng Pháp có phân biệt. Tiếng ta lại còn có đồng khởi nữa. Do vậy tôi đề nghị Học viện quân sự cấp cao của anh Hoàng Minh Thảo nên có một cuốn tự điển. Đồng khởi, nổi dậy, tổng nổi dậy, nổi dậy đồng loạt, khởi nghĩa từng phần, tổng khởi nghĩa, v.v… nghĩa là một loạt khái niệm cần làm cho rõ.
Còn một khái niệm nữa cũng cần làm cho rõ : khái niệm về bạo lực. Bạo lực quân sự lại còn có bạo lực chính trị nữa. Bạo lực tiếng Pháp (tôi cũng bập bẹ thôi) gọi là violence, sức mạnh là force. Bạo lực tôi hình dung nó hành động ở trong đó. Còn nói bạo lực chính trị thì nó là cái gì ? Nói sức mạnh chính trị, bạo lực chính trị thì dễ hình dung. Nói bạo lực chính trị rồi đi đôi với nó là bạo lực quân sự rồi phân biệt hai thứ bạo lực này thật khó hình dung.

Trong suốt cuộc kháng chiến tôi say sưa giải thích cái điều này nhưng bây giờ nhìn lại mới thấy mình ngớ ngẩn. Tôi thường nói, nói say sưa, rằng Việt Nam ta có một sáng tạo tuyệt vời là từ chính trị tiến lên vũ trang. Thông thường thì khi đã đấu tranh vũ trang rồi thì vũ trang đóng vai trò chủ yếu, chính trị giảm bớt vai trò của nó đi. Ta có cái sáng tạo là chính trị tiến lên vũ trang, rồi thì chính trị và vũ trang vẫn ngang nhau. Và thông thường thì từ du kích tiến lên chính quy. Đã tiến lên chính quy rồi thì anh du kích tụt xuống một tý. Đó là thông thường. Nhưng ta thì khi đã tiến lên chính quy rồi, du kích vẫn đóng vai trò chiến lược ngang với chính quy. Ta là oai nhất, sáng tạo nhất ở chỗ ấy. Khoa học quân sự Việt Nam mang cái đặc biệt là ở chỗ ấy.

Bây giờ xem lại vấn đề này tôi thấy gay go. Bởi vì coi Tổng khởi nghĩa và Tổng công kích ngang nhau nên nó mới đẻ ra nhiều chuyện. Lên sơ đồ xong tôi mới nảy ra thắc mắc : như vậy tổng khởi nghĩa thuộc phạm trù đấu tranh chính trị hay là đấu tranh vũ trang. Sách vở thường nói khi nói về khởi nghĩa người ta thường nói khởi nghĩa vũ trang. Vậy thì khởi nghĩa thuộc phạm trù vũ trang chứ không phải thuộc phạm trù chính trị. Mà chính trị lại có bạo lực nữa. Thế thì bạo lực chính trị nó là cái gì ? Chẳng lẽ bạo lực quân sự là khẩu súng, còn bạo lực chính trị lại là con dao à ? Tất cả những băn khoăn đó dẫn đến sự suy nghĩ về tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Từ nhận thức về tiến công và nổi dậy như trên tôi đã nói, còn dẫn đến một nhận thức mà trước nay tôi vẫn tự hào, cho là sáng tạo tuyệt vời của Việt Nam là cái chiến dịch tổng hợp. Mỗi chiến dịch đều có sự tổng hợp. Anh chủ lực muốn tiến công thế nào thì tiến công cũng phải có anh du kích. Du kích muốn đánh thế nào thì đánh cũng phải có tý binh vận, tý nổi dậy, tý chính trị xung quanh khu vực mở chiến dịch. Cho nên mới xây dựng một cái lý thuyết về chiến dịch tổng hợp. Có chiến dịch tổng hợp thì cũng phải có một mục tiêu chiến dịch tổng hợp. Mục tiêu tổng hợp nghĩa là không phải chỉ có tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai mà còn phải lập kế cho dân, còn phải thành lập chính quyền, còn phải diệt ác, trừ gian, v.v…

Có mục tiêu tổng hợp thì cũng phải có đội hình tổng hợp. Nghĩa là đội hình chiến đấu không phải chỉ có chủ lực mà còn du kích còn lực lượng binh vận, lực lượng chính trị, bố trí thế nào cho phù hợp. Ba vấn đề mục tiêu, đội hình, kế hoạch tổng hợp mới nghe nó đơn giản bình thường thôi. Nhưng đến lúc chỉ huy tổng hợp thì nó lại không đơn giản chút nào.

Tôi nhớ năm 1972, khi chuyển từ phía Nam xuống đồng bằng, anh Mười Khang đi trực tiếp chỉ đạo. Anh Mười có trao đổi với tôi hình như có ba phương án : Phương án thứ nhất là đồng chí bí thư làm tư lệnh chiến dịch, đồng chí tư lệnh quân sự làm tham mưu trưởng ; Phương án thứ hai là tư lệnh quân sự phải là tư lệnh chiến dịch nhưng lại tổ chức thêm một cơ quan tham mưu, chính trị, binh vận nữa. Lại có một phương án ba thế này : phái viên cấp trên làm tư lệnh chiến dịch còn đồng chí cấp uỷ địa phương làm tham mưu, chính trị. Bên quân sự làm tham mưu quân sự. Anh Mười là phái viên cấp trên đương nhiên làm tư lệnh rồi. Phải không anh Mười nhỉ ? (Tiếng đại tướng Hoàng Văn Thái : Tôi làm Tư lệnh)
Anh làm tư lệnh à ? (Tiếng đại tướng Hoàng Văn Thái : "- Ừ, tôi làm Tư lệnh, đồng chí Bí thư làm Chính ủy. Về sau thống nhất quy định chiến dịch của chủ lực mở ở vùng nào thì đồng chí Bí thư vùng đó làm Chính ủy")

Tôi nghe nói trong những chiến dịch tổng hợp, việc chỉ huy rất phức tạp. Có lúc bí thư điều động lực lượng theo ý mình chứ không nằm trong một ý đồ chung của chiến dịch. Còn một vấn đề nữa như các báo cáo trong hội nghị đã nêu lên là lực lượng chính trị và binh vận thường là ở khắp mọi nơi, bộ chỉ huy không nắm được cụ thể, không đánh giá được chính xác và đặc biệt không điều khiển được trong quá trình chiến dịch. Chỉ có thể chỉ đạo lực lượng này bằng cách khoán mục tiêu, khoán nhiệm vụ thôi. Còn họ thực hiện ra sao, thực hiện như thế nào, trong quá trình cần điều chỉnh thì không thể làm được.

Tôi nêu một số vấn đề để đi đến một ý kiến như thế này : Trong chiến tranh dù rằng chiến tranh giải phóng thì vấn đề quân sự, lực lượng quân sự vẫn là nòng cốt. Tính chất nòng cốt của nó thể hiện trong một bản kế hoạch tác chiến. Mọi kế hoạch phải xoay quanh kế hoạch quân sự thời mới điều khiển được. Nếu mỗi ngành một kế hoạch rồi lúc hành động mới kết hợp được với nhau thì rõ ràng phía quân sự cũng phải xé lực lượng ra, không thể tổ chức được lực lượng chặt chẽ nữa. Ở Huế có tình hình đó. Ở Sài Gòn cũng có tình hình đó. Nghĩa là tung lực lượng ra khoán mục tiêu thôi, không thể tiếp tục liên hệ để chỉ huy được nữa. Còn các lực lượng khác thì với đặc thù của nó lại càng khó điều khiển.

Nhưng nếu ta lấy một lực lượng làm nòng cốt, lấy một kế hoạch làm xương sống xoay quanh nó, các lực lượng khác đặt kế hoạch hợp đồng thì Bộ chỉ huy ở trên cao này mới nắm được tình hình, điều khiển được tình hình, ra được mệnh lệnh, có hệ thống để truyền đạt mệnh lệnh. Nếu không thế thì sẽ thành một thứ xô bồ như những củ khoai nằm rải rác không thể chỉ huy được. Cho đến bây giờ tôi vẫn tự hào rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, chúng ta có sự sáng tạo tuyệt vời mà đó là tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Và tôi cho rằng kinh nghiệm này có thể giúp cho các nước anh em chưa giải phóng.

Nhưng có đi sâu vào những trục trặc trong cuộc sống, trong chiến đấu mới thấy rất cần phải có nội dung cụ thể, phải giải quyết cụ thể. Cũng vẫn là tổng công kích, tổng khởi nghĩa nhưng lực lượng quân sự, kế hoạch quân sự phải là nòng cốt, làm cái chủ thể để hợp đồng (Tiếng đại tướng Hoàng Văn Thái : Cho nên mới có kết luận của anh Ba trong Đại hội IV : Tổng tiến công và nổi dậy, đòn quân sự phải đi trước một bước. Như thế có rõ không ?). Vâng, nếu thấy ý kiến tôi là phải thì phải coi đó là cái ruột. Tôi xin lấy cái ruột còn mượn ý kiến đó là cái vỏ thì được. Chứ chỉ lấy cái vỏ làm cái ruột thì chưa xong. Bởi vì cái vỏ vẫn là coi tổng công kích và tổng khởi nghĩa ngang nhau (Tiếng đại tướng Hoàng Văn Thái : Năm 1975 cũng đề ra Tổng công kích, Tổng Khởi nghĩa. Nhưng Tổng Khởi nghĩa đã không diễn ra, cho nên anh Ba mới kết luận Tổng công kích, Tổng Khởi nghĩa thì đòn quân sự phải đi trước một bước). Vâng, thế là đòn quân sự mới đi trước thôi chứ chưa phải là nòng cốt (cười).

Cuối cùng, theo ý kiến anh Mười Khang khêu gợi về khởi nghĩa thì tôi thấy rằng trong chiến tranh giải phóng không nên đặt vấn đề tổng khởi nghĩa ngang với tổng công kích, cũng không nên đặt vấn đề tổng khởi nghĩa có thể kết thúc được chiến tranh.

Trong chiến tranh, chính trị và quân sự, tiến công và nổi dậy rồi nổi dậy đồng loạt và tổng tiến công là một nghệ thuật rất hay. Nhưng theo tôi nên xác định thêm một bước đi vào kế hoạch, đi vào chỉ huy chiến dịch, chỉ đạo chiến lược, vai trò nòng cốt của quân sự từ chiến đấu, chiến dịch đến chiến lược. Thế nhưng trong cuộc chiến tranh vừa qua có lúc nào đó nếu ta nghĩ rằng vai trò chính trị thấp hơn quân sự một tý, du kích sút hơn chính quy một tý là ta cảm thấy như mình đánh rơi mất lập trường (cười to ồn ào hồi lâu).

Nhưng bây giờ trong một tổ chức nghiên cứu khoa học quân sự như thế này, ta cần nêu ra để trao đổi với nhau. Tôi xin phát biểu với tư cách là một ý kiến trong hội nghị nghiên cứu khoa học. Nghĩa là đang còn tranh cãi. Cãi thật lực, không sợ gì cả (có tiếng cười). Không sợ mất lập trường (lại cười). Lập trường vẫn vững vàng.

Xin cảm ơn các đồng chí.
---------------------
KN st nguồn: Tạp chí Lịch sử Quân sự số 2/88 (26).

Hình ảnh có thể có: 1 người

TIỄN BÁC HỒ ĐI PHÁP NĂM 1946. (Ảnh tư liệu gia đình tướng Trần Độ)
----------------
TRẦN ĐỘ (thứ 2 từ trái sang), người đứng bên phải Bác là ông Trần Duy Hưng.

Hình ảnh có thể có: 2 người

Trần Độ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tháng 3 năm 1950. (Ảnh tư liệu gia đình tướng Trần Độ)

Hình ảnh có thể có: 11 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và ngoài trời, văn bản cho biết 'HoI NGH! TONG KET CHIEN DICH DUONG 18 NGAY 25/4/1951'

1951. (Ảnh tư liệu gia đình tướng Trần Độ)
-----------------
Trong ảnh từ phải sang: Tướng Nguyễn Chánh (ảnh 1), ?, ?, Tổng Bí thư Trường Chinh (ảnh 4), tướng Trần Độ (ảnh 5), ?, tướng Lê Trọng Tấn (ảnh 7), ?, ?, Lê Liêm (ảnh 10), tướng Hoàng Văn Thái (ảnh 11).

Hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng và ngoài trời

Hai cha con tướng TRẦN ĐỘ gặp nhau ở chiến trường B2, ngày 20/2/1972. (Ảnh tư liệu gia đình tướng Trần Độ)

Hình ảnh có thể có: 10 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng, trẻ em và ngoài trời

Sau 10 năm từ chiến trường miền Nam, tướng TRẦN ĐỘ về thăm gia đình, năm 1974. (Ảnh tư liệu gia đình tướng Trần Độ).

Hình ảnh có thể có: 23 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng

Trước Nhà Con Rồng, trưa ngày 01/5/1975. Một ngày sau khi quân ta đánh chiếm được dinh Độc Lập. Cuộc chiến kết thúc ngày 02/5/1975.
---------------
- Hàng thứ nhất từ phải qua trái : Trung tướng Trần Quí Hai, Trung tướng Trần Sâm, Trung tướng Vương Thừa Vũ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Hoàng Văn Thái, Trung tướng Phạm Ngọc Mậu, thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm, Thượng tá Đoàn Thế Hùng.
- Hàng thứ hai từ phải qua trái: Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Thiếu tướng Phùng Thế Tài, Trung tướng Trần Văn Quang, Thiếu tướng Hoàng Phương, Trung tướng TRẦN ĐỘ (áo đen) , ?, ?.
- Hàng thứ ba ( Đứng sau Thiếu tướng Hoàng Phương là Thiếu tướng Phan Bình (Cục trưởng Cục Quân báo); người đứng sau Trung tướng Trần Văn Quang là Thiếu tướng Hoàng Văn Thái (Phó Chủ nhiệm TC Kỹ thuật).

Hình ảnh có thể có: 2 người, cây và ngoài trờiTướng TRẦN ĐỘ và ông Vũ Kỳ (Thư ký của Bác Hồ ), năm 1975. (Ảnh tư liệu gia đình tướng Trần Độ)Hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi, bàn, đồ uống và trong nhà

Trung tướng TRẦN ĐỘ những năm cuối đời!. (Ảnh tư liệu gia đình tướng Trần Độ)




Diễn văn của Tổng thống Bill Clinton khi thăm Việt Nam (11/2020)

Diễn văn của Tổng thống Bill Clinton khi thăm Việt Nam (11/2000) . 

Kính thưa Ngài Chủ tịch Nước, thưa phu nhân, các vị đại diện trong Chính phủ Việt Nam, các quý bà và quý ông,

Xin cảm ơn sự đón tiếp mà các Ngài đã dành cho tôi, gia đình tôi và phái đoàn của chúng tôi !

Chúng tôi vinh dự được cùng các Ngài viết nên một chương mới trong quan hệ giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam, và chúng tôi biết ơn vì chương sử mới này đã có một khởi đầu tốt đẹp. Quả thực, lịch sử mà chúng ta để lại sau mình rất đau buồn và nặng nề. Chúng ta không được quên nó. Nhưng chúng ta cũng không được để nó chi phối chúng ta. Quá khứ chỉ là cái đến trước tương lai, quá khứ không phải là cái quyết định tương lai.

Hôm nay nước Mỹ và nước Việt Nam đang làm nên một trang sử mới. Thế hệ sau sẽ nhìn lại thời điểm hiện tại và thấy những cựu chiến binh Mỹ quay trở lại Việt Nam tìm kiếm câu trả lời về quá khứ, và những người Việt Nam chấp nhận họ để cùng xây dựng một tương lai chung; thấy những sinh viên trẻ của Việt Nam khát khao hấp thụ tất cả những gì thế giới dành cho họ, và cùng học với họ có các thanh niên đến từ nước Mỹ; thấy các doanh nhân, các nhà khoa học và các nhà bảo tồn cùng các nghệ sĩ đúc nên mối liên kết giữa Việt Nam và thế giới.

Nói ngắn gọn, người ta sẽ nhìn lại và đi đến một kết luận mà Nguyễn Trãi, nhà chính trị thiên tài của Việt Nam đã từng nói 500 năm trước, đại ý: Sau rất nhiều năm chiến tranh, chỉ còn cuộc sống là tồn tại.

Ngày nay, nhân dân hai nước chúng ta cùng đối mặt với một thế giới có nhiều thay đổi, với những khát vọng cơ bản giống nhau, và cả những băn khoăn giống nhau: Làm sao để có thể nắm lấy những cơ hội của nền kinh tế toàn cầu mà vẫn tránh được những xáo động của nó? Làm thế nào để trong khi mở cửa đón những ý tưởng mới, chúng ta vẫn bảo vệ được truyền thống của chúng ta, nền văn hoá của chúng ta, lối sống của chúng ta?

Nhưng nếu như toàn cầu hóa mang thế giới đến với Việt Nam, thì đồng thời nó cũng mang Việt Nam đến với thế giới. Các bộ phim về cuộc sống ở Việt Nam, từ phim Mùi Đu Đủ Xanh đến phim Ba Mùa, đang giành được giải thưởng trên toàn thế giới. Các bức tranh của họa sĩ Việt Nam Ðỗ Quang Em có giá trị cao tại các cuộc triển lãm nghệ thuật quốc tế. Các bài thơ 200 năm tuổi của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đang được xuất bản ở Mỹ – bằng tiếng Anh, tiếng Việt, và cả chữ Nôm nguyên bản, là lần đầu tiên mà một bản thảo cổ của Việt Nam được đưa lên in ấn. Các nhà thiết kế thời trang như Armani và Calvin Klein sáng tạo những bộ sưu tập mới dựa trên trang phục truyền thống của Việt Nam, chiếc áo dài. Tôi cũng xin nói thêm, người Mỹ đang thưởng thức lá sả, tỏi và thậm chí cả mướp đắng – tất cả được trồng tại một trang trại của người Việt Nam ở Virginia, chỉ cách Nhà Trắng 20 phút lái xe.

Toàn cầu hóa cũng có nghĩa là trên mạng internet, người Mỹ có thể đọc những tin tức tài chính mới nhất của Việt Nam, hoặc biết đến những khó khăn thách thức trong việc bảo tồn khu phố cổ Hà Nội, hay là ủng hộ các tổ chức đang xúc tiến bảo tồn các loài vật mới, đang được tìm thấy tại cao nguyên miền trung. Nó cũng có nghĩa là chúng tôi có thể cài đặt phông chữ tiếng Việt . Quả thật, chăng bao lâu nữa, những công nghệ dịch thuật tinh vi sẽ làm cho internet trở thành một lực lượng đa ngôn ngữ, chứ không phải là đồng hóa ngôn ngữ.

Khi chúng ta mở rộng các cánh cửa, chúng ta không chỉ tiếp nhận những tư tưởng mới. Chúng ta còn giới thiệu được với bên ngoài tài năng và tính sáng tạo cùng tiềm năng của dân tộc. Chỉ sau một ngày ở thăm đất nước của các bạn, tôi tin tưởng chắc chắn rằng sẽ không có gì có thể ngăn cản người dân Việt Nam giành lấy cơ hội nhận biết tiềm năng tràn đầy của mình. Nhân dân Hoa Kỳ vui mừng vì đã đến lúc chúng ta có thể trở thành đối tác.

Như Truyện Kiều đã nói:

Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.

Nay những ký ức băng giá về quá khứ đã bắt đầu tan. Những phác thảo của một tương lai ấm áp chung đã bắt đầu hình thành. Cùng nhau, chúng ta hãy tận hưởng mùa xuân mới này. Tôi muốn các bạn cùng tôi nâng cốc chúc mừng ngài Chủ tịch nước, phu nhân của ngài và nhân dân của đất nước vĩ đại này cũng như tình hữu nghị trong tương lai giữa hai nước chúng ta./.

Hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang đứng và bộ vét

Phỏng vấn ông Nguyễn Đình Hương về Tố Hữu

Phỏng vấn ông Nguyễn Đình Hương về Tố Hữu 

Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Ông còn là một chính khách giữ nhiều trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước... đã trải qua nhiều biến cố lịch sử nước nhà. Đánh giá về ông quả là một việc khó !

Ông Nguyễn Đình Hương (1930 - 2020) - nguyên Phó ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng ban bảo vệ chính trị nội bộ trung ương là một người cương trực nổi tiếng, một người rất gần gũi với Tố Hữu đã có cái nhìn riêng về nhà thơ (do Hương Giang ghi lại) trước ngày ông mất.
--------------------------

• Là một người có nhiều năm làm việc và gắn bó với Tố Hữu, ông cảm nhận như thế nào về con người của nhà thơ Tố Hữu?

- Tôi sống với đ/c Tố Hữu là 40 năm, tức là tôi về Ban tổ chức Trung ương năm 1956 cho đến lúc Tố Hữu qua đời. Trong 40 năm đó tôi có 4 kỷ niệm lớn với Tố Hữu.

Thứ nhất, năm 1956, sau sự kiện cải cách ruộng đất, chúng ta thay đổi Tổng bí thư, thay đổi Trưởng ban tổ chức, bởi vì tình hình thế giới lúc đó rất phức tạp, Khrushchev lên đả phá Stalin. Trong nước thì hai đảng khác muốn chia quyền lãnh đạo, còn Nhân Văn thì nhân vật Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt và một số người nữa cũng đòi quyền lãnh đạo của Đảng. Họ đã làm bài thơ rất châm biếm. Thế thì, trước tình hình phức tạp như thế, trong khi đất nước ta còn đang chống Mỹ, tất cả dồn vào chống Mỹ..., công tác tư tưởng Bác giao cho Tố Hữu lãnh đạo, công tác tư tưởng lúc này quá khó khăn để thống nhất, để có một sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng. Tôi làm tổ chức, tôi thấy có những việc rất cụ thể nhưng cũng có người trong đảng này đảng kia không tán thành. Nhưng mà Đảng lúc đó, công tác tư tưởng quá tuyệt vời, không phải dùng từ "kiên trung" mà là "kiên định". Tố Hữu kiên định lập trường, quan điểm của Đảng để góp phần dành thắng lợi cho đến ngày hôm nay. Bác Hồ đã chuẩn bị, sau đồng chí Lê Duẩn thì người thứ hai là Nguyễn Chí Thanh, người thứ ba là Tố Hữu. Tôi cho rằng những chuyện phức tạp như thế trong nội bộ Đảng khi ấy thì đồng chí Tố Hữu phải gánh vác hết mọi thứ.

Điều thứ hai là, nói về thơ, thơ của Tố Hữu là thơ cách mạng, là thơ của thế kỷ XX, tôi giác ngộ cách mạng, đi theo cách mạng cũng vì đọc thơ Tố Hữu. Tôi đọc Từ ấy cho đến Mẹ Suốt, cho đến Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, rồi Việt Bắc, Gió lộng v.v... Cho đến cuối cùng là "sống là cho và chết cũng là cho". Trước thế kỷ XX có 3 nhà thơ lớn là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương. Còn thế kỷ XX là thế kỷ Hồ Chí Minh và chỉ có nhà thơ Tố Hữu làm cho tất cả mọi người từ già đến trẻ khi đọc thơ đều hừng hực khí thế ra chiến trường.

Kỷ niệm thứ ba là Đại hội Đảng lần thứ VI Tố Hữu không trúng vào Trung ương, cả nhà buồn, cả đ/c cũng buồn. Tôi nghiên cứu, tôi thấy chúng ta có hai sai lầm với Tố Hữu. Việc chuẩn bị Tố Hữu sang làm Phó thủ tướng rồi lên làm Tổng bí thư, tin ấy để lộ ra ngoài, nhiều người biết. Trong đó có người đồng ý, có người thích Tố Hữu nhưng cũng có người không thích ông, cho nên tìm cách phá. Đổ lỗi cho Tố Hữu về cải cách "giá - lương - tiền" cho nên cuối cùng ông mất phiếu. 1 giờ sáng, khi ấy tôi ở trong Ban kiểm phiếu, sau khi kiểm phiếu thì tôi thấy Tố Hữu rớt rồi. Tôi nhảy vào nhà ông Thọ, khi ấy ông đang ngủ, leo rào vào, báo cáo cho ông Thọ biết là ông Tố Hữu rớt rồi. Kỷ niệm ấy là kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời tôi. (... Khóc...). Tôi nghĩ ông Tố Hữu khổ nhất sau Đại hội, không ai gánh vác cho ông, không ai giải thích cho ông. "Giá - lương - tiền" là của Bộ chính trị, là của cả Ban chấp hành Trung ương, đâu phải của mình ông Tố Hữu. Họ phá vì ghét ông. Có một bài thơ ông viết: "...lắm kẻ xưng danh đồng chí" (Chào xuân 99). Có những người tự hào mình là tốt đẹp, mình xứng là người này chức nọ nhưng thực tế họ tham nhũng. Tiền họ chất đầy cả két, họ tha hóa. Mồm thì rao giảng đạo đức rất hay, rất tốt nhưng sau lưng thì lại lợi dụng bòn rút của công, lợi dụng quyền lực để tham nhũng. Cho nên Tố Hữu buồn lắm, buồn cho một thế hệ.

Kỷ niệm thứ tư là của cá nhân tôi. Không biết duyên nợ từ đâu, tôi là người Nghệ An, còn Tố Hữu là người Huế, tôi có tham gia chiến trường Bình Trị Thiên, Tố Hữu biết tôi, ông rất thích tôi, rất thương tôi. Ông thường hỏi tôi là:

- "Mày đi đâu mà đi lâu thế".

Những lúc đau buồn, những lúc khổ, những lúc buồn vui thì tôi đều có mặt với ông. Giờ phút cuối cùng, tôi đến thăm, ông tâm sự chuyện thế sự, chuyện đất nước, chuyện Đảng. Ông hỏi tôi:

- "Mày làm gì mà không đến thăm tao!”

Tôi bảo mình làm "điếu đóm" (Ban tổ chức), ông bảo:

- "Mày làm to lắm, điếu mày là cái điếu chết người, mày làm công tác cán bộ thì phải khách quan, phải nghe nhiều tai chứ không được nghe một mặt".

Có khi là một tình cảm đặc biệt rất đáng trân trọng. Có lần ông gọi điện đến nhà mà không gặp được tôi, có khi cả tuần ông đến nhà tôi đợi. Ông gọi cho vợ tôi nói rằng "có bồ tôi ở nhà không?" - ông xưng tôi là bồ ông. Giờ phút cuối cùng, ông vẫn nhắc nhở đến tôi, thương tôi, quý tôi và coi tôi như người em út trong nhà, không la mắng gì. Tôi giác ngộ cách mạng là nhờ đọc thơ xiềng xích của Tố Hữu. Bài thơ cuối cùng của Tố Hữu là bài Tạm biệt có câu "Sống là cho và chết cũng là cho". Nhưng bài thơ mà tôi nhớ nhất là bài Bác ơi! của ông, được viết khi Bác Hồ mất, có một câu tôi vẫn nhớ mãi đó là "Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong bác, nỗi mong cha". Bài thơ ấy làm tôi xúc động nhất. Như nhà thơ Việt Phương nói, thơ Tố Hữu là thổi sức sống, niềm tin yêu vào tâm hồn tôi, trái tim tôi.

• Nếu mà nói cảm nhận của ông về Tố Hữu thì có hai mặt - con người trong công việc và con người trong đời thường. Vậy con người trong vông việc của nhà thơ Tố Hữu là người như thế nào ạ?

- Con người trong công việc,Tố Hữu là một người kiên trung, kiên định, phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ta. Không có ông Tố Hữu thì công tác tư tưởng tan rã. Tất nhiên nhà lý luận lúc đó là ông Trường Chinh, nhưng ông Tố Hữu là người xông pha, giống như là Triển Chiêu trong Bao Thanh Thiên, gọi là tả xung hữu đột, ông dám xông trận, tất nhiên là những việc chủ trương khác thì Đảng ta là tập thể, nhưng trong mặt trận tư tưởng thì tôi cho là ông đóng vai trò hết sức quan trọng. Thơ của ông thổi chất cách mạng vào tâm hồn mọi người.

• Theo ông thì tại sao thơ Tố Hữu lại làm được điều đó?

- Thơ Tố Hữu là thơ cách mạng, đọc thơ Tố Hữu như được thổi sức sống mãnh liệt vào trong con người. Nhiều người nói thơ Tố Hữu không thực tế là không phải, rất thực tế là đằng khác vì ông từng làm nhiều chức vụ lớn bé trong công tác, cho nên ông viết dựa trên những gì ông đã trải nghiệm được.

• Đó là con người thơ và con người trong công việc, vậy còn con người đời thường của ông Tố Hữu thì ông nhận xét như thế nào?

- Con người đời thường tôi đã nói lúc đầu, có người thích và cũng có người không, số đông, tuyệt đại bộ phận là thích ông. Cái ghen ghét, ghen tị cũng có, cho nên người ta làm một số bài chế giễu ông.

• Những lúc ấy ông có tâm sự cùng ông Tố Hữu không?

- Nếu trong công tác cán bộ, tôi làm qua 10 Đại hội từ Đại hội III đến Đại hội XII, ông thường hay tâm sự với tôi về người này người kia, nhân tình thế thái, tất nhiên có những thông tin tối mật thì tôi không nói. Nhưng những gì chia sẻ được thì tôi với ông đều chia sẻ. Ở những khúc quanh cuộc đời, tôi và Tố Hữu luôn chia sẻ nhiều chuyện với nhau, coi nhau như anh em ruột thịt trong nhà.

* Theo ông, thơ Tố Hữu hiện nay còn giá trị hay không?

- Tôi cho rằng hiện nay vẫn còn rất giá trị, bởi vì hiện nay người ta đọc thơ Tố Hữu, người ta không thấy có một loại thơ nào mà hấp dẫn, thuyết phục lòng người như thơ ông. Bởi vì ông không nói cho ông mà nói cho sự nghiệp, cho đất nước, cho Đảng nên người ta đọc thơ ông.

* Sau 40 năm cùng làm việc, thì điều lớn nhất ông học được từ Tố Hữu?

- Thơ Tố Hữu quyến rũ tôi một phần, thì phong cách sống của ông làm tôi say mê gấp mười lần - một con người giản dị, hòa mình, không phân biệt đối xử. Mỗi khi tôi đến ông đều tiếp tôi ngay cho dù có bận bịu gì đi chăng nữa. Nhiều người bây giờ khi làm lãnh đạo, làm quan to rồi thì vênh mặt lên, không tiếp dân, nạt nộ, khinh thường dân và chỉ thích nghe nói tốt, không thích nói xấu, nói khuyết điểm của mình. Đối với Tố Hữu thì khác hoàn toàn, ông thích nói sự thật. Câu chuyện giá - lương - tiền mà tôi đã đề cập ở trên, ông nói với tôi nếu trên không chỉ đạo thì số tiền đó làm sao quyết định được. Tôi còn giữ một tài liệu hết sức tối mật. Đó là ông Nguyễn Hữu Đang chỉ trích ông Trường Chinh chứ không phải Tố Hữu. (….Cắt đoạn này….). Trong bài thơ đấy Tố Hữu chỉ buồn một câu, có thể trong đời ông buồn nhất về cái khuyết điểm lớn không phải của cá nhân ông mà là tập thể, ông cũng góp phần, ông có chịu trách nhiệm. Nhưng nếu công bằng mà nói, thì sai lầm cải cách ruộng đất là một sai lầm lớn, giết bao nhiêu cán bộ, nên là kỷ luật ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng, Lê Văn Lương. Chứ mà đau nhất của ông Tố Hữu là hai cái, là chuyện này và Đại hội VI. Bọn tôi thương ông, thương ông lắm. Con người ta ai cũng có khuyết điểm, ai cũng có lỗi lầm, nên ta phải bao dung.

Bác Hồ rất tin, tập thể Bộ Chính trị rất tin tưởng ông. Tôi có trao đổi với ông Lê Đức Thọ, tôi hỏi là tại sao anh Tố Hữu đang làm công tác tư tưởng rất tốt, mà anh lại đẩy anh Tố Hữu sang làm kinh tế, anh ấy có biết gì về kinh tế đâu mà làm? Thì anh Lê Đức Thọ trả lời tôi:

- "Mày không biết chứ bây giờ cả tập thể Bộ Chính trị chuẩn bị cho ông làm Tổng bí thư rồi, thế rồi vì vậy mà mới lộ ra".

Công lớn nhất nếu ai hỏi tôi về Tố Hữu thì chính là trong công tác tư tưởng, lúc đó công tác tư tưởng là cực kỳ quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất. Không thể ai nói khác được, động viên hàng ngàn hàng lớp thanh niên, bà mẹ VN anh hùng. Lê Duẩn từng nói:

- "Bây giờ mà nhìn Việt Nam xem, tất cả nhà ở miền Bắc không có nhà nào là không có khăn tang".

Nếu không nhờ công tác tư tưởng của ông Tố Hữu thì làm sao có tầng tầng lớp lớp thanh niên vì Tổ quốc, vì non sông liền một giải mà lên đường chiến đấu...

Hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang đứng và ngoài trời

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TIẾP 2 NHÀ VĂN TỪ MIỀN NAM RA THĂM MIỀN BẮC
-------------

Ảnh từ trái sang: Nhà thơ Tố Hữu, nhà văn Phan Tứ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Trần Đình Vân (tác giả cuốn Sống Như Anh )
Hình ảnh có thể có: 1 người, kính mắt

Ông Nguyễn Đình Hương (1930 - 2020)

Hình ảnh có thể có: 1 người, ảnh cận cảnh

Tố Hữu ( 1920 – 2002)

Ngày sinh nhật đầu tiên của Hồ Chí Minh (nhà văn Nguyễn Huy Tưởng kể)

 Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết về Kỷ niệm Ngày sinh nhật đầu tiên của Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí "Tiên phong" 1/6/1946 

NGUYỄN HUY TƯỞNG (1912 - 1960) là nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng. Ông là tác giả của những tiểu thuyết lịch sử, vở kịch lớn: Đêm hội Long Trì, Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Sống mãi với thủ đô. Cùng nhiều truyện và ký sự khác: Truyện phim Lũy hoa (1961), Ký sự Cao Lạng (ký, 1951), Chiến sĩ ca-nô, An Dương Vương xây thành ốc, Truyện anh Lục, Tìm mẹ, Lá cờ thêu sáu chữ vàng...

Ngoài ra, năm 2006 Nhà xuất bản Thanh Niên tập hợp nhật ký của ông và phát hành mang tên Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng.

Ông cũng là một trong những nhà văn rất sớm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xin giới thiệu bài viết về Kỷ niệm Ngày sinh nhật đầu tiên của Người, đăng trên Tạp chí "Tiên Phong" ngày 1/6/1946.
-----------------

19-5-1946

- Anh chị em đến chúc thọ tôi phải không ?

Đó là câu hỏi đầu tiên của Chủ tịch khi Cụ vào phòng khách. Sau khi vui vẻ mời chúng tôi ngồi, Cụ tiếp ngay :

- Cái ông nhà báo nào công bố ngày sinh của tôi thật đáng phạt. Trước hết tôi chưa thấy cái già là gì, ngoài năm mươi tuổi chưa gọi là già. Sau nữa, chúng ta đang ở thời kỳ công tác, chưa phải lúc cần đến hình thức lễ nghi như chúc thọ.

Buổi sáng mùa hè hôm đó, nước da của Chủ tịch ánh một màu hồng khỏe mạnh, và đôi mắt sáng ngời, quả thật, là đôi mắt của một thanh niên.

Có mấy đoàn thể cùng vào chung để chúc thọ.Giới thiệu đến Ủy ban Đời sống mới, Cụ bỗng hỏi như níu lại :

- Đời sống mới là ai ?

Đóng khung câu chuyện, Cụ hỏi dồn dập, chăm chú, không cho chúng tôi lảng sang vấn đề khác. Buổi chúc thọ Hồ Chủ tịch bỗng biến thành một cuộc thảo luận ráo riết và thân mật về đời sống mới.

- Chú cho tôi biết cuộc vận động đời sống mới đến đâu rồi ?

- Thưa Cụ, - tôi đáp, chúng tôi đã bắt đầu bằng sự chia ra các ban nghiên cứu, tỏ chức,v.v., nhưng công việc chính là định rõ cái hướng cho đời sống mới. Mấy khẩu hiệu "Cần, kiệm, liêm, chính" chúng tôi xét ra vừa không đủ, vừa cổ...

- Cổ ! Lạ quá, thế cơm các cụ ăn ngày xưa, bây giờ mình ăn cũng cổ à ? Không khí mình thở cũng cổ à ?

Không khí trở nên náo nhiệt, vui vẻ. Lời nói của Chủ tịch làm nở một tiếng cười chung.

- Thưa Cụ, - tôi cãi lại bằng cách nói tiếp câu mình đang nói dở, sau mấy buổi họp, Ủy ban vận động Đời sống mới đã định rõ ba nguyên tắc cho đời sống mới là: Dân tộc, dân chủ, khoa học.

Chủ tịch như ngơ ngác trước những danh từ to lớn của tôi. Thực tình, tôi lo: nếu Chủ tịch không hiểu thì quần chúng hiểu sao đây. Mà quả thật, Cụ đứng hẳn về phía quần chúng. Cụ nói:

- Hay lắm, nhưng mình phải xem đồng bào bây giờ cần gì? Dân quê đã mấy người hiểu rõ thế nào là dân chủ, khoa học ? Tôi hỏi thật chú, chú đi vận động đời sống mới thì chú làm gì trước?

Mọi người nhìn nhau và riêng tôi không giấu nổi vẻ bối rối. Tôi nói về tuyên truyền, về tổ chức... Cụ lắng nghe. Một họa sĩ ngồi đối diện với Cụ ở cuối bàn, lặng lẽ ghi trên giấy hình ảnh vị Chủ tịch hòa nhã. Khi tôi nói hết, Cụ lắc đầu nhìn tôi, nhìn mọi người, tay gân guốc vỗ vào bụng và nói:

- Trước hết là cái này. Dân chúng cần cái này trước hết. Phải ăn đã, chú không ăn gì thì chú đi tuyên truyền được không? Mà muốn ăn thì phải làm gì?

- Phải làm việc, - một anh bạn nói.

- Đúng, phải làm việc, phải siêng năng, thế là "cần" đấy. Ừ, muốn dùng cái tiếng gì hơn cũng được, nhưng điều cốt yếu là khẩu hiệu phải thiết thực. Ví dụ bây giờ vận động tập thể thao mà lại hô hào đánh tennít thì đã mấy người có tiền mua quả ban, cây vợt?. Ở đây, ngay trước Bắc Bộ Phủ, nhiều anh em cứ ra đường chạy, tập luyện với nhau, không tốn mấy mà vẫn khỏe, vui lắm. Phải thiết thực như thế mới được, mà đừng nên tung ra nhiều khẩu hiệu quá. Ít mà thực hiện được đến nơi đến chốn thì hơn. Sau nữa, muốn cho việc vận động có kết quả, thì người đi vận động phải làm gì ?

Cả bọn chúng tôi, người bàn thế này, người bàn thế khác. Cụ chậm rãi nói một cách nghiêm trang :

- Mình phải làm gương.

Và sợ chúng tôi hoài nghi, Cụ nhắc lại:

- Mình phải làm gương.

Cụ đưa mắt nhìn mọi người như để căn dặn điều đó. Chợt Cụ chỉ vào cổ tôi vừa cười vừa nói :

- Ví như chú đi tuyên truyền đời sống mới mà cổ còn đeo cái "kia" (tức là cái cavát hôm đó tôi đeo để đi chúc thọ Cụ) thì chú hô hào giản dị thế nào được ?

Đến đây Cụ đứng dậy vì có khách đang chờ. Mấy anh em mà tôi khuyên nên thắt cavát hôm đó nhìn tôi một cách khôi hài./.

Hình ảnh có thể có: 7 người, mọi người đang cười, ngoài trời

Trước trụ sở Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc (huyện Đại Từ, Thái Nguyên) năm 1949. Ảnh tư liệu
-------------
Từ trái sang phải: Ngô Tất Tố, Nguyễn Xuân Sanh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân

Hình ảnh có thể có: 11 người, mọi người đang cười, ngoài trờiCác nhà văn, nhà thơ, những cây đại thụ của nền văn học nước nhà tại chiến khu Việt Bắc (tháng 3- 1951)
-------------------
- Hàng đầu từ trái sang: Nguyễn Đình Thi - Kim Lân - Nguyên Hồng - Nam Cao.
- Hàng sau từ trái sang: Nguyễn Đỗ Cung - Học Phi - Nguyễn Xuân Sanh - Chế Lan Viên - Hoàng Trung Thông -Nguyễn Huy Tưởng - Tô Hoài.

CHA TÔI KỂ CHUYỆN BÁC HỒ

 CHA TÔI KỂ CHUYỆN BÁC HỒ

Những ngày cuối cùng nằm trong bệnh viện Việt - Xô trước lúc mất, cha tôi - ông Chu Đình Xương (người đeo kính sau Bác Hồ trong ảnh), nguyên Giám đốc Ty Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ - đã kể cho tôi nghe những mẩu chuyện liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công.

Tôi được biết những chuyện này ông đã kể lại trong Hồi ký của mình do NXB Công an tổ chức thực hiện (ghi âm và gỡ băng) vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Tiếc rằng sau đó mấy năm ông bảo với tôi là NXB Công an thông báo đã “làm thất lạc” bản thảo. Ông bảo tiếc công sức một chút, chứ cũng không phàn nàn gì lắm.

Dưới đây tôi xin giới thiệu với bạn đọc những ghi chép riêng tư mà tôi đã lưu giữ từ khi cha tôi qua đời vào tháng 5 năm 1985. Mấy chục năm đã trôi qua, chưa bao giờ tôi có ý định công bố, mà chỉ kể lại cho những người thân trong gia đình và bè bạn. Nay, tự nhiên thấy trong lòng thôi thúc, muốn được chia sẻ với mọi người... Tôi không nghi ngờ gì về tính chân thực của các sự kiện mà ba tôi nhớ lại. Nhưng xin các bạn hãy coi đây chỉ là mẩu chuyện bên lề, đọc để hiểu thêm Con Người Hồ Chí Minh, chứ không phải là các sự kiện lịch sử đã được kiểm chứng.
(CHU HẢO, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ )
----------------

1. Bác Hồ về đến Hà Nội cuối tháng 8 năm 1945 và ở tại số nhà 48 Hàng Ngang, nơi vài ngày sau Bác viết “Tuyên ngôn độc lập”. Lúc ấy ba có nhiệm vụ tổ chức bảo vệ vòng trong cho Bác với tư cách Giám đốc Công an Bắc Bộ, nên có điều kiện gần gũi Bác. Ngay trong mấy ngày đầu Bác đã làm việc với Thường vụ Trung ương Đảng về các công việc cần làm ngay trước ngày mồng 2 tháng 9.

Ba nhớ là khi các đồng chí lãnh đạo báo cáo là đã cử đoàn công tác vào Huế để tước ấn kiếm và buộc Bảo Đại thoái vị thì Bác Hồ tỏ ra không bằng lòng:

- “Sao các chú dại thế? Thế giới người ta đang nhìn mình “đỏ loè”, còn một chút “vàng vàng” thì các chú lại bôi cho “đỏ” nốt!”.

Điều này rất nhất quán với chủ trương của Bác là đi theo đường lối dân tộc chủ nghĩa.

Mấy tháng sau, trong Tạm ước mồng 6 tháng 3 năm 1946 mà Bác ký với Pháp, cũng có một Điều khoản “Công nhận nước Việt Nam độc lập nằm trong khối Liên hiệp Pháp”. Và sau đó Bác cũng đã mời Bảo Đại tham gia Chính phủ liên hiệp. Trước sau Bác vẫn cố chứng tỏ như một nhà yêu nước dân tộc chủ nghĩa, đúng như “cái tội tầy đình” mà Stalin và các đồng chí của mình đã gán cho vào cuối những năm 30.

2. Sau ngày 2 tháng 9, Bác về làm việc ở Bắc Bộ phủ. Hàng ngày ba phải đến sớm để kiểm tra an ninh chỗ làm việc của Bác. Một hôm trong khi ba đang rút một điếu thuốc từ hộp thuốc của Bác mở sẵn mà anh em cần vụ thường vẫn đặt trên bàn, thì bất thình lình Bác từ cửa bên bước vào phòng... Người ba như điện giật, nhưng vẫn cười ỏn ẻn: - “Bác cho em xin một điếu!”.

Bác liền bảo:

- “Chú cứ vẽ!... ngày nào chú chả lấy của tôi một điếu!”.

Rồi sai ba đi làm việc khác, coi như chẳng có chuyện gì xảy ra... Chết thật, thì ra “Ông Cụ” biết tất, nhưng cho qua... Có lẽ vì hồi ấy quan hệ trên dưới còn thân tình lắm và ba cũng mới hơn 30 mươi tuổi thôi, chắc Bác coi là còn trẻ con...

3. Hồi ấy cánh bác Lê Giản và ba cuối tuần hay rủ nhau đi ăn thịt chó. Có lần đã tập trung đông đủ cả thì lại thiếu bác Lê Giản còn bận việc gì đấy bên văn phòng của Bác. Mấy lần điện thoại réo, bác Lê cứ thì thầm “Sắp xong, sắp xong, ra ngay đây... “. Bẵng đi ít lâu, một hôm Bác đến nhà bác Lê ăn cơm tối, cánh “thịt chó” có mặt đông đủ cả. Bác bế chị con út bác Lê vào lòng và nựng:

-“Lớn lên cháu đừng làm Chủ tịch nước nhá! Làm chức to thế khi cỗ bàn rôm rả như ăn thịt chó người ta chẳng rủ mình đâu!”.

Thì ra “Ông Cụ” lại biết tuốt. Cả hội vừa toát mồ hôi, vừa cười vui vẻ... Bác luôn hóm thế đấy!

4. Khi Pháp bắt đầu gây hấn ở Nam Bộ, một hôm Bác bảo ba mang bức điện tín của Trung ương cục miền Nam gửi ra xin chủ trương “đánh hay không đánh” sang cho bác Văn thảo điện trả lời. Khi bác Văn đến chỗ Bác để thông qua bản dự thảo, ba nghe nội dung thấy thật là hào hùng, thật là khí thế..., như kiểu “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” mà mãi đến ngày 19 tháng 12 Bác Hồ mới đọc ấy. Nghe xong Bác ôn tồn bảo:

- “Chú Văn này, ta ở cách xa anh em hàng ngàn cây số. Qua một bức điện ngắn thế làm sao ta biết rõ tình hình thế nào mà quyết được. Viết thế này tức là ra lệnh cho người ta phải đánh à? Chú viết lại đi, đại ý là để cho các đồng chí trong đó căn cứ vào tình hình cụ thể mà quyết định “đánh” hay chưa “đánh” đều đúng ý của TW cả!”.

Không biết sau đó bác Văn viết thế nào, nhưng sự chỉ đạo của Bác Hồ là như thế đấy!

5. Có hôm các vị chỉ huy quân sự, tướng Lê Quảng Ba, Chu Văn Tấn, Bằng Giang... ở chiến khu về thăm Bác ở Bắc Bộ phủ. Các vị ấy hùng dũng bước vào phòng làm việc của Bác. Cốp! cốp! cốp!..., tiếng gót giầy nện vang trên sàn gạch hoa nghe thật là oai, và tiến đến trước mặt Bác chào theo kiểu quân sự rất chi là chuyên nghiệp... Bác không ngửng đầu lên mà chăm chăm nhìn xuống chân các vị, thản nhiên hỏi:

- “Ngoài kia mưa à ?”.

- “Dạ không ạ!”.

- “Sao các chú đi ghệt trông ghê quá !”.

Thế là mọi người cười xoà, hết cả vẻ trịnh trọng mà vốn Bác vẫn không ưa...

6. Khoảng đầu năm 1946, một phái bộ của chính phủ Hoa Kỳ sang tìm hiểu tình hình Việt Nam, gồm hai người, lâu rồi nên ba không còn nhớ tên và chức danh của họ. Họ cập bến Hải Phòng và mang theo một chiếc xe hơi bốn chỗ của hãng Ford để đi lại. Bác Hồ giao cho ba trách nhiệm chăm sóc đoàn khách này chu đáo nhất có thể. Vì họ sẽ ở hàng tháng nên ba đã tìm cho họ một biệt thự của một gia đình người Pháp mới bỏ đi, bây giờ là số nhà 30 Hoàng Diệu mà bác Văn đang ở. Khi ấy là ngôi nhà hai tầng trên một khuôn viên xinh xắn. Ba cho tân trang lại và sắm đồ đạc sang trọng, mỗi tầng đặt một chiếc radio hãng Phillipe.

Một ngày kia, họ báo cho Sở Liêm phóng biết là xe hơi của họ đã bị mất trộm ở gần Nhà hát Lớn và đề nghị Công an Việt Minh (CAVM) can thiệp. Hăng máu lên, ba bảo anh em trả lời là CAVM sẽ tìm trả lại cho họ sau 24 tiếng đồng hồ! Nói xong rồi mới lo... và suy đoán là chỉ có dân anh chị gốc Hà thành mới dám liều thế, bèn cho trinh sát đi phao tin: “Vì danh dự quốc gia, anh em nào trót lấy chiếc xe của phái bộ Mỹ hãy đem trả lại chỗ cũ, chính quyền Cách mạng sẽ đền bù bằng vàng ngang giá trị”. Đồng thời lại đi quyên vàng ở nhà mấy bà tư sản dân tộc yêu nước Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện... Quả nhiên ngay hôm ấy phía ta đã trao trả xe cho khách Mỹ với sự hãnh diện, còn họ thì phục CAVM sát đất. Có lẽ cũng vì được đối xử chu đáo thế nên khi rời Hà Nội, phái bộ Mỹ đã tặng cho Giám đốc CAVM chiếc xe hơi ấy và một khẩu súng ngắn hãng Browning. Đó chính là khẩu súng màu bạc mà ba đã cho con bắn thử dưới hầm đá trong khuôn viên Ty Liêm phóng đấy..

Mấy hôm sau ba hỏi Bác:

- “Họ là ai mà Bác bắt chúng em chăm bẵm ghê thế? ”.

Bác bảo:

- “À, họ sang để xem ta theo đường lối cộng sản hay dân tộc đấy. Tôi muốn ta chiều chuộng họ để lấy cảm tình. Nhưng như thế mà chuyến này về họ vẫn báo cáo cấp trên của họ ta là cộng sản thì chính phủ Mỹ sẽ không hợp tác, ủng hộ ta đâu!”.

Kết quả thế nào thì con biết rồi đấy!

-------------------



Ảnh từ trái sang: Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chu Đình Xương, Giám đốc Ty Liêm phóng (CA) Bắc Bộ; Tổng Bí thư Trường Chinh; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp năm 1946.
(Có nhiều báo của ta nhầm ông Chu Đình Xương là ông Trần Duy Hưng, có báo lại nhầm là Trung tướng Nguyễn Bình)

Một cuộc phỏng vấn nhỏ với Đoàn Duy Thành

 “LÀM NGƯỜI LÀ KHÓ”

Suy cho cùng, mọi cuộc đổi thay, đổi mới nào cũng xuất phát từ chính nhân dân, do nhân dân thúc đẩy. Đây là lúc cần phải soi rọi lại tất cả, gặt hái những cái đúng, nhận diện trung thực những cái sai, để tránh dẫm chân vào vết cũ. Mọi khó khăn đều sẽ vượt qua, tương lai sẽ tốt đẹp hơn, nếu thật sự biết lắng nghe khát vọng của nhân dân. Người ta gọi ông là “Kim Ngọc ở Hải Phòng” và, nghe đâu nguyên Tổng Bí thư Trường Chinh đã có lần đề cử ông làm Tổng Bí thư. Thế nhưng, cuộc đời không đơn giản chút nào?

Cuốn hồi ký “LÀM NGƯỜI LÀ KHÓ” tái hiện lại chân dung một Đoàn Duy Thành đau đáu trước sự phát triên đi lên của đất nước, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân... Những biến cố, thăng trầm cuộc đời như con thuyền trước giông tố... Cuốn sách không được cho in, bởi theo ông Phan Diễn "một số điểm không có lợi khi cuốn Hồi kí đó phát hành"

Tôi cứ ngẫm câu “Dụng chi tắc hành, xả chi tắc hàng”(*) trong cuốn tự truyện của ông, mà trộm nghĩ: Giá như các quan chức của ta ai cũng nghĩ, cùng làm như ông, thì dân được nhờ !
-------
(*): “Dụng chi tắc hành, xả chi tắc hàng”: (Ý nói: Dùng thì ta lại hành động, tiến lên. Không dùng về ẩn ở nơi quê nhà). Trích quẻ của Khổng Minh trong “Luận Ngữ”.
******************************

XEM THÊM: Một cuộc phỏng vấn nhỏ với Đoàn Duy Thành:

- Phóng viên (Pv) - Thưa nguyên Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành, ông xuất thân trong một gia đình nho giáo, cả cuộc đời luôn trăn trở chuyện làm người, làm quan sao cho tốt. Vậy suốt cuộc đời mình, ông có bao giờ đặt mục tiêu mình sẽ phải sống như thế nào và trở thành một vị quan như thế nào không?

- Đoàn Duy Thành: Tôi nghĩ có những điều mà tôi muốn làm và nhất định phải làm trong cuộc đời tôi: nuôi sống mình – đó là điều bắt buộc; hai là tôi thấm nhuần đạo lý nho giáo “Bạc ư gia giả khởi hậu ư quốc hồ” (bạc với nhà thì không bao giờ tốt với nước được), cho nên với gia đình, từ cha mẹ, vợ con, tôi có thể khẳng định mình rất chu đáo. Một điều quan trọng nữa mà tôi luôn canh cánh trong lòng, từ khi giác ngộ cách mạng, đó là đưa đất nước phát triển vượt bậc. Đó là điều tôi luôn ao ước và nhất định sẽ thực hiện, nếu tôi có đủ quyền để làm. Dù là khi làm ở Hải Phòng hay sau này đã về Trung ương, tôi chưa bao giờ tranh quyền với ai. Nhưng khi “cờ đến tay”, tôi không bao giờ bỏ lỡ cơ hội.

Khi tôi bị bắt ra Côn Đảo năm 1952, tôi 23 tuổi, ở trong tù tôi vẫn học liên tục, ngay cả lúc bị đánh đến sắp chết, tôi vẫn học. Có bạn tù bảo tôi anh nghỉ ngơi, giữ sức khỏe, không sắp chết đến nơi rồi, nhưng mà tôi vẫn quyết học. Tôi nghĩ đã là con người, mình phải làm những điều có ích. Tôi quan niệm con người sinh ra ai cũng phải có một cái nghề. Cái nghề của mình là cái nghề chính trị, thì phải làm thật tốt cái nghề đó. Tôi học vì muốn rằng động đến cái việc gì mà Đảng và Nhân dân giao phó, tôi cũng phải làm thật tốt. Người ta thường nói: “Làm đầy tớ thằng khôn, còn hơn làm thầy thằng dại”, tôi nói thêm với với anh em đồng chí rằng “làm đầy tớ thằng dại thì còn khổ biết bao nhiêu”. Vì câu nói này mà tôi từng bị lãnh đạo cấp trên hiểu nhầm. Họ nghĩ tôi nói họ. Nhưng thật ra, tôi nói câu đó là cho tôi. Tôi luôn nghĩ mình làm việc gì thì phải biết việc đó, vì thế tôi luôn học tập mọi lúc có thể, mọi cái có thể trong suốt cuộc đời mình. Tôi muốn khi tôi làm thủ trưởng, tôi duyệt một cái đề án nào đó, tôi phải hiểu cái đề án đó là như thế nào. Ví dụ tôi duyệt xây dựng cái cầu thì ít nhất tôi cũng phải hiểu độ tĩnh không là thế nào. Tôi nghĩ đất nước mình là nước nghèo, nếu ai lên giữ một trọng trách nào đó thì mới bắt đầu tìm hiểu về lĩnh vực mình được giao thì không biết bao giờ mới học và hiểu được công việc của mình để giúp dân. Tôi đi học tất cả những gì có thể, tích lũy nó trong lúc mình chưa có vị trí gì cả, để luôn sẵn sàng nhận mọi công việc được giao.

Tôi học đạo Nho nên luôn tâm niệm rằng, đã làm con người thì phải biết lo cho gia đình, cha mẹ, vợ con; đã làm quan thì phải lo cho dân, cho nước. Khi nào đất nước ổn định, giàu có, không còn người nghèo, pháp luật và các chính sách tiến bộ, phù hợp với hoàn cảnh cuộc sống, mọi người dân đều sống và làm việc theo pháp luật thì bấy giờ mình mới có thể làm quan ngồi bàn giấy 8 tiếng mỗi ngày, giải quyết mọi việc theo pháp luật. Làm quan như thế thì quả là nhàn hạ, sung sướng. Nhưng với đất nước chúng ta, với những khó khăn đã và đang trải qua, nhiệm vụ làm quan là phải xây dựng đất nước vượt trội lên, để khỏi là một nước nghèo, nước nô lệ, lạc hậu, thì mình phải mất thì giờ lắm. Nếu bất cứ quan chức nào cũng nghĩ được điều đó, tôi tin đất nước sẽ phồn vinh, giàu mạnh, nhân dân sẽ hạnh phúc. Nhưng những người làm quan với tâm thế như thế bây giờ chỉ là một số ít. Còn hầu như chỉ coi đó là một cơ hội tiến thân, vun vén cho bản thân mình.

Pv: - Thời ông còn đương chức, ông là người có vẻ thường thích làm những việc khó. Sau ông Kim Ngọc, ông là người thực hiện khoán hộ ở Hải Phòng và được gọi là “ông Kim Ngọc ở Hải Phòng”, ông là người đã can đảm đưa ra đề xuất và thuyết phục các lãnh đạo Trung ương cho nhập 160 tấn vàng để giải quyết lạm phát phi mã. Khi làm những việc đó, có bao giờ ông nghĩ những việc làm đó có thể ảnh hưởng đến “cái ghế” của mình không?

- Đoàn Duy Thành: Năm 1986, nước ta mất mùa liên tiếp, ta tự cô lập với thế giới bên ngoài, hàng hoá khan hiếm, lạm phát phi mã tới 780% năm. Nền kinh tế đất nước đang đứng trên bờ vực thẳm. Để kiềm chế lạm phát, các chuyên gia của WB và IMF dự kiến, Việt Nam cần phải có 1,7 - 3 tỷ USD. Tại thời điểm đó, số tiền vài tỷ đô là vượt quá khả năng của nền kinh tế. Trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, tôi đã cho nhập khẩu 160 tấn vàng.

Trong những năm 1969- 1972, khi học ở Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), ngoài bộ tư bản của Marx, tôi còn đọc nhiều tác phẩm của các nhà kinh tế học phương tây như: Adam Smith, Ricardo, Keynes. Đặc biệt, Keynes là một nhà khoa học trong lĩnh vực tiền tệ. Từ những cơ sở lý luận đó, vận dụng vào Việt Nam ở thời điểm đó tôi đã cho rằng, muốn kiềm chế lạm phát, phải tạo thêm lượng hàng hoá cho lưu thông, thêm nữa nhà nước phải có nguồn lực để can thiệp vào thị trường. Trong khi giá vàng thế giới chỉ tương đương với 1,4 triệu đồng/cây thì giá vàng trong nước đang ở mức hơn 4 triệu đồng. Nhập khẩu vàng vừa thu lợi cho ngân sách vừa góp phần làm giảm sự khan hiếm hàng hoá. Đây là một giải pháp có tính khả thi. Vì thế trong cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về kinh tế cuối năm 1987, tôi đã trình bày phương án kiềm chế lạm phát trong đó có việc cho nhập khẩu vàng bán lấy chênh lệch, giải quyết lạm phát. Giải pháp này lúc đó đã không được ủng hộ vì có ý kiến cho rằng “vàng chưa cần bằng lương thực…”.

Khi đó TBT Nguyễn Văn Linh không phản đối nhưng cũng không kết luận kiến nghị của tôi. Giờ giải lao, tôi trao đổi với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, sau khi thuyết phục được Chủ tịch Phạm Hùng, tôi gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh và đã thuyết phục được TBT Nguyễn Văn Linh đồng ý. Trong vòng 2 năm, các đầu mối ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã nhập khẩu vàng với số lượng 160 tấn, một con số không tưởng thời điểm đó. Đây có thể coi là một chính sách vô cùng “phá cách” của ta trong hoàn cảnh lịch sử đó. Nhờ những chính sách linh hoạt như vậy, đến năm 1990, mức lạm phát chỉ còn 67%, giảm hơn 10 lần…Tôi đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn phong phú nhưng tôi vẫn rất coi trọng lý luận. Không có lý luận như người mù đi trong đêm, mò mẫm, thiếu định hướng không thể tiến nhanh tới đích. Tuy nhiên, hiểu lý luận một cách thấu đáo với đầy đủ bản chất khoa học mới là điều khó. Đã nhiều lần, tôi đề nghị với Bộ Chính trị là sau mấy chục năm đổi mới, nên sớm tổng kết thực tiễn của nền kinh tế thị trường. Đâu là thành tựu, đâu là thất bại cần phải có kết luận rõ ràng, đâu là khuyết điểm cần phải né tránh. Cần phải có một hoạch định dài hạn cho nhiều năm sau.
Tôi làm những việc mà tôi nghĩ là đúng, trên cơ sở những kiến thức về kinh tế, chính trị, lý luận, khoa học và thực tiễn mà tôi đã được học và chưa bao giờ lo sợ điều đó sẽ ảnh hưởng đến cái ghế của mình. Đến ngày hôm nay khi không còn “cái ghế” nào, nhưng tôi vẫn luôn tự hào vì mình còn danh dự. Những việc tôi từng làm, không phải ai cũng ủng hộ ngay lúc đó, nhưng đến thời điểm này, không ai có thể nói tôi sai.

Pv: - Thưa ông Đoàn Duy Thành, theo như ông nói, làm quan chức tốt phải là người không vì lo cho “cái ghế” của mình mà bỏ qua quyền lợi đất nước. Nhưng bây giờ nhân dân thấy hiếm có quan chức nào lo cho nước, cho dân trước khi lo cho mình. Cá nhân ông ông định nghĩa thế nào là một quan chức tốt? Và làm quan chức tốt, theo ông có phải là một việc khó?

- Đoàn Duy Thành: Làm quan chức tốt thì có gì là khó, chỉ là mình có lòng để làm việc đó hay không thôi. Một quan chức tốt thứ nhất là một người phải học hành, có kiến thức hơn người, như thế mới quản lý được người ta. Hai là không vun vén lợi ích cá nhân, không tham nhũng. Chỉ cần như thế, anh đã lôi kéo được nhân dân theo mình. Tôi dám chắc không một người dân nào phản đối Đảng Cộng sản, phản đối các quan chức, các đảng viên, nếu như tất cả họ đều có được lợi ích khi đi theo Đảng. Còn nay nhiều người dân không tin Đảng, vì nhiều cán bộ quan chức, đảng viên thì giàu như thế, mà dân thì nghèo quá….Các cụ xưa có câu, “nước lên thì thuyền lên”, tôi thấy rất chính xác. Dân ta no ấm, thì Đảng ta mới vững mạnh. Nếu chúng ta phản bội lại nhân dân, không thực hiện được những lời hứa với nhân dân, nhân dân sẽ quay lưng với chúng ta.

Pv: - Không phải đến bây giờ mà từ khi Đảng mới lên nắm chính quyền, vẫn tồn tại trong xã hội những vụ án tham nhũng. Nhưng ngày đó người ta có tham nhũng, cũng chỉ là tham nhũng ít lương thực, thực phẩm, tham nhũng vài trăm viên gạch để về xây nhà – những cái đó mà giờ gọi là tham nhũng, chắc nhiều người sẽ buồn cười. Vì quan chức bây giờ, tham nhũng hàng trăm triệu, hàng tỷ, hàng chục tỷ hoặc hơn thế. Nếu làm quan chức dễ như ông nói, thì tại sao bây giờ chúng ta có quá ít quan chức tốt và quá nhiều quan chức tham nhũng?

- Đoàn Duy Thành: Sẽ dễ nếu như mỗi người làm quan xác định được điều đó. Quan chức của ta hiện này có nhiều người hủ hóa, tham nhũng vì chúng ta đã không giải quyết được căn bệnh lòng tham không đáy. Bản chất của lòng tham là cái tự nhiên trong mỗi con người: lòng tham được sống no ấm, hạnh phúc, học hành; lòng tham lo cho gia đình, vợ con….Lòng tham là cái thúc đẩy xã hội phát triển. Mầm mống của lòng tham đã xuất hiện trong hệ thống quan chức nước ta từ nhiều năm nay, nhưng chúng ta đã không mạnh tay giải quyết nó ngay. Nếu các lãnh đạo hiểu bản chất của lòng tham để kích động lòng tham, hướng họ vào những việc tốt, biến cái tham trở thành động lực để làm việc, để phát triển, thì đất nước sẽ phát triển. Ngày xưa quan chức tham nhũng 1 đồng, còn bây giờ người ta tham nhũng hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng , mà không hề run tay, là vì hệ thống pháp luật của chúng ta có quá nhiều kẽ hở khuyến khích lòng tham phát triển theo hướng có hại. Khi tôi làm Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu của ta đạt khoảng 560 triệu USD. Giờ đây, con số này là trên dưới 100 tỷ USD. Nếu trong điều kiện phát triển kinh tế như thế, mà chúng ta có quá nhiều kẽ hở, từ quản lý kinh tế đến đất đai (đặc biệt là đất đai) thì chúng ta sẽ tạo điều kiện cho lòng tham phát triển, làm hỏng các cán bộ lãnh đạo của ta.

Pv: - Nhân nói đến chuyện đất đai, năm vừa qua, Hải Phòng đã khiến dư luận cả nước xôn xao với vụ án đất đai của ông Đoàn Văn Vươn. Ông từng là Bí thư của Hải Phòng và tôi biết ông đã từng giải quyết rất hợp tình hợp lý vụ Z30 – một chỉ thị liên quan đến nhà cửa, đất đai gây nhiều tranh cãi và suýt nữa đã gây ra sai lầm nghiêm trọng nếu như không kịp thời ngăn lại – mà ông chính là người quyết liệt phản đối chỉ thị đó?

- Đoàn Duy Thành: Lúc đó đang giữa thời kỳ xây dựng đất nước, Hải Phòng là công trường sôi động nhất của cả nước. Sau khi trung ương cho Hải Phòng thực hiện "khoán sản phẩm trong nông nghiệp" vào cuối năm 1980, Hải Phòng tiếp tục quai đê lấn biển, phát triển giao thông, mở mang đô thị... Như được "cởi trói", nhân dân rất hồ hởi, say sưa lao động. Đời sống kinh tế khá lên, có người dân đã xây được nhà 2 – 3 tầng. Năm 1983, lúc đó tôi đang là bí thư Hải Phòng. Đùng một cái xuất hiện chỉ thị “Z30”. Hà Nội là nơi triển khai đầu tiên. Lúc Thường vụ Thành ủy Hải Phòng họp bàn về "Z30" thì Hà Nội đang triển khai. Chỉ thị “Z30” yêu cầu tịch thu những ngôi nhà 2 – 3 tầng trở lên được xây dựng từ đầu năm 1980. Nếu thực hiện theo chỉ thị, Hải Phòng có cỡ khoảng 1000 nhà vào diện tịch thu. Thời điểm đó, có mấy anh thủy thủ xây nhà to hai, ba tầng đều thuộc diện phải tịch thu cả. Một số anh trong số đó rất sợ. Hôm tôi đến dự tổng kết ở Công ty VOSCO, khi nói chuyện, anh em lo lắng hỏi tôi Hải Phòng có tịch thu tài sản như ở Hà Nội không. Tôi trả lời là Hải Phòng sẽ không làm và tôi sẽ nói rõ chuyện này ở hội nghị Trung ương sắp tới. Tôi còn khuyên anh em là tiết kiệm được tiền cần xây nhà cao và đẹp hơn nữa. Anh em thủy thủ vui lắm. Thấy Hải Phòng không thực hiện, Bộ Nội vụ gọi Giám đốc Công an Hải Phòng lên phê bình. Nhưng tôi kiên quyết giữ vững quan điểm của mình. Tôi nghĩ thế này, chúng ta vào sinh ra tử để giành độc lập dân tộc, để sau khi có độc lập và thống nhất rồi thì tìm cách phát triển kinh tế, đem lại cơm no áo ấm cho nhân dân. Vậy mà giữa lúc nhân dân đang hăng hái xây đắp cơ đồ của thành phố, đang cố gắng vượt qua thời kỳ rất khó khăn của kinh tế đất nước thì cớ sao lại thực hiện cái chỉ thị vô lý như vậy?

Hơn nữa là một chỉ thị quan trọng mà chỉ có yêu cầu truyền miệng, không có văn bản chỉ đạo chính thức. Tôi không cho Hải Phòng làm. Anh Nguyễn Văn An, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam Ninh cũng có chung quan điểm với tôi. Tôi có nói với anh An: “Cho dù mất mọi chức vụ trong Đảng và Chính quyền, thì tôi cũng phải bảo vệ lẽ phải, bảo vệ nhân dân”. Hôm đó về đến nhà, tôi trằn trọc không ngủ được, vợ tôi hỏi “Anh định đương đầu đến bao giờ?”. Tôi trả lời: ‘Tôi sẽ đương đầu đến khi không còn cái đầu này”. Trong Hội nghị Trung ương sau đó, tôi đã nói về vấn đề Z30 suốt 2 tiếng liền. Tôi nói thẳng rằng làm như thế là trái đạo lý, mất nhân tâm, sai pháp luật, cản đường xây dựng, phát triển…Tôi phải nói căng như thế vì hội nghị Trung ương là cơ hội duy nhất. Nếu ở hội nghị Trung ương mà không ngăn được thì coi như muộn mất rồi, người dân sẽ phải gánh chịu một trận “bão táp” mới sau cải cách ruộng đất mà hậu quả chắc chắn là hết sức nặng nề.
Tôi nói xong, anh Phạm Hùng đứng bật lên, nói: Sáng tạo, rất sáng tạo, tôi ủng hộ anh Thành”. Sau mấy phút giải lao của hội nghị, không khí hội trường im bặt. Tổng Bí thư Lê Duẩn đứng lên, chậm rãi nói: “Còn đồng chí nào nói đạo lý hơn đồng chí Thành nữa thì cứ phát biểu”. Lúc đó tôi biết anh Ba Duẩn đã ủng hộ mình rồi. Như vậy là câu chuyện về "Z30" đã kết thúc một cách không trống, không kèn. Từ đó về sau này, không ai nhắc lại nữa, không nơi nào thực hiện, cũng không ai nói thêm gì nữa. Đến năm 1991, trong Hội nghị Trung ương, đồng chí Phạm Hưng, Chánh án TAND Tối cao nhắc lại chuyện này đã nói: “Chỉ thị Z30 đã chết rét”!
Theo tôi, với việc kiên quyết không thực hiện "Z30", chúng ta đã vượt qua được một rào cản để đi đến đổi mới. Nếu chúng ta thực hiện toàn diện "Z30" vào thời điểm đó thì chẳng ai còn dám làm giàu nữa. Tôi từng hỏi các đồng chí trong Thường vụ Thành ủy Hải Phòng là các anh ở đây có ai không muốn ăn ngon, mặc đẹp không? Nếu các anh cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp thì tại sao các anh lại không khuyến khích dân làm giàu? Câu chuyện về "Z30" luôn nhắc nhở chúng ta, nhất là những người cầm quyền, khi đụng đến quyền lợi của dân phải hết sức minh bạch, công khai, bởi mọi việc làm chúng ta là do dân, vì dân cơ mà. Tôi vì dân mới làm cách mạng. Nếu làm hại dân, làm khổ dân, tôi việc gì phải làm quan.

Pv: - Ông là một người thẳng thắn, trong cuộc đời mình, đã bao giờ sự thẳng thắn của ông khiến ông gặp “tai nạn” trong nghiệp làm quan của mình không?

- Đoàn Duy Thành: Rất nhiều lần. Như chuyện tôi hay nói câu “Làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng dại. Làm đầy tớ thằng dại thì còn khổ biết bao nhiêu”. Khi đó một lãnh đạo cấp trên của tôi nghe được câu đó đã tỏ ý trách cứ tôi, cho rằng tôi ám chỉ anh. Nhưng thực sự thì tôi không ám chỉ ai cả. Tôi chỉ nhắc nhở mình như thế, nhưng người lãnh đạo nghe lại hiểu sang chuyện khác. Còn nhiều chuyện nữa mà trong phạm vi một bài phỏng vấn không dễ kể ra.

Pv: - Thẳng thắn sẽ khó được lòng cấp trên - đó có phải là lý do mà nhiều người bây giờ cho rằng muốn thăng quan tiến chức thì phải biết luồn cúi, xu nịnh, biết “vo ve”?

- Đoàn Duy Thành: Tôi nghĩ cái đó bây giờ đã thành trào lưu. Còn thời chúng tôi, không bao giờ có chuyện đó. Không bao giờ có chuyện chúng tôi đút lót để lên chức này chức kia. Chúng tôi thực hiện việc đó từ trên xuống dưới, nên không bao giờ có những việc khuất tất. Thời tôi còn đương chức, có nhiều người đến gặp tôi tìm cách đưa phong bì, tôi làm hẳn một cái văn bản yêu cầu “nếu các đồng chí còn tiếp tục mang phong bì đến, thì hãy làm cho tôi một cái két ngay tại đây!”. Tôi còn ra văn bản chỉ thị các cấp không ai được được nhận phong bì từ năm 1980. Từ sau đó không còn ai dám cư xử như thế nữa.

Pv: - Nhìn lại cuộc đời quan chức của mình, ông thấy mình đã học được những gì, đã làm được những gì thành công nhất?

- Đoàn Duy Thành: Tôi nghĩ cái thành công nhất của mình là tôi đã nghĩ tôi làm gì, thì tôi sẽ làm được việc đó và thu được thành công với nó. Vì trước khi làm bất cứ việc gì, tôi cũng chuẩn bị kiến thức rất kỹ lưỡng để làm việc đó. Từ thời bao cấp, tôi đã nghiên cứu rất kỹ về kinh tế thị trường, nên khi bắt tay vào làm kinh tế, tôi tự tin mình đã làm rất tốt.

Pv: - Tôi được biết, ông đã có công rất lớn trong việc xây dựng Phòng thương mại Việt Nam (VCCI) trở nên vững mạnh như hiện nay. Lúc ông bước về VCCI và rời khỏi đó sau 10 gắn bó, VCCI đã thay đổi như thế nào?

- Đoàn Duy Thành: VCCI nằm trong Bộ Ngoại thương, do chính Bác Hồ ký quyết định thành lập, với nhiệm vụ giúp các doanh nghiệp quan hệ với các khu vực kinh tế tư bản. Đây có lẽ là một quyết định khá táo bạo trong thời kỳ đó. Tuy nhiên sau đó trong một thời gian dài cho đến trước khi tôi về, hoạt động của VCCI chưa thành công.
Trước đó sau khi rời khỏi cương vị Phó Thủ tướng, tôi về làm Viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương. Sau hơn 1 năm làm ở viện, thu được thành công, thì tôi được yêu cầu về làm VCCI do lời đề nghị của anh Sáu Dân (Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt). Tôi có nói: “Tôi không cần quyền chức, nhưng nếu các anh muốn tôi làm, thì việc gì khó nhất, tôi sẽ làm”. Bấy giờ VCCI bắt đầu tách ra khỏi Bộ Ngoại thương, chẳng có gì ngoài trụ sở 33 Bà Triệu cùng chung với mấy cơ quan khác, nhân lực của VCCI chỉ có vài ba chục người.
Dù thế, tôi vẫn rất tự tin. Tôi tin mình có đủ trình độ để thành công. Như khi tôi rời Hải Phòng lên Trung ương năm 1986, dự trữ của Hải Phòng là 2 triệu USD và 2 vạn tấn gạo, đó là một con số rất lớn trong hoàn cảnh các địa phương cả nước còn nghèo. Tôi lên làm Phó Thủ tướng, đi kiểm tra ngân hàng, có hơn 1 triệu USD, trong khi Hải Phòng có hơn 2 triệu. Anh Phạm Hùng có lần trêu tôi “Ông Thành nhìn đâu cũng ra tiền”. Sở dĩ tôi làm được điều đó vì tôi luôn tiết kiệm từng xu để làm giàu. Có lần tôi có 10 kg quế do anh Hoàng Minh Thắng gửi cho, giá 82 USD/ 1kg. Tôi bán đi, xây cho Đồ Sơn một cái hệ thống máy bơm nước, đến giờ vẫn còn.
Khi về VCCI, tôi chẳng có gì, nhưng tôi không ngại việc. Tôi xây dựng cơ sở vật chất và xây dựng con người. Tôi quan niệm “con cá sống vì nước, VCCI sống vì doanh nghiệp”, VCCI có doanh nghiệp mới sống vì thế VCCI phải có nhiệm vụ làm tất cả những gì có lợi nhất cho doanh nghiệp, đó cũng là làm lợi cho đất nước. Vì quan niệm thế, tôi thành công. Từ trụ sở ban đầu ở 33 Bà Triệu, sau khi tôi rời khỏi VCCI, VCCI đã có 8 tòa nhà cao tầng làm trụ sở ở các địa phương, cộng với rất nhiều vốn liếng, các phương tiện và các mối quan hệ kinh tế.
Ví dụ như trụ sở số 9 Đào Duy Anh, tôi đã xây với 10.000 cây vàng, nhưng không xin chính phủ một đồng nào. Tôi tăng lương cho các cán bộ cấp tương đương vụ phó trở xuống lên 4 lần, còn vụ trưởng trở nên tăng lương 2 lần. Không ai được phép tham nhũng. Nếu tham nhũng tôi sẽ xử lý. Trong giai đoạn đó, những nước đầu tư Việt Nam, từ Mỹ đến Hàn Quốc đến Đài Loan, Nhật Bản… đều qua VCCI để xúc tiến đầu tư ở Việt Nam. Sau 2 nhiệm kỳ, tôi nghỉ hưu, người kế nhiệm tôi ở VCCI đã tiếp quản một VCCI hoàn toàn khác.

Pv: - Trong mấy năm vừa qua, tôi đã từng chứng kiến rất nhiều quy định, đề xuất phi lý đến hài hước của các Bộ- Ngành như là: cấm người cao dưới 1m45, nặng dưới 40kg đi xe máy, cấm bán thịt lợn sau 8 giờ giết mổ; hoặc cấm xe máy biển chẵn đi ngày lẻ, xe máy biển lẻ đi ngày chẵn. Thưa ông, những chuyện đó, dù là một người dân bình thường, chẳng được học hành là bao nghe qua cũng thấy nhiều điều không ổn, không phù hợp với thực tế cuộc sống. Vậy mà không hiểu sao các quan chức ký những quyết định này và những người tham mưu cho họ đều không nhận ra. Dĩ nhiên những quy định này sau đó đã “chết yểu”. Nhưng một người luôn quan niệm là quan chức thì phải học hỏi, phải động não, làm việc gì cũng phải có tư duy như ông, ông có cảm thấy bức xúc khi biết những quy định đó?

- Đoàn Duy Thành: Những chuyện đó tôi đều cảm thấy không hài lòng. Cả chuyện độc quyền vàng SJC tôi cũng không bằng lòng. Gần đây, những quy định của Bộ Giao thông về thuế hạn chế phương tiện chẳng hạn, tôi cũng không đồng tình. Tôi cho rằng những cán bộ đưa ra những phương án này vừa thiếu trình độ, thiếu tư duy, vừa không hiểu văn hóa xã hội, vừa thể hiện sự quan liêu. Khi còn làm Bí thư Hải Phòng, trong 4 năm 3 tháng, tôi ra 46 nghị quyết, nhưng không nghị quyết nào tôi ra khi chưa có thực tiễn. Tất cả các nghị quyết tôi đều cho lấy kinh nghiệm thực tiễn, tiếp thu ý kiến nhân dân, nếu thành công, nếu được đồng tình ủng hộ rồi mới phát triển thành văn bản chính thức. Có nhiều cán bộ làm luật hiện nay cứ nghĩ gì trong đầu là đưa thành văn bản, chẳng hề có kinh nghiệm thực tiễn, cũng không hề quan tâm đến suy nghĩ của nhân dân. Và kết qủa là như thế!

Pv: - Vậy nhìn vào những văn bản “kinh điển” đã được đưa ra thời gian qua, ông có thấy báo động về trình độ quan chức hiện nay? Với “trình độ” đó, họ sẽ làm được gì cho đất nước?

- Đoàn Duy Thành: Họ sẽ làm mất tín nhiệm với nhân dân. Đó là điều nguy hiểm nhất.

Pv: - Hôm vừa rồi tôi có đọc một bài báo, trong đó đưa ra số liệu điều tra, 50% số vụ kiện tụng đất đai của chúng ta hiện nay đã giải quyết sai, đi ngược lại quy định pháp luật và quyền lợi nhân dân. Chuyện đất đai, như ông nói lúc nãy, là môi trường rất dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, cũng dễ xảy ra những mâu thuẫn và sự phản ứng của nhân dân với chính quyền. Không đâu xa, những vụ việc đã xảy ra như vụ đất đai ở Tiên Lãng hay vụ đất đai của nông dân Văn Giang – Hưng Yên đã dẫn đến những phản ứng tiêu cực của nhân dân. Vậy luật đất đai của chúng ta đã có những sơ hở gì để dẫn đến những bất cập trong giải quyết chính sách đất đai hiện nay?

- Đoàn Duy Thành: Tôi chỉ nói ngắn gọn thế này: một bộ phận quan chức của chúng ta đã chiếm dụng đất đai của nhân dân, không phải bằng roi vọt như thực dân phong kiến ngày xưa mà bằng những văn bản “cộp mác” chính quyền một cách rất “nhẹ nhàng, êm ấm”, không đổ mồ hôi, nước mắt nhưng thu lợi nhuận kinh khủng.

Pv: - Qua chuyện Z30 mà ông chia sẻ, tôi tin ông rất có tâm huyết với việc bảo vệ quyền lợi nhân dân, mà cụ thể nhất là vấn đề đất đai, vậy khi nhìn vào con số 50% những vụ kiện tụng đất đai bị giải quyết sai, khiến cho nhân dân thiệt thòi, ông có cảm thấy giật mình?

- Đoàn Duy Thành: Tôi đã giật mình lâu rồi chứ không phải hôm nay mới giật mình. Và tôi cũng đã góp ý rất nhiều lần. Nếu chúng ta không thay đổi suy nghĩ, không thay đổi tư duy, thì nguy hiểm sẽ đến. Nhân dân đi theo chúng ta vì mong bớt khổ, họ hi sinh vì nghĩ gia đình họ sẽ hạnh phúc, sung sướng. Nếu chúng ta không làm được điều đó, khác gì chúng ta lừa dối nhân dân.

Pv: - Vậy từ những sự cố trong vụ Tiên Lãng (Hải Phòng) và vụ Văn Giang (Hưng Yên), khoan hãy nói chung ta sai hay đúng trong việc đưa ra những văn bản đó, chỉ cần nói đến chuyện chúng ta đã ứng xử với nhân dân trong từng trường hợp cụ thể đó, ông nghĩ cách ứng xử của cán bộ, của chính quyền với dân đã đúng chưa?

- Đoàn Duy Thành: Chúng ta đã có những ứng xử cứng nhắc và không cần thiết. Tôi luôn tin sự mềm mỏng sẽ mang đến những kết quả tích cực hơn. Khi tôi còn ở Hải Phòng, lúc đó Hải Phòng có chính sách giải tỏa đất đai khu vực chợ Sắt, nhưng có một số hộ không đi. Tôi viết một lá thư chung cho các hộ, đăng trên báo Hải Phòng. Một lá thư rất nhẹ nhàng thôi, thế là họ đi. Trước đó tôi đã xây dựng khu nhà đền bù trước ở khu vực Trại Chuối rồi cho dân đến xem. Họ đến thấy ổn, lại nghe lời tôi nói sự hi sinh của họ sẽ góp phần đóng góp cho thành phố sạch đẹp, thế là họ đi. Hôm tôi xuống thăm tình hình xem chuyện di dời đến đâu, có một số anh em công an ngăn tôi, vì ngộ nhỡ có ai quá khích phản đối, nhưng tôi gạt đi. Tôi nói nhân dân đồng tình đi, chứ tôi không ép. Và đúng là không ai phản kháng quá khích. Tôi đến thăm còn được nhân dân mời uống nước chè. Tôi nghĩ sở dĩ như vậy là vì họ được 2 cái: được đền bù thỏa đáng về vật chất và được khích lệ về tinh thần. Để làm được việc đó, quan trọng nhất là cái tâm của người lãnh đạo. Nếu vì dân sẽ làm được.

Pv: - Trong diễn biến gần đây của vụ Văn Giang – Hưng Yên, nguyên Thứ trưởng Bộ TN – MT Đặng Hùng Võ đã đối thoại với bà con Văn Giang – Hưng Yên và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước bà con nếu bản thân mình đã đưa ra quyết định nào đó sai, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà con nhân dân. Câu chuyện trên đã gây ra sự chú ý lớn với dư luận. Không phải chính khách nào khi đã “hạ cánh an toàn” cũng đủ can đảm đứng lên nhận trách nhiệm về những việc họ đã làm khi còn đương chức. Ông đánh giá thế nào về hành động đó?

- Đoàn Duy Thành: Tôi hoàn toàn ủng hộ hành động đó và đúng là chẳng phải quan chức nào của ta cũng dũng cảm làm thế.

Pv: - Ở ta, không ít quan chức bị phát hiện sai phạm hầu như nặng lắm là “hạ cánh an toàn”, hiếm hoi có trường hợp nào bị xử lý trước pháp luật và nếu có, mức án cũng chưa đảm bảo tính răn đe. Ở nhiều nước, quan chức khi làm sai sẽ biết nhận lỗi trước nhân dân, biết từ chức. Nếu sai phạm nghiêm trọng hơn, họ sẽ bị điều tra, chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nghĩa là mọi công dân đều phải bình đẳng trước pháp luật, tinh thần “thượng tôn pháp luật” luôn được đặt lên hàng đầu. Đã đến lúc quan chức của chúng ta cũng phải biết xin lỗi, biết từ chức, biết chịu trách nhiệm trước pháp luật chưa thưa ông?

- Đoàn Duy Thành: Pháp luật do con người làm ra. Nếu người làm ra luật không tuân theo pháp luật, thì pháp luật cũng sẽ là vô nghĩa. “Thượng bất chính, hạ tất loạn” – các cụ ta xưa đã nói. Muốn có sự nghiêm chỉnh tuyệt đối, các quan chức lớn phải làm gương cho các quan chức nhỏ hơn. Còn nếu không mọi việc sẽ vô nghĩa. Chuyện này nói nhiều lắm rồi, nói mãi thì khô miệng, đau họng, khản cổ! Tôi nghĩ người làm cán bộ lãnh đạo nhất định phải biết “tri sĩ”!

- Pv: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

(nguồn: báo Nghệ Thuật Mới số 11, 12/2012)

Hình ảnh có thể có: 1 người