Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị Trung ương tháng 10-1930

TS Chu Đức Tính - Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
QĐND - Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông, Hội nghị đã thông qua Luận cương cách mạng tư sản dân quyền do đồng chí Trần Phú khởi thảo, bầu Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Trần Phú làm Tổng bí thư. Cho đến nay, vẫn còn nhiều câu hỏi xung quanh việc đánh giá vai trò của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đối với hội nghị trên. Bài viết này chỉ tập trung làm rõ câu hỏi đó.
Sau sự kiện đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2-1930, đến tháng 10-1930 diễn ra Hội nghị Trung ương lần thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức ở Hồng Kông. Hội nghị cũng đồng thời phê phán Hội nghị Hợp nhất tháng 1-1930 là kết luận không xác đáng, vấn đề thổ địa không rõ ràng và có nhiều chỗ không đúng.
Hội nghị đề ra Nghị quyết: Thủ tiêu Chánh cương, Sách lược và Điều lệ của Đảng.
Cho đến hôm nay, nội dung được thông qua tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 gây cho nhiều người băn khoăn: Liệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc có dự không, mà Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn kiện do Hội nghị hợp nhất thông qua trước đó 9 tháng?
- Tài liệu do chính đồng chí Nguyễn Ái Quốc báo cáo.Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 đã được các nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh của Viện Hồ Chí Minh ghi nhận khi biên soạn cuốn “Hồ Chí Minh - Tiểu sử”, do GS Song Thành chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2006 và tái bản năm 2010. Tuy nhiên, cho đến nay, trong giới nghiên cứu Lịch sử Đảng và Hồ Chí Minh học, vẫn còn ý kiến tồn nghi liệu sự kiện đó có chính xác không? Tôi tán thành ý kiến của Viện Hồ Chí Minh, thông qua 8 tư liệu hiện có, thuộc 4 khối tài liệu hiện đang có ở Kho tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh:
- Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Hồi ký của những người đã từng tham dự Hội nghị này.
- Tài liệu mật thám.
I. Tài liệu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
1.Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị cho Hội nghị
Thư đề ngày 2-9-1930 gửi Ban Phương Đông - Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc cho biết Người dự kiến chương trình nghị sự của Hội nghị sẽ gồm có 4 việc:
a. Tự phê bình trong quá khứ
b. Kế hoạch công tác tiến tới Đại hội Đảng
c. Kế hoạch cho Đại hội Đảng
d. Kế hoạch gửi học viên đi đào tạo tại Mát-xcơ-va
2. Ngày 29-9-1930, Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, cho biết: “Ba Ủy viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây ngày 19-9, chờ các đồng chí ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới…”.
3. Ngày 28-10-1930, báo cáo nhanh gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc thông báo Hội nghị đã họp từ 12-10 và kết thúc 27-10, tóm tắt những Nghị quyết Hội nghị đã thảo luận và thông qua, như Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; nhiệm vụ trước mắt của Đảng; bầu Tổng bí thư… kèm báo cáo tài chính chi tiêu cho Hội nghị.
II. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
1. Thư của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930, viết: “Đồng chí ấy (tức Nguyễn Ái Quốc - Chu Đức Tính chú thích) nay đã nhận rõ những sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những chỗ sai lầm lúc trước”.
2. Báo cáo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931 cho biết “Các Nghị quyết của phiên họp đầu tiên của Ủy ban Trung ương, chúng tôi đã gửi các đồng chí qua đồng chí Quốc và nhờ đồng chí Quốc dịch ra tiếng Anh hoặc tiếng Pháp”.
III. Hồi ký của đồng chí Bùi Lâm
Đồng chí Bùi Lâm là người được Nguyễn Ái Quốc giác ngộ cách mạng từ hồi còn ở Pháp. Năm 1927, học tại Trường Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va, rồi về công tác ở Văn phòng Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Năm 1931, đồng chí Bùi Lâm về nước tham gia Xứ ủy Nam Kỳ, sau đó bị địch bắt và bị tù… Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Bùi Lâm công tác ở Tòa án Quân sự Liên khu III, Tòa án Hà Nội, Bộ Tư pháp, rồi Viện trưởng Viện Công tố, Đại sứ Việt Nam tại Bun-ga-ri. Trước khi từ trần năm 1974, là Viện phó Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.
Tạp chí Cộng sản số ra tháng 9-1982 đăng Hồi ký của Bùi Lâm, do Thế Tập ghi, về Nguyễn Ái Quốc với Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương tháng 10-1930: “Hội nghị thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng khai mạc dưới sự chủ tọa của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại một nhà (không nhớ số) ở phố Cửu Nghĩa (Hương Cảng)... Tuy có vị trí và uy tín lớn trong Hội nghị này, nhưng đồng chí Nguyễn Ái Quốc rất khiêm tốn, lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của tập thể. Chúng tôi thấy rất rõ ở Người ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm rất cao. Ngay sau Hội nghị kết thúc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo ngay với Quốc tế Cộng sản và Ban Phương Đông về kết quả của Hội nghị, đồng thời Người cũng trình bày thêm với các đồng chí lãnh đạo Ban Phương Đông về những Nghị quyết của Hội nghị”.
IV. Tài liệu mật thám Pháp
1. Hồ sơ về Nuolens:
Nuolens tức Paul Ruegg - Trưởng ban Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Chi nhánh Ban Phương Đông tại Thượng Hải. Theo tài liệu của Kho lưu trữ lịch sử chính trị - xã hội quốc gia Nga (ký hiệu 495.153.569) và tài liệu mật thám Pháp (bản dịch lưu Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh) thu được trong hồ sơ của Nuolens, có tài liệu tóm tắt về Đông Dương, trong đó có một văn bản ghi “Tháng 10-1930, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã được nhóm họp. Theo báo cáo của đồng chí K.V (tức Nguyễn Ái Quốc, chú thích của tài liệu) mà chúng tôi nhận được từ chính đồng chí ngày 16-11-1930 thì đã có 6 đồng chí tham dự tại Hồng Kông, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc”.
2. Lời khai của Ngô Đức Trì:
Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện lưu bản dịch “Lời khai của Ngô Đức Trì với mật thám Pháp” trong tháng 5 và 6-1931, do đích thân Viện trưởng Hà Huy Giáp dịch từ bản tiếng Pháp. Theo tài liệu thì Ngô Đức Trì đã khai rõ mình cùng Trần Phú từ Liên Xô về Việt Nam. Cuối tháng 8-1930, Ban Chấp ủy Nam Bộ nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc triệu tập các ủy viên Trung ương ở Nam Bộ sang Hồng Kông để họp Hội nghị Trung ương vào tháng 9. Ngày 4-9-1930, Ngô Đức Trì và Nguyễn Trọng Nhã (Sáu) xuống tàu Holiko đi Hồng Kông, đến nơi được đồng chí Lương (Hồ Tùng Mậu) đưa đi gặp Nguyễn Ái Quốc tại gác 2, nhà số 49, đường Khải Nghĩa, Cửu Long. Ngô Đức Trì còn khai với mật thám Pháp vì bị đau ruột thừa nên không tham dự suốt thời gian Hội nghị họp, nhưng “… cuối tháng 10, Sáu có đến thăm Trì tại bệnh viện và báo cho Trì biết Hội nghị đã kết thúc. Quốc và Lý Quý (Trần Phú) sẽ đi Thượng Hải trong vài ngày tới để liên lạc với Ban thư ký Bộ Đông Phương…”.
Như thế, câu hỏi "Nguyễn Ái Quốc có tham dự Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 không?" đã có câu trả lời là có. Vậy sẽ xuất hiện câu hỏi thứ hai: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc có mặt, vậy tại sao Hội nghị lại bác bỏ hầu hết những văn bản của Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì? Câu trả lời này ở ngay thư của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930. Ngay đầu thư, Thường vụ Trung ương đã phê phán: “Đảng hiệp nhất kể đã có sinh hoạt gần một năm rồi nhưng vẫn chưa có thể thống gì, đó là vì:
1. Hội nghị hiệp nhất chủ trương các công việc rất sơ sài, mà có nhiều điều không đúng với chủ trương của quốc tế.
2. Lâm thời Trung ương cử ra sau lúc Hội nghị hiệp nhất đã không nhóm một lần hội nào”.
Thư thông báo “Nay toàn thể Trung ương Hội nghị lần thứ nhất đã xong” và chỉ ra nguyên nhân vì sao chủ trương của Hội nghị hợp nhất lại có nhiều chỗ không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản?, bởi là vì: “Đồng chí đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất năm trước kia thì được Quốc tế cho về tùy hoàn cảnh mà làm việc chứ chưa có được kế hoạch rõ ràng gì. Khi đồng chí ấy về đến nơi thì thấy phong trào cộng sản tuy mới nổi nhưng đã chia rẽ rồi, nên mới tự ý hành động có nhiều việc sai lầm không đúng với kế hoạch của quốc tế… Đồng chí ấy nay đã nhận rõ những điều sai lầm và cũng đồng ý với Trung ương mà sửa đổi những sai lầm lúc trước”.
Do nhiều nguyên nhân, trong đó rõ nhất là ảnh hưởng tả khuynh của Đại hội lần thứ VI - Quốc tế Cộng sản năm 1928, mà Quốc tế Cộng sản đã đánh giá chủ trương của Hội nghị hiệp nhất có nhiều điểm không đúng với chủ trương của Quốc tế Cộng sản, nên tất yếu Hội nghị Trung ương lần thứ nhất tháng 10-1930 phải “sửa đổi những sai lầm trong công việc của Hội nghị hợp nhất” và như thế, dù Nguyễn Ái Quốc là người tổ chức Hội nghị, hay chỉ tham dự Hội nghị thì nhất định phải tuân thủ chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, phải tự giác “nhận rõ sai lầm” và buộc phải sửa chữa sai lầm. Đây đúng là một sự trớ trêu nhưng đã diễn ra trong lịch sử. Vì ngay khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã tin tưởng rằng mình đúng, không sai, nhưng không thể không chấp hành chỉ thị cấp trên. Đó là nguyên tắc số một của xây dựng Đảng: “Tập trung dân chủ” - nghĩa là cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, bộ phận phục tùng toàn thể. Nguyễn Ái Quốc đúng mà bị hiểu sai - tình trạng đó không phải một năm mà kéo dài gần hết thập kỷ 30. Nhưng chính thời kỳ đó càng lấp lánh bản lĩnh kiên cường, trí tuệ và tấm lòng son sắt của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với sự tồn tại và phát triển của Đảng, như chính người đồng chí - học trò của Người, Lê Hồng Phong đã nhận xét năm 1935: “Tôi biết rằng đồng chí Quốc rất tích cực trong hoạt động cách mạng và các vấn đề sự nghiệp của Đảng luôn được đồng chí đặt cao hơn cuộc sống cá nhân. Có thể nói rằng đồng chí ấy luôn sống và làm việc vì Đảng”.

Học tập và thấm nhuần sâu sắc hơn nữa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

GS. Song Thành
Nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại về tư tưởng đạo đức và tấm gương sáng ngời đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách của con người Việt Nam.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn diện và phong phú bao quát hầu hết các khía cạnh của đời sống đạo đức xã hội. Bài viết này chỉ đề cập đến những quan điểm cơ bản nhất trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có liên quan đến cuộc vận động giáo dục đạo đức đang diễn ra hiện nay.
1. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Cách mạng là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và phức tạp, đòi hỏi người cách mạng “phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám , Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, người cán bộ, đảng viên thành người có chức, có quyền. Quyền lực là một nhân tố dễ làm tha hóa, biến chất con người. Sớm tiên lượng vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh của người có chức, có quyền và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện đạo đức. Người nhắc nhở: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ LIÊM làm đầu”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội (CNXH) chưa phải ở mức sống vật chất cao mà trước hết là ở giá trị đạo đức của nó, ở phẩm chất cao đẹp của những người cộng sản. Hồ Chí Minh thường nêu tấm gương đạo đức của V.I. Lê-nin để nói về ảnh hưởng lớn lao của đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy cách mạng đối với các dân tộc châu á, đã khiến cho trái tim họ hướng về lãnh tụ cách mạng tháng Mười Nga không gì ngăn cản nổi. Ngày nay, nếu cán bộ, đảng viên chúng ta để mất đi những giá trị đó, chẳng những sẽ làm mất đi sức hấp dẫn của CNXH mà còn là nguy cơ đối với Đảng và chế độ, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng ta đã cảnh báo.
2. Đạo đức cách mạng và chính trị cách mạng phải luôn luôn thống nhất với nhau
Đạo đức cách mạng, theo Hồ Chí Minh, là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng... Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Như vậy, đạo đức cách mạng là để phục vụ sự nghiệp chính trị cao cả: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự nghiệp chính trị đó mang giá trị đạo đức cao cả. Do đó, chính trị và đạo đức dưới chế độ ta luôn luôn thống nhất với nhau. Đạo đức để phục vụ sự nghiệp chính trị, người hoạt động chính trị phải có đạo đức.
Nhờ kiên trì giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà đại bộ phận cán bộ, đảng viên, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã nêu cao tinh thần tận tụy, trách nhiệm và đạo đức trong sạch của người cách mạng, xứng đáng là “công bộc”của dân, góp phần làm cho uy tín chính trị và uy tín đạo đức của Chính phủ Cụ Hồ thêm toả sáng. Một nền chính trị liêm khiết đã làm cho chính quyền cách mạng trở nên mạnh mẽ và sáng suốt, vượt qua được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, giữ vững thành quả cách mạng.
Hiện nay, sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức trong xã hội ta đang có nguy cơ bị phá vỡ; nghĩa là đang có mâu thuẫn giữa tư tưởng đạo đức cách mạng, giữa mục tiêu chính trị cuối cùng với hoạt động chính trị thực tiễn của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Số người này đã lợi dụng chức quyền để trục lợi, làm ô danh Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân vào bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN. Những hành vi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết,... của họ không còn dừng lại ở phạm vi đạo đức cá nhân mà đã trở thành những vấn đề chính trị - xã hội nghiêm trọng, có quan hệ đến an nguy của chế độ.
3. Đạo đức cách mạng đòi hỏi sự thống nhất giữa động cơ và hiệu quả, giữa nói và làm, giữa đạo đức và tài năng
Đạo đức Hồ Chí Minh không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, tức là đạo đức trong hành động. Đã là hành động, nhất là hành động cách mạng, phải chú trọng đến hiệu quả. Nếu làm việc gì cũng không có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”. Thống nhất giữa động cơ và hiệu quả đòi hỏi phải thống nhất giữa nói và làm, tức là phải chống bệnh nói suông, chỉ nói mà không làm, hoặc nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo,... Hiện nay, khi việc “thương mại hóa” tình người và các quan hệ xã hội đang có chiều hướng gia tăng, ta cần phải hết sức cảnh giác với căn bệnh “nói không đi đôi với làm”. Trên thương trường có lối quảng cáo “một tấc đến trời”; nơi công sở cũng có một số người luôn sống với hai nhân cách. Trong hội họp, họ thường nói rất hay về nhân ái, liêm chính, lương tâm,... nhưng trong thực tế hành động thì làm ngược lại. Có một số ít vị “thủ trưởng”- như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê phán - “chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”; nghĩa là chỉ quen chỉ thị, đề xuất, nói rồi quên, nói cao giọng mà không tính đến các điều kiện thực tế, đến khả năng thực thi của chính mình. Hình như họ nói cốt để cho người khác làm, còn chính mình lại không quyết tâm theo đuổi, chỉ đạo thực hiện đến cùng một công việc nào đó. Thành ra, có nhiều chủ trương không đi vào cuộc sống, không đem lại chuyển biến đáng kể trong thực tế, làm giảm niềm tin của dân, gây ra những hoài nghi không đáng có.
Ở Hồ Chí Minh, hiệu quả hành động gắn liền với tài năng. Nói chuyện với thanh niên, Người nói: “... thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”1. Như vậy, trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức và tài thống nhất làm một, phẩm chất và năng lực là một, trong đó đức là gốc của tài, tài là sự thể hiện của đức trong hiệu quả hành động. Ta hiểu, vì sao Hồ Chí Minh vừa rất coi trọng đạo đức lại vừa rất nhấn mạnh tài năng. Người thấy rõ, không có tài thì cách mạng không thể thắng lợi được.Vì vậy, Người rất quý trọng nhân tài, có chính sách thu phục và trọng dụng nhân tài. Bài học tập hợp, tin dùng trí thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi ta vừa giành được chính quyền vẫn đang có ý nghĩa thời sự nóng hổi, đòi hỏi chúng ta cần vận dụng tốt để sao cho các nhân tài ở trong Đảng hay ngoài Đảng, ở trong nước hay còn ở ngoài nước đều được tập hợp, trọng dụng, chung sức, chung lòng xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
4. Đạo đức cách mạng thống nhất với đạo đức đời thường
ở Hồ Chí Minh không có sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng với đạo đức đời thường. Người dùng khái niệm đạo đức cách mạng để phân biệt đạo đức mới trong thời kỳ đấu tranh cách mạng với đạo đức cũ chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, chứ không phải coi đó là hai cấp độ đạo đức khác nhau, áp dụng cho hai loại người khác nhau. Hoàn cảnh đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh đòi hỏi ở người cách mạng phải có sự tu dưỡng đạo đức sâu sắc hơn, một bản lĩnh đạo đức kiên cường,  để: “không tham giàu sang, không ngại gian khổ, không sợ uy quyền”.
Trong “ba không” ấy, thực tế cũng cho thấy nhiều khi người chiến sĩ cách mạng có thể dễ dàng vượt qua được uy vũ của kẻ thù, vượt qua được cực khổ, bần hàn, nhưng lại khó vượt qua được thử thách của vật chất, danh vị, tiền tài, gái đẹp,... Là một nhà cách mạng từng trải, rất lịch lãm về nhân tình thế sự, Hồ Chí Minh thấu hiểu được chỗ mạnh, chỗ yếu của con người. Trên trang đầu cuốn Đường kách mệnh, bàn về tư cách của người cách mạng, Hồ Chí Minh đâu có nói về những điều to tát, chữ nghĩa cao siêu. Người chỉ bắt đầu bằng những yêu cầu rất giản dị, gần gũi của đời thường: “Tự mình phải: Cần kiệm,... Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm,... ít lòng tham muốn về vật chất”. Tiếp theo, trong bài Người cách mạng mẫu mực, viết năm 1926, Người lại đưa ra 12 điều, trong đó nhắc nhở người cách mạng phải “xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và  hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng”.
Cũng như các trường phái đạo đức học tiến bộ trong lịch sử, khi bàn về hạnh phúc và hưởng thụ, Hồ Chí Minh thường vẫn dành vị trí ưu tiên cho những giá trị đạo đức - tinh thần so với các giá trị vật chất. Người đã nhiều lần nói rõ cái hữu hạn của sinh hoạt vật chất so với cái vô hạn của giá trị tinh thần: “Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người là hết, còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời sau”. Người kiên trì nhắc nhở chúng ta: đã là người cách mạng phải sẵn sàng chịu đựng những thiệt thòi về vật chất để theo đuổi những giá trị tinh thần cao quý như liêm khiết, công bằng, chính trực,... để xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong, gương mẫu của Đảng.
Tiếc thay, hiện nay có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã không theo được lời nhắc nhở đó. Họ đã bị chủ nghĩa cá nhân cực đoan, chủ nghĩa cơ hội thực dụng, lối sống buông thả, chạy theo các dục vọng vật chất thấp hèn,... chi phối. Họ đã vì đồng tiền mà bước qua pháp luật, đánh mất phẩm giá, mất luôn cả sinh mệnh chính trị, cả sự nghiệp đã theo đuổi một đời người!
5. Giáo dục đạo đức phải gắn liền với thực hành đạo đức
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu: tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa,...”1. Do đó, Đảng phải tiến hành giáo dục đạo đức cách mạng cho họ. Người thường xuyên nhắc nhở và chính Người đã kiên trì, liên tục thực hiện công việc quan trọng này; đặc biệt, ở những thời kỳ có tính bước ngoặt: cách mạng thắng lợi hay chuyển giai đoạn, từ chiến tranh sang hòa bình, từ nông thôn vào thành thị,... Người cũng đề ra những yêu cầu đạo đức trong mỗi lĩnh vực hoạt động của con người: học tập, lao động, sản xuất, chiến đấu; trong các mối quan hệ chủ yếu: đối với mình, đối với người, đối với việc, từ gia đình đến xã hội, từ Tổ quốc, nhân dân đến nhân loại.
 Ở Hồ Chí Minh luôn luôn có sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và thực hành đạo đức. Bởi lẽ, đạo đức vừa là một hình thái ý thức, vừa là một hình thái hoạt động, nó là sự thống nhất có mâu thuẫn giữa hai mặt đó, tức là giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức, giữa nhận thức và hành động. Vì vậy, vai trò của giáo dục đạo đức là vô cùng quan trọng. Đó là quá trình nội tâm hóa những quy phạm đạo đức của xã hội thành hành động tự giác của mỗi cá nhân. Bộ mặt đạo đức xã hội như thế nào, xét đến cùng, được quyết định bởi việc giáo dục đạo đức của xã hội ấy làm có hiệu quả hay không.
Muốn đạt hiệu quả, giáo dục đạo đức không thể chỉ dừng lại ở bồi dưỡng ý thức đạo đức đơn thuần, ở thuyết giảng đạo đức suông. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở rằng, giáo dục thanh niên không phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay là những phép tắc đạo đức. Người đòi hỏi giáo dục đạo đức phải đi liền với tổ chức hành động, trong quá trình hành động lặp đi lặp lại, hành vi đạo đức sẽ thành thói quen, rồi tiến dần thành phẩm chất, thành niềm tin đạo đức của cá nhân.
Trong giáo dục đạo đức, việc nêu gương sáng của người lãnh đạo có vai trò cực kỳ quan trọng, bởi quần chúng sẽ soi vào đó mong tìm thấy lý tưởng chính trị, lý tưởng đạo đức của Đảng và chế độ ta, để học tập và làm theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”2. “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”.
Những tư tưởng lớn trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cần được chúng ta tiếp tục nghiên cứu và quán triệt sâu sắc hơn nữa trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang diễn ra hiện nay. Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo đúng tinh thần Hồ Chí Minh, không phải chỉ để giải quyết vấn đề nhận thức mà cái chính là phải tổ chức hành động. Chúng ta tin tưởng rằng, với quyết tâm mới và cách làm mới, cuộc vận động sẽ đạt được kết quả mong đợi: đẩy lùi được tiêu cực, hình thành được nền nếp tu dưỡng, rèn luyện và giáo dục đạo đức ở trong Đảng và ngoài xã hội, từng bước làm cho xã hội ta tiến tới là một xã hội đạo đức và văn minh.


Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh

GS. Song Thành
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình khoa bảng, có truyền thống hiếu học, từ nhỏ đã say mê học tập, khao khát tìm tòi cái mới, cái tiến bộ. Người đã sớm nhận ra rằng muốn cứu nước, phải nâng cao dân trí trước hết là cho thanh thiếu niên. Những bài báo đầu tiên Người viết trên đất Pháp đều xoay quanh chủ đề này: tố cáo chính sách ngu dân của chính quyền thuộc địa, truyền bá những quan điểm giáo dục tiên tiến, kêu gọi, thức tỉnh thanh niên trong nước.
Đến khi lựa chọn được con đường cách mạng, Người đã quyết tâm trở về, “đi vào quần chúng thức tỉnh họ, tổ chức họ, rèn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh”. Từ những lớp huấn luyện chính trị đầu tiên ở Quảng Châu, các lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh ở biên giới Việt-Trung trước cách mạng, cho đến các lớp học tập, nghiên cứu lý luận cho cán bộ trung cao cấp và trí thức sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hiện thân như là một người thầy mẫu mực, kiên trì, cần mẫn vun đắp cho sự nghiệp “trồng người”; qua đó đã đào tạo nên thế hệ cán bộ-chiến sĩ trung thành, sáng suốt, và họ đã cùng Người đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành một dân tộc tự do, độc lập. Trên ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh không chỉ là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất mà còn là một Nhà giáo dục lớn của dân tộc.
Trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam mới, Người thường xuyên chăm lo xây dựng nền giáo dục của nước nhà: đi thăm các lớp học xóa mù chữ, các lớp bổ túc văn hóa, thăm các trường từ mẫu giáo, phổ thông, chuyên nghiệp đến các trường đại học, đến thăm và nói chuyện với các lớp bồi dưỡng, tập huấn của giáo viên các cấp; viết thư, thăm hỏi, tặng huy hiệu cho các nhân sĩ, trí thức, các thầy cô giáo có thành tích,... Đến đâu, Người cũng ân cần đưa ra những lời khuyên, chỉ dẫn thiết thực, sâu sắc cho việc dạy và học.

Thành công của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo chính là thể hiện sự thành công của một triết lý giáo dục cách mạng đúng đắn, có giá trị lý luận và thực tiễn cao, không chỉ trong giai đoạn đương thời mà vẫn giữ nguyên tính cập nhật ở thời đại kinh tế tri thức và xã hội thông tin hiện nay. Hệ thống lại những câu nói, những mệnh đề chứa đựng những quan điểm cơ bản nhất có quan hệ đến mục tiêu, nguyên lý, phương châm giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học…, có thể khẳng định: có một triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Đây là một kho báu, cần khai thác, vận dụng quán triệt trên con đường tìm kiếm một triết lý giáo dục hiện đại, tiếp thu tinh hoa thế giới, phù hợp với truyền thống dân tộc, với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay.
1. Về vai trò nền tảng và sứ mệnh trọng đại của giáo dục, Hồ Chí Minh thường không nói những lời to tát mà nói rất giản dị nhưng vô cùng sâu sắc, thấm thía như:
- Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.
- Non sông Việt Nam  có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.
- Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta,… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.
- Dốt nát cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm…
- Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch.
- Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang… Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế-văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu. Tuy không có gì đột xuất, nhưng rất vẻ vang. Không có tượng đồng bia đá, không có gì là oanh liệt, nhưng làm tròn nhiệm vụ là anh hùng…
- Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người, v.v..
Phải đến thập niên 90 của thế kỷ XX, tư tưởng này của Hồ Chí Minh mới được thế giới bàn đến. Hội nghị quốc tế về “giáo dục cho mọi người”, họp tháng 3-1990, mới khẳng định: “Sự suy đồi về dân trí không tránh khỏi dẫn tới sự suy đồi về kinh tế-xã hội”. Năm 1994, UNESCO đưa ra tuyên bố: “Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó”.
Năm 1996, khi UNESCO đưa ra 3 nội dung cho Triết lý giáo dục thế kỷ XXI, trong đó điều đầu tiên là “Phải coi giáo dục là giải pháp hàng đầu để giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội của một quốc gia cũng như của mỗi cá nhân”, thì tư tưởng này đã được Hồ Chí Minh sớm đề cập đến từ cuối những năm 40, giữa những năm 50 của thế kỷ trước.
2. Về mục tiêu của nền giáo dục dân chủ mới, Người từng nói:
- Một nền giáo dục của một nước độc lập…sẽ đào tạo các em nên những người hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em.
- Cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai. Quyết không chịu làm nô lệ.
- Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân phong kiến khác hẳn nhau. Bây giờ phải học để: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức…Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh.
-Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, lao động và sản xuất”.
- Học để làm việc, làm người, làm cán bộ.
Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại.
Muốn đạt được mục đích thì phải: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.
Triết lý giáo dục thế kỷ XXIcủa UNESCO đưa ra năm 1996, đã nêu lên bốn mục tiêu: “Học để biết - Learning to know (sau đổi lại là học để biết cách học - Learning to learn ), Học để làm - Learning to do, Học để cùng chung sống - Learning to live together, và Học để làm người - Learning to be (sau đổi lại là học để sáng tạo: Learning to create). Hồ Chí Minh khi ghi vào sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương năm 1949, cũng đề ra ba mục tiêu, thì đã có hai điều phù hợp với tư duy giáo dục thế kỷ XXI: học để làm việc, học để làm người.
3. Về phương châm, phương pháp dạy và học, Người căn dặn:
- Trong trường học, các thầy nên thi nhau tìm cách dạy sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, nhanh chóng và thiết thực.
- Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho phù hợp với sự đào tạo nhân tài kháng chiến và kiến quốc(Trong hoàn cảnh kháng chiến).
- Nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc.
-Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng.
- Phương pháp giáo dục thì theo nguyên tắc tự nguyện tự giác, giải thích, bàn bạc, thuyết phục, chứ không gò bó.
- Các cháu không nên học gạo, không nên học vẹt… Học phải suy nghĩ, phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.
- Trong Di chúc, Người nhắc nhở sau kháng chiến thắng lợi, phải: Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân.
Đặc biệt, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan niệm rất mới, rất hiện đại về cách học. Người yêu cầu:
Trước hết, phải biết tự giác, tự động học tập. Người nói: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt, do thảo luận và chỉ đạo góp vào”. Như vậy, trên thực tế, Hồ Chí Minh đã chủ trương phải bắt đầu từ người học, “phải lấy người học làm trung tâm”, nghĩa là người học (học viên, học sinh) phải biết tự giác, tự động học tập và nghiên cứu - lấy đó làm cốt; sau đó tiến hành thảo luận tập thể (xêmina) rồi kết hợp với bổ sung, nâng cao thêm của giảng viên mà hoàn thiện nhận thức của mình. Đây là cách học phổ biến đang được áp dụng ở nhiều trường trên thế giới, càng lên cao, càng phải triệt để vận dụng cách học 3 khâu này.
Hai là, Người nhấn mạnh: “ Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn  đề ra và  thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi: “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều”(1).Tức là Người đòi hỏi phải chống kinh viện, giáo điều, phải rèn luyện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khuyến khích tự do tư tưởng. Người nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ... Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa raquyền tự do phục tùng chân lý”(2).
Ba là, Người đề ra yêu cầu: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế… Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi”(3).Trong thư gửi “Quân nhân học báo” tháng 4-1949, Người đã viết: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy phải học thêm”.  Người nói với các thầy giáo: “Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện… Người huấn luyện nào tự cho mình đã đủ biết cả rồi thì người đó dốt nhất”(4).Nhắc nhở người khác đồng thời với nêu gương tự học của bản thân: “Tôi năm nay đã 71 tuổi, ngày nào cũng phải học…Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”(5). Triết lý giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO đến năm 1996 mới đề ra khẩu hiệu “Học suốt đời” (Life long learning). Như vậy, Hồ Chí Minh đã  đưa ra quan điểm “học suốt đời” sớm hơn UNESCO hàng mấy chục năm.
So sánh như vậy chỉ nhằm khẳng định: nhiều nội dung trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh vẫn đang rất cập nhật, rất hiện đại. Đặt tư duy của Người vào thời chiến tranh lạnh, thời còn đối đầu ý thức hệ giữa 2 phe, chưa phải thời của công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, hội nhập, hợp tác cùng phát triển như hiện nay, mới thấy triết lý giáo dục của Hồ Chí Minh  đã đi trước thời đại khá xa.
Hiện nay, để tư duy lại và thiết kế thành công một triết lý giáo dục mới, đáp ứng được đòi hỏi của giáo dục nước nhà trong thời đại mới, tất nhiên chúng ta phải ra sức học hỏi, tiếp thu tinh hoa giáo dục của nhân loại. Tuy nhiên, sự học hỏi nào, muốn đạt hiệu quả mong muốn, cũng không được thoát ly truyền thống văn hóa dân tộc và hiện tình của đất nước, tức là bên cạnh cái chung của thế giới, vẫn có cái riêng của Việt Nam. Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh chính là sự kết nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa Việt Nam và thế giới, giữa định hướng XHCN với những giá trị phổ quát của nhân loại.
Triết lý giáo dục là chuyện quốc gia đại sự - là cương lĩnh của một ngành giữ vai trò nền tảng của quốc gia, sự thành công hay thất bại của nó liên quan đến vận mệnh của đất nước, đến tương lai của nhiều thế hệ mai sau, do đó không thể “khoán trắng” cho Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đã coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu” thì cả Đảng, Nhà nước trước hết là những nhà lãnh đạo chủ chốt phải đặc biệt quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo.
Giáo dục Việt Nam đang trong tình trạng khủng hoảng, lối ra cho nó không phải là vạch ra chiến lược này hay chiến lược khác, đổi mới bộ phận này hay bộ phận kia khi cả con tàu giáo dục của chúng ta chưa có la bàn định hướng thật rõ ràng, nhất quán. Vấn đề cấp bách trước nhất hiện nay là phải sớm tư duy lại, thiết kế một triết lý mới cho giáo dục Việt Nam. Trong công việc này, chúng ta cần vận dụng quán triệt “triết lý giáo dục Hồ Chí Minh”. Nếu cứ để tình trạng trì trệ, lệch hướng của giáo dục kéo dài như hiện nay thì khó tránh khỏi rơi vào nguy cơ mà tổ chức
UNESCO đã cảnh báo từ năm 1994, rằng “những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản”.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh - một giá trị đặc trưng cho văn hoá hoà bình

GS. Song Thành
Viện Hồ Chí Minh
Thế kỷ XX đã qua với haicuộc chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc chiến tranh khu vực lớn nhỏ. Nỗi khủng khiếp trước thảm họa Hirôima và Nagasaki đến nay vẫn chưa thôi nhức nhối trong trái tim nhân loại. Trái đất càng trở nên mong manh hơn khi vũ khí hủy diệt ngày càng được hoàn thiện, sự tích lũy ngày càng lớn, đủ sức làm nổ tung cả hành tinh bé nhỏ của chúng ta.

Hòa bình là khát vọng của nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mấy nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa bình. Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, bước vào thiên niên kỷ mới, loài người càng thấm thía nhận ra rằng không thể giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng vũ khí mà phải bằng thông cảm, hiểu biết, đối thoại, bằng văn hóa khoan dung. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hoà bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung.

"Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái Việt Nam.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người, ở niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, dù nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen, thấp kém; từ đó Người nhắc nhở chúng ta "phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi". "Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ".

Đối với những quan lại cũ, cả với những người từng có nợ máu với cách mạng, Người cũng khuyên "không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới,... mà nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung". Để làm được điều đó, Người nhắc nhở chúng ta phải vượt qua những thiên kiến, hẹp hòi. "Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu".

Chính sách đại đoàn kết và tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác Hồ đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hoá được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một lòng một dạ đi theo cách mạng và kháng chiến, không quản ngại gian khổ, hy sinh.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở thái độ trân trọng, cái nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác nhau của văn hoá nhân loại, là chấp nhận giao lưu, đối thoại, tìm ra cái chung, nhằm đạt tới sự hoà đồng, cùng phát triển.

Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hoá. Trong khi chống Pháp, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hoá Pháp; chống Mỹ và vẫn ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản thân Người là hình ảnh kết tinh của tinh hoa văn hóa nhân loại Đông và Tây. Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao lưu giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và cái dị biệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận đối thoại về giá trị, là truy tìm cái chung, cái nhân loại để hòa đồng. Người đã viết: "Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ".

Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết tìm ra mẫu số chung cho mọi cuộc đối thoại. Người nói với người Pháp: "Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình đẳng, bác ái độc lập".

Với các tôn giáo, Hồ Chí Minh thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức - nhân văn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Mùa hè năm 1946 tại Paris, Người đã tiếp một nhóm linh mục công giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận, một người công giáo xác tín, chống cộng. Sau này, ông ta đã thuật lại trong cuốn hồi ký của mình lời của Hồ Chí Minh trong buổi gặp: "Mục đích của Chính phủ ta là đeo đuổi chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Để đạt hạnh phúc đó mọi người cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức Giễu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi đau của người đồng thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm cứu khổ loài người".

Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, đảng phái tại Chùa Bà Đá mừng Chính phủ liên hiệp lâm thời vừa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn làm gì, ta phải theo nấy".

Nói về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, chính J.Sainteny thừa nhận: "Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào'".

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác, bất công, xã hội và tất cả cái gì chà đạp lên "quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" của mỗi con người và mỗi dân tộc. Người nói: "Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân".

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng một cử chỉ hòa bình: đưa yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vecxay (1919). Nhưng Người biết: "Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu", bởi vậỵ, Người cũng đã nói từ rất sớm: "Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hòa thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai, thích cánh với năm châu".

Trong cuộc xung đột Việt - Pháp, giữa hai giải pháp hòa bình và bạo lực, Hồ Chí Minh luôn luôn chọn giải pháp hòa bình, nên Người đã chấp nhận thỏa hiệp, nhân nhượng: ký Hiệp định sơ bộ 6.3 rồi "Tạm ước 14.9; không quản bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình. Rất tiếc, thiện chí đó đã không được đáp lại.

Đến khi đối phương buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên tự vệ, Người đã luôn luôn giáo dục chúng ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược phản động Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý. Người đã tìm mọi cách để hạn chế đến mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường, cho quân ta và cho cả quân địch. Người nói một cách xúc động: "Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay là người Việt đều là người". Người nhắc nhở mục tiêu của chúng ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của địch chứ không phải là đánh tiêu diệt hoàn toàn chúng trên chiến trường. Ta hiểu vì sao Người không tán thành cách gọi một trận đánh chết nhiều người là một trận đánh "đẹp"! Người nói: "Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắng lại giỏi hơn", nên theo binh pháp của cha ông, "đánh vào lòng người là hơn hết, đánh vào thành trì là thứ hai", vì vậy Người tất coi trọng địch vận, ngụy vận, coi "khéo ngụy vận thì đó cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch".

Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị ta bắt trong chiến tranh, Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ ta phải nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, phải đối xử khoan hồng đối với họ để "cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước". Người chỉ thị cho Bộ tài chính của ta cấp cho mỗi người lính hay thường dân Pháp bị bắt 200 đồng/mỗi tháng, trong khi mức ăn của bộ đội ta chỉ có 150 đồng/tháng, với lý do "ta có thể chịu kham khổ được, nhưng đối với họ cần phải rộng rãi hơn". Một lần đến thăm trại tù binh Pháp bị bắt trong chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì lạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo người đang mặc, trao cho anh ta.

Trong thư gửi cho tướng R.Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, (6-1947), một người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt chuyến Người sang thăm nước Pháp, đã từng được Người coi là bạn, có đoạn viết: "Chúng ta đã từng là những người bạn tốt... Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!... Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta trở thành bạn hữu của nhau".

Thật là ngôn luận của một hiệp sĩ, một chính nhân quân tử! Chúng ta chiến đấu vì những mục tiêu cao cả hòa bình, độc lập dân tộc, chứ không vì lý do nào khác. Hoàn cảnh đã buộc phải chiến đấu thì hãy chiến đấu ra trò, cao thượng và chính trực, để sau chiến đấu, lại trở lại là những người bạn! Người đã làm hết sức mình để không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp, một dân tộc mà Người luôn luôn yêu mến và kính trọng.

Qua đó, có thể thấy: khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh không phải là một sách lược mà là sự kế tục và phát triển truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử và cũng là sự thể hiện bản chất nhân văn, chính nghĩa của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Khoan dung cũng là một biểu hiện sức mạnh của cách mạng, chỉ có những cuộc cách mạng chân chính, được lòng dân, mới có sức thuyết phục, cảm hóa trái tim, khối óc của quần chúng, bao gồm cả những người lầm lạc và chống đối.

Ngày nay, trên thế giới, chiến tranh lạnh đã qua đi, nhưng loài người vẫn đang phải sống trong "một nền hòa bình nóng". Nhiều nơi vẫn đang diễn ra những cuộc chiến tranh, xung đột đẫm máu về lãnh thổ, dân tộc, sắc tộc và tôn giáo. Do thiếu một thái độ khoan dung, người ta tự coi mình là độc tôn, đi tới dị hóa, kỳ thị với tất cả cái gì không phải là mình! Ngược lại, cũng đang có những thế lực mưu toan lợi dụng cái gọi là "bản chất chung của con người" để áp đặt cho các dân tộc khác những giá trị xa lạ với truyền thống văn hóa của họ. Khi không áp đặt được, họ sẵn sàng dùng sức mạnh của bom đạn, sắt thép để khuất phục ý chí của một dân tộc có chủ quyền. Chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đe dọa quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc trong hòa bình, tự do, độc lập; quyền được lựa chọn con đường phát triển riêng theo lý tưởng và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc. Chính trong điều kiện đó, giáo dục, bồi dưỡng và phát triển lòng nhân ái, khoan dung đang là một yêu cầu cấp bách, trong đó tấm gương khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh đang được nhắc nhở như một giá trị tiêu biểu cho đặc trưng văn hóa của thế kỷ XXI - văn hóa hoà bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: nhà báo cộng sản lỗi lạc

GS Song Thành
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một sự nghiệp cách mạng vĩ đại, một di sản văn hóa đa dạng và phong phú. Trong đó, sự nghiệp báo chí gắn liền với sự nghiệp cách mạng là một phần quan trọng làm nên sự nghiệp văn hóa của Người, góp phần làm ngời sáng nhân cách nhà báo cộng sản lỗi lạc.

Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú của Người. Có thể chia thành những thời kỳ sau:
Thời kỳ đầu ở Paris(1917-1923)
Sống và hoạt động cách mạng tại thủ đô nước Pháp, nơi có đời sống báo chí náo nhiệt bậc nhất châu Âu bấy giờ, Người biết được bản chất của xã hội tư bản và tình hình chính trị - xã hội ở các nước thuộc địa, nên đã sớm nhận ra tầm quan trọng của báo chí: là vũ khí sắc bén, một phương tiện hữu hiệu để đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh các dân tộc thuộc địa; diễn đàn để tập hợp, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Vì vậy, Người đã quyết tâm học tập, rèn luyện để sớm trở thành một nhà báo cách mạng, một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng.
Ban đầu, Nguyễn Ái Quốc tập viết những bài báo ngắn, đăng trên các tờ L’Humanité, La vie Ouvrière, Journal du peuple…(bằng tiếng Pháp) nhằm tố cáo, lên án những tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương và nhiều thuộc địa khác, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân Pháp. Sau đó, Người tham gia sáng lập, đồng thời làm chủ nhiệm kiêm chủ bútLe Paria (Người cùng khổ). Số đầu tiên ra ngày 1-4-1922, dưới tên báo có phụ đề Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa(sau đổi thành Diễn đàn của vô sản thuộc địa), với tuyên ngôn rõ ràng là giải phóng con người !
Nội dung các bài viết của Nguyễn Ái Quốc trên  Le Paria cũng như trên các báo của phong trào công nhân và lao động Pháp bấy giờ đều tập trung vào một số chủ đề chính như: tố cáo nền “khai hóa” giết người của bọn thực dân; kêu gọi các đảng cộng sản ở chính quốc giúp đỡ phong trào đấu tranh giải phóng ở thuộc địa; phê phán bọn quan lại thực dân cùng bọn vua quan bù nhìn, tay sai và vạch trần mối quan hệ giữa bọn cướp nước và lũ bán nước giữa chúng.
Trước khi rời Pháp đi Liên Xô, Người đã cho đăng trên 30 bài viết và tranh vẽ ký tên Nguyễn Ái Quốc. Những bài báo, luận văn chính trị, truyện ký, tranh minh họa, biếm họa,…của Người đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, gợi mở con đường đi tới giải phóng và xây dựng tương lai, hạnh phúc của mình.
Bên cạnh tờ Le Paria bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nghĩ đến việc xuất bản một tờ báo tiếng Việt cho người Việt và đã từng viết bài cổ động cho nó. Song chưa kịp thực hiện thì Người được cử đi Liên Xô.
Thời kỳ đầu ở Liên Xô (1923-1924)
Ngoài việc tiếp tục gửi bài, chăm lo cho sự tồn tại và phát triển của tờ Le Paria, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài gửi đăng trên các báo và tập san của Liên Xô và Quốc tế Cộng sản, như: tờ Pravđa, Rabôtnhitxa (Nữ công nhân), Guđok ( Tiếng còi), Inprekorr ( Tạp chí Thư tín quốc tế), trả lời phỏng vấn các báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ, củaLiên Xô), L’Unità(báo Đoàn kết, của Đảng Cộng sản Italia), v.v..
Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc thời gian này tập trung phản ánh tình cảm sâu sắc, lòng biết ơn của nhân dân các dân tộc thuộc địa đối với Lênin; thể hiện tinh thần dũng cảm đấu tranh chống tư tưởng sôvanh, coi thường vai trò của cách mạng giải phóng dân tộc; nhấn mạnh cách mạng thuộc địa phải ra sức phát huy tính chủ động, sáng tạo, đón thời cơ, chớp thời cơ giành lấy chính quyền, không thể ỷ lại, trông chờ vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc.
Cùng với những hoạt động khác, nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc trên báo chí Liên Xô thời đó đã làm cho tên tuổi của Người được biết đến rộng rãi trong nhân dân Xô viết và bạn bè quốc tế.
Thời kỳ hoạt động ở Quảng Châu và ở Xiêm (1924-1929)
Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc rời Mátxcơva đi Quảng Châu, xây dựng tổ chức, mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, gây dựng phong trào cách mạng trong nước. Sau khi thành lập tổ chức “Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên”, Người cho ra báo Thanh Niên, cơ quan ngôn luận của Hội, sử dụng nó như một vũ khí tuyên truyền sắc bén, bởi trong điều kiện hoạt động bí mật, không có sách báo thì không thể chuyển tải các chủ trương của Hội đến các tổ chức cơ sở và hội viên.
Báo Thanh Niên ra số đầu vào ngày 21-6-1925, với các bài viết ngắn gọn của Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn… Cùng với tác phẩm Đường cách mệnh, Báo Thanh niên đã có vai trò to lớn trong việc chuẩn bị về tư tưởng, lý luận và tổ chức cho sự thành lập Đảng sau này. Sau khi xuất bản Báo Thanh Niên, Người còn lập ra Báo Công Nông (12-1926), Báo Lính kách mệnh, đều bằng tiếng Việt, nhằm phục vụ đối tượng rộng rãi là công nông và binh lính người Việt Nam đang sống trong tô giới Pháp ở Thượng Hải. Những tờ báo đó đã góp phần vào việc tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, thực hiện nhiệm vụ lịch sử là “người tuyên truyền, người cổ động tập thể, người tổ chức tập thể”, như Lênin đã nói.
Khi Tưởng Giới Thạch đàn áp những người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc phải trở lại, rồi tìm đường về Xiêm (Thái Lan), tiếp tục vận động cách mạng trong đồng bào ta tại đó (từ mùa Thu 1928 đến cuối 1929). Tại Xiêm, Người đã đổi tên BáoĐồng Thanh, cơ quan tuyên truyền của “Hội đồng bào thân ái” (có từ năm 1927) thành Báo Thân Ái cho phù hợp với tên của Hội. Nhờ sự chỉ đạo của Người, Báo Thân Ái đã có nội dung rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, góp phần tập hợp, đoàn kết, vận động xây dựng nếp sống mới, cổ vũ tinh thần yêu nước trong kiều bào ta ở Xiêm.
Thời kỳ trở lại Liên Xô, quaTrung Quốc, trước khi về nước (1930-1941)
Tình hình thế giới biến chuyển, cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc được cử về nước, qua Trung Quốc. Thời gian này, Người đã viết 9 bài báo có nhan đề chung là “Thư từ Trung Quốc”, gửi về đăng trên tờ Notre voix (Tiếng nói chúng ta), tuần báo tiếng Pháp của Đảng xuất bản công khai tại Hà Nội, nêu lên tinh thần dũng cảm và kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân Trung Quốc chống Nhật, vạch rõ bộ mặt phá hoại của bọn trốt-kít Trung Quốc, qua đó nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta nâng cao cảnh giác với hoạt động của bọn này ở Việt Nam.
Năm 1940, Người tới Vân Nam, bắt liên lạc được với Ban Hải ngoại của Đảng, viết nhiều bài cho tờ Truyền tin của tổ chức Đảng xuất bản tại đây (sau Người đề nghị đổi tên báo là Đ.T. ,có thểhiểu là Đấu tranh hay Đánh Tây đều được). Không có khả năng về nước theo hướng này, Người quay lại Quảng Tây. Dưới bút danh Bình Sơn, Người đã viết hơn 10 bài báo (bằng tiếng Trung) đăng trên Cứu vong nhật báo, tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc thời kỳ chống Nhật, khi đó đặt trụ sở tại Liễu Châu.
Ngày 28-1-1941, Bác Hồ vượt biên giới về Cao Bằng, để cùng với Trung ương Đảng ta trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 8 năm đó, Người sáng lập Báo Việt Nam độc lập,gọi tắt làViệt Lập để tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách, cổ động nhân dân các tỉnh Cao - Bắc - Lạng tham gia các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh. Số đầu (đánh số 101) ra ngày 1-8-1941, mỗi tháng ra 3 kỳ, mỗi kỳ in 400 bản. Tôn chỉ, mục đích của báo đã nêu rõ trong số 1, được diễn đạt bằng văn vần để đồng bào dễ nhớ. Báo Việt Lập thường có các mục: xã luận, tin trong nước, tin thế giới, vườn văn, trả lời bạn đọc,…Lời văn ngắn gọn, giản dị, rõ ràng, dễ hiểu, rất phù hợp với trình độ cán bộ và quần chúng vùng dân tộc thiểu số. Báo còn có tranh minh họa do chính tay Người vẽ. Có thể nói Báo Việt Lập đã thực sự góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công.
Tháng 8 - 1942, với tên là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc công tác, bị chính quyền của Tưởng Giới Thạch bắt giam hơn một năm. Ra tù, Người viết nhiều bài cho Liễu Châu báo (bằng tiếng Trung) nêu rõ Hoa-Việt cần thiết phải liên minh, hợp tác cùng nhau chống phát xít Nhật; nhấn mạnh quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa,…Những bài đó được giới nhân sĩ, trí thức ở Hoa Nam rất hoan nghênh.
Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám thành công(1945-1969)
Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra bước ngoặt mới trong sự nghiệp làm báo của Bác Hồ. Dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác báo chí và viết nhiều bài cho báo trong nước và nước ngoài.
Từ năm 1946 đến năm 1954, theo thống kê chưa đầy đủ, Người đã viết 135 bài cho báo Cứu Quốc, cơ quan tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh, tờ báo  hàng ngày, làm nhiệm vụ kịp thời thông tin tình hình trong nước và thế giới; phân tích, bình luận để hướng dẫn dư luận. Ngoài ra, Người còn viết 24 bài cho Báo Sự Thật, cơ quan Trung ương của Đảng và viết một số bài khác cho tờ Sinh hoạt nội bộ, cho BáoVệ quốc quân của quân đội.
Từ năm 1951, khi báo Nhân Dân ra đời, cho đến năm 1969, Người đã viết cho báo Đảng 1.205 bài. Ngoài ra, còn viết nhiều bài cho báo và tạp chí nước ngoài, như tờ Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân-cơ quan thông tin của các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế; Báo Pravđa của Liên Xô, Báo L’Humanité của Đảng Cộng sản Pháp, Tạp chí Những vấn đề hòa bình và chủ nghĩa xã hội, v.v..
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một gia tài báo chí đồ sộ, phong phú, đa dạng về thể loại: chính luận, bút ký, truyện ngắn, tiểu phẩm, thơ ca, hò vè, tranh minh họa-đả kích,…với số lượng hàng nghìn bài, được đăng trên báo chí trong và ngoài nước; được ký dưới hàng trăm bút danh (đến nay ta vẫn chưa có điều kiện sưu tầm, xác minh và thống kê đầy đủ, nhất là các bài được viết và công bố ở nước ngoài).
Tất cả các tác phẩm báo chí của Người đều chỉ xoay quanh một đề tài duy nhất là “chống thực dân đế quốc, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” nhưng không hề trùng lặp, mà đều được thể hiện một cách đa dạng, sinh động, mới mẻ cả về nội dung lẫn cách viết, thể hiện một phong cách riêng, dù ký dưới bút danh nào, người đọc vẫn nhận ra đó là bài viết của Người.
Những bài báo chính luận của Người thể hiện một tư duy sắc sảo, có tính đột phá về lý luận, gây được tiếng vang rộng rãi trong bạn bè quốc tế. Thành quả đó không phải chỉ do tài năng bẩm sinh mà là kết quả của một quá trình kiên trì, gian khổ học tập, rèn luyện. Để viết báo giỏi, ngoài tài năng, còn phải có kiến thức rộng, muốn thế - như lời Người từng nhắc nhở - mỗi người làm báo phải biết ít nhất một ngoại ngữ để có thể tham khảo thông tin, kinh nghiệm, thành tựu về nội dung và kỹ thuật làm báo của thế giới. Bác Hồ là tấm gương sáng về mặt này: thạo tiếng Pháp, giỏi tiếng Anh, tiếng Trung, biết tiếng Nga, ngoài ra còn có thể giao tiếp những điều thông thường với khách nước ngoài bằng vài thứ tiếng khác nữa. Nhưng học nước ngoài không phải là để rập khuôn, bắt chước mà học hỏi có chọn lọc, để nâng cao tri thức, bản lĩnh, từ đó mà sáng tạo ra phong cách riêng, phù hợp với ngôn ngữ, tư duy của người Việt Nam. Theo hướng đó, nhà báo Hồ Chí Minh đã hình thành cho mình một phong cách báo chí không thể trộn lẫn: ngắn gọn, giản dị, lời ít, ý sâu, diễn đạt trong sáng, hấp dẫn - một phong cách vừa bác học, vừa dân gian, hiện đại mà lại rất Việt Nam.
“Lấy tư cách một đồng chí có ít nhiều kinh nghiệm về báo chí”(1), Người thường xuyên quan tâm chỉ đạo, ân cần góp ý về nội dung và hình thức của báo chí cách mạng, mong sao cho nó phát huy hết sức mạnh tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, dẫn đường cho quần chúng trong cuộc sống, chiến đấu, lao động và học tập.
Ngày nay, với sự phát triển của dân trí, trình độ tư duy và ngôn ngữ của dân ta đã được nâng cao, đã có thể nói và hiểu được nhiều vấn đề trừu tượng. Tuy nhiên, những đặc điểm trong phong cách báo chí cùng những lời nhắc nhở ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là những bài học quý báu cho những người làm công tác thông tin, báo chí, tuyên truyền, giáo dục lý luận, “mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”(2).
__________________
(1) Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb Sự thật, H. 1971, tr. 57.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.306
                                                                                                                                                    


Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện thân đạo đức - văn minh của Đảng và dân tộc ta


                                                                                                                                  G.S Song Thành
                                                                                          Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó cũng là thắng lợi của ý chí, đạo đức, văn minh Việt Nam trước vũ khí, kỹ thuật và sự dã man, tàn bạo của kẻ thù. Công lao đó trước hết thuộc về nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất, thế hệ nối tiếp thế hệ, đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh chiến đấu liên tục, ròng rã 30 năm trời dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và với sự cổ vũ kỳ diệu của tư tưởng - đạo đức Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, tạo cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng một nền văn hóa mới và một nền đạo đức mới Việt Nam. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người đã cổ vũ, động viên các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam để tạo ra một xã hội nhân cách mới. Xã hội nhân cách đó được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước của dân tộc kết hợp chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, từ đó đã sản sinh ra hàng triệu, hàng triệu người con anh hùng của đất nước - những chiến sĩ cách mạng kiểu mới của thời đại Hồ Chí Minh: trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư... Những cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng ta đã gương mẫu đi tiên phong trong cuộc đấu tranh anh hùng đó và chính họ đã cùng với nhân dân làm nên hiện tượng "kỳ diệu Việt Nam" trong thế kỷ 20, tiêu biểu cho lương tâm, vinh dự và phẩm giá con người.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới, đạo đức mới trong lịch sử dân tộc. Người đã làm rạng rỡ Tổ quốc ta, nhân dân ta, truyền thống quang vinh của Đảng ta. Người nói: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh" và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức - văn minh" và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức = văn minh đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những để lại cho chúng ta một sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử dân tộc, Người còn để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách của dân tộc và của loài người.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân - một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

Vấn đề số một trong đạo đức của một vĩ nhân - cũng như của một người bình thường là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì? "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là học thuyết chính trị - đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường để "giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục". Cho đến khi phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người vẫn chỉ là "không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa".

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại đồng, hy sinh chẳng quản, gian nguy không sờn. ở những thời điểm then chốt của lịch sử, với tầm nhìn xa trông rộng của một "phượng hoàng đại ngàn", Hồ Chí Minh đã sáng suốt và dũng cảm đi tới những phán quyết lịch sử. Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người chỉ thị: "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập" Vào giữa những năm 60, lợi dụng khó khăn của ta, khi phong trào cộng sản quốc tế có xung đột và chia rẽ nghiêm trọng, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đổ hơn nửa triệu quân vào miền nam Việt Nam và tăng cường cho không quân, hải quan ném bom, bắn phá dữ dội miền băc, hòng đưa chúng ta trở lại thời kỳ đồ đá! Trước tình thế đó, Người vẫn thể hiện quyết tâm và khí phách của toàn Đảng, toàn dân ta: "Dù nó ném hóa biển cũng phải giải phóng miền nam cho kỳ được!" (xem báo Nhân Dân ngày 24-5-1970). Thật "hiếm có một nhà lãnh đạo nào, trong những giờ phút thử thách, lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ, quên mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường như vậy".

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh "như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr 90). Vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm, nghi kị còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó. Lê-nin từng nói: không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn luôn luôn "tự khuyên mình": muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao. Dù có lúc phải "hoá lệ thành thơ" thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân, luôn luộn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, "lấy dân làm gốc". Người giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi "nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì"

Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Người dạy cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng nghe ý kiến của dân. của "những người không quan trọng", không được lên mặt "quan cách mạng", cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là "Cha già của dân tộc" nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc "người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mật trận". Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối vớii nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực. Bác Hồ là "muôn vàn tình thân yêu" đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình yêu thương đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Trái tim mênh mông của người ôm trọn mọi nỗi đau khổ của nhân dân. Người nói một cách cảm động: "Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng; gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi". Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Đối với những người lầm lạc, ngay cả đối với những người chống đối hay kẻ thù, Người cũng thể hiện một lòng khoan dung, độ lượng hiếm có. Kẻ thù xâm lược đã gây nên bao tội ác man rợ đối với nhân dân ta, nhưng khi chúng đã thất thế, đầu hàng hay bị bắt, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm "cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước".

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là "tư cách của người cách mạng". Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện. Cũng như V.I.Lê-nin, Người coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Một cốt cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Cuộc đời của Người, từ một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh đến khi làm Chủ tịch nước, sống giữa thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã. Khách nước ngoài vào thăm nhà sàn của Bác Hồ đã rất xúc động khi được biết Người không hề có một chút của riêng. Đó là một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần kiệm, liêm chính.

Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường. Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ không phảl của một cá nhân anh hùng nào.

Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, "khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo".

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã viết nhiều về tấm gương đạo đức của V.I.Lê-nin. Rèn luyện theo tấm gương đó, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và nhân loại một tấm gương trọn vẹn, mười phân vẹn mười. ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành "tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự", thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức - văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: "Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội? Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó".

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.