Thứ Bảy, 20 tháng 5, 2017

Hồ Chí Minh, một nhân cách lớn của thời đại

Josephine Stenson


(Sử gia Josephine Stenson)
Xin cho phép tôi được mặc chiếc áo dài của người mẹ ViệtNam, người mẹ đã sinh ra những anh hùng của nhiều thời đại chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình. Và thời nay, có một người mẹ đã sinh ra thiên tài Hồ Chí Minh. Bà cũng đã mặc tà áo này.
Hôm nay tôi mặc tà áo này không phải để chưng món quà sang trọng của bạn bè Việt Nam tặng cho tôi. Đây là sự ngưỡng mộ một sắc phục dân tộc mà chưa có một sắc phục phụ nữ nào lại đẹp, có văn hoá, bề dày truyền thống và thanh lịch như chiếc áo dài ViệtNam.
Từ Hoa Kỳ, tôi sang Thái Lan và vào Thành phố Hồ Chí Minh, thấy ngỡ ngàng khi nhìn thấy nữ sinh các trường đều mặc áo dài - những chiếc áo dài tuyệt đẹp. Tôi như bị thôi miên cứ đứng nhìn ngây ngất những tà áo dài mềm mại trên thân hình rất đẹp của các nữ sinh.
Trong khi đó, một cảm giác buồn tương phản đột nhiên xâm chiếm trong tôi một cách bất ngờ khi tôi nhìn thấy nhiều chị em khác cũng tại thành phố này mặc những bộ đồ mà những người phụ nữ Mỹ chúng tôi đã bỏ từ thập kỷ 60 sang thập kỷ 70. Khi ra Hà Nội tôi hiểu được bề dày về nền văn minh Sông Hồng, nhưng không giống như Thành phố Hồ Chí Minh, phụ nữ ít mặc áo dài, phần lớn họ mặc quần áo giống như phụ nữ Bangkok và Philippines.
Hồ Chí Minh là người mà tôi dành nhiều thời gian nhất trong đời nghiên cứu lịch sử của tôi để tìm hiểu cho được đích thực tính cách của ông. Tôi thuộc thế hệ tuổi con cháu Bác Hồ Chí Minh. Cho phép tôi được ca ngợi lời ca muộn màng của người hậu thế. Không phải tôi ca ngợi Hồ Chí Minh vì Việt Nam đã chiến thắng quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh. Tôi ca ngợi Hồ Chí Minh trong tình hình Việt Nam giảm sút uy tín quốc tế. Trên thế giới người ta gọi ViệtNam là vương quốc “chuột nhắt” vì tệ trộm cắp thì không nước nào sánh bằng.
Tôi đã tự bỏ tiền túi ra để đi từ Mỹ sang Pháp và Liên Xô cũ: Những nơi mà Hồ Chí Minh đã đặt chân tới đó, để tìm những di tích gốc về Hồ Chí Minh. Tôi đã ở Liên Xô một thời gian tương đối lâu để nghiên cứu về ông. Khi về Mỹ, tôi lại đi từ New York đến các đảo lửa vùng Đông Bắc châu Mỹ, nơi cụ Hồ đã đi tàu xuyên đại dương đến đó. Tôi quyết tâm đi tìm cho được lai lịch văn hóa Hồ Chí Minh, mặc dù ngày đó người ta đã thừa nhận cụ là danh nhân văn hoá của thế kỷ.
Rất tiếc, lâu nay Việt Nam chỉ cung cấp cho chúng tôi lai lịch chính trị của Hồ Chí Minh, ngoài ra không cung cấp những tư liệu gì đối với những vấn đề khác. Và tôi cũng hết sức ngạc nhiên và khó hiểu không biết tại sao Việt Nam cứ tuyên truyền rằng cụ Hồ sinh ra trong một gia đình nghèo khổ? Đã nghèo thì làm sao có điều kiện ăn học và làm quan như cụ thân sinh ra ông và trình độ học vấn như ông.
Ngoài ra Việt Nam còn tuyên truyền rằng ông Hồ làm phu khuân vác ở Bến Nhà Rồng, bồi bàn dưới tàu Pháp, bồi bếp ở khách sạn Luân Đôn và làm thợ nhiếp ảnh... chỉ toàn là những lao động cơ bắp, không thấy trí tuệ Hồ Chí Minh ở chỗ nào cả! Có lẽ những nhà lãnh đạo Việt Nam lo ngại khi nói đến trí tuệ của ông Hồ Chí Minh thì ảnh hưởng đến đường lối giai cấp của Đảng Cộng sản chăng, vì sợ quần chúng hiểu rằng Bác Hồ là thành phần thuộc tầng lớp trên chứ thực chất không phải là bần cố nông và thợ thuyền, giai cấp lãnh đạo cách mạng?
Xin lưu ý, bất cứ một quốc gia nào coi rẻ và khinh miệt trí thức thì nhất định sẽ thất bại, lịch sử đã từng chứng minh thực tế đó.
Qua nghiên cứu tôi thấy rằng:
- Bác Hồ chọn việc bồi bàn trên tàu là để có điều kiện đi đến được nhiều quốc gia.
- Bác Hồ chọn việc làm ở khách sạn là nơi có điều kiện tiếp xúc được với nhiều chính khách.
Thế nhưng người ta hiểu sai rằng Bác Hồ làm đủ mọi nghề chỉ là để kiếm sống, không đúng!
Tôi đã đến London tìm hiểu và thấy Nguyễn Ái Quốc kết thân với một số nhà đại văn hào, các nghệ sĩ danh tiếng như Romans,Darwin, vua hề Charlie (Sạc-lô)...
Người ta đồn rằng cụ Hồ biết 28 thứ tiếng, nhưng theo kết quả tìm hiểu của tôi thì cụ biết khá sành sỏi 12 thứ tiếng.
Tôi xin dâng tặng những lời ca đẹp nhất về Hồ Chí Minh, sau khi tôi đã đi đến những nơi có dấu chân ông đi qua, gặp lại những người đã biết về ông và đi đến kết luận rằng Hồ Chí Minh lúc còn trẻ là một thanh niên ... rất đẹp trai, cho nên hiện giờ tôi vẫn cứ mơ ước về ông. Nếu tôi cùng thời với ông thì dứt khoát phải trở thành người yêu của ông. Ông không chấp nhận, tôi cũng đeo đuổi đến cùng... Tôi ngưỡng mộ ông bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của một người con gái hậu thế.
Khi tôi đã yêu ông và tôn kính ông ở góc độ khoa học thì tôi nghĩ ngay đến tượng Nữ thần Tự Do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng tượng thần Tự Do và ca ngợi thần Tự Do.
Nguyễn Tất Thành khi đến New York và cũng đã đến chiêm ngưỡng tượng thần Tự Do như mọi chính khách sau khi đến tham quan thần Tự Do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do, nhưng chỉ nhìn dưới chân tượng và ghi: “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp; số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?
Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân tượng thần Tự Do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người, không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức tượng thần Tự Do. Chính vì thế mà hôm nay tôi đến đây tìm đến con người này - Hồ Chí Minh - để xem giữa lời nói và việc làm của ông có tương phản không?
Hồ Chí Minh quả thật là con người nói và làm đi đôi. Tôi đã vào nhà của ông. Lục tìm của riêng của ông. Ông không có của riêng. Thật rất lạ và hiếm thấy, chính khách nào khi cầm quyền đều ban hành sắc lệnh tôn trọng và bình đẳng cho phụ nữ nhưng khi sắc lệnh ký xong thì bản thân họ lại vào nhà thổ, cho phép phát triển kỹ nghệ “đàn bà”. Thậm chí một vị Tổng thống có đến 3 - 4 tình nhân. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành đứng trước Tượng thần Tự Do ghi những điều trên khi mình còn lầm than, rồi khi mình làm Chủ tịch một nước và khi qua đời, trên giường ông vẫn vắng hơi ấm của đàn bà. Con người khi làm Chủ tịch nước 24 năm đến lúc qua đời trên giường không có hơi ấm của đàn bà.
Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân,ông càng vĩ đại hơn ở chỗ ông là một con người bình thường sống hòa lẫn vào trong cuộc sống của xã hội chứ không phải siêu phàm.
Tôi đọc nhiều tư liệu về ông và biết ông được nhiều phụ nữ yêu thương. Bà Lared theo đuổi Nguyễn Ái Quốc nhiều năm. Trong những đêm đi họp chi bộ về hai người đi bên nhau trên bờ sôngSeine, bà tỏ tình mà Nguyễn Ái Quốc không mềm lòng. Khi bà qua đời, để lại cuốn nhật ký, tôi được đọc quyển nhật ký đó và hiện giờ con gái bà đang giữ. Con bà cũng nói với tôi: “Mẹ tôi yêu Nguyễn Ái Quốc”. Đấy, tôi phải đi tìm cho được những bằng chứng như vậy mới đủ cơ sở khẳng định nhân cách một con người của thời đại. Đúng, Hồ Chí Minh là nhân cách của thời đại.

Tôi cũng đến khách sạn Boston, ở Đông Bắc nước Mỹ, nơi Nguyễn Tất Thành ở đó làm thợ nặn bánh mì gần một năm trời và sau này chính các nhà đại văn hào châu Âu qua Mỹ đều ở Khách sạn này. Nguyễn Tất Thành đã ghi lại tên tất cả những chính khách đến ở trong khách sạn Boston.

Tại đây có một cô gái quốc tịch Mỹ gốc Pháp tên Côlét đã yêu say đắm Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Tất Thành rất thích nghe hát và xem kịch, nhất là kịch cổ điển. Được biết Hồ Chí Minh rất yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ thuật rất phong phú, nhưng Nguyễn Tất Thành rời nước ra đi không phải để hoạt động chính khách mà ông đi tìm đường cứu dân tộc. Côlét khuyên dụ ông đi với bà và tỏ ý muốn kết hôn với Nguyễn Tất Thành, nhưng ông đã tìm cách an ủi Côlét để từ chối. Sau đó một thời gian, Côlét trở thành một nhà văn lớn có tên tuổi. Nguyễn Tất Thành tâm sự và bà Côlét kể lại: “Nếu tôi muốn có một văn bằng thì tôi đã thi năm 1904 ở trong nước, vì lúc đó tôi có một người con gái quê nhà yêu mà đành bỏ lại trên bến Cảng để ra đi”.
Vừa rồi, tôi có đọc một bài hồi ký đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự của Viện quân sự Hoa Kỳ, do một số sĩ quan Anh - Mỹ trong đội quân của Đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng, “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Họ kể lại, có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ hỏi:
-Không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình?
-Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất.
Tôi đã đi Quảng Châu và tôi biết Nguyễn Ái Quốc còn có một người yêu nữa tên Lý Phương Liên (bí danh) thư ký của Đông Phương bộ thuộc cục Phương Nam là vợ của Lý Thụy (cụ Hồ) ở phố Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc. Thực tiễn cuộc sống có những việc nhìn thấy tận mắt chưa hẳn là thật. Khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số người trong tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội sang dự một khóa học chính trị tại nhà số 13 phố Văn Minh cũng tưởng Lý Phương Liên là "vợ" của Lý Thụy, nhưng sau mới biết thực tế không phải như vậy, đây chỉ là việc ngụy trang để che mắt mật thám.
Tôi không coi vấn đề này quan trọng, tuy vậy thời gian tôi đến Liên Xô, tôi cũng biết có một cô gái Nga yêu ông, yêu tới mức bà ta không lấy được Nguyễn Ái Quốc và suốt đời ở vậy cho đến già rồi chết. Có một nhân chứng người Nga được bà ta tâm sự kể lại với tôi rằng: “Hai người yêu nhau, nhưng không dám lấy. Nguyễn Ái Quốc nói lấy vợ thì phải để lại địa chỉ, phải có con, phải có trách nhiệm làm chồng, làm cha và rồi thế nào mật thám cũng phát hiện ra, cho nên Nguyễn Ái Quốc không lấy vợ và tôi cũng không lấy chồng."
Dân tộc Việt Nam mãi mãi nên tự hào về Hồ Chí Minh, nền văn minh nhân loại của thế kỷ XX này luôn tự hào có một vĩ nhân được cả thế giới, đại diện bởi UNESCO, phong tặng Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương sáng về nhân cách một người thời đại cho mọi thế hệ tiếp sau.
Josephine Stenson
Hà Nội, tháng 5 năm 1990
Chuyển ngữ: Cao Huy Hùng, Nguyễn Thế Chương

Chiếc xe chống đạn nào đã được sử dụng phục vụ Bác Hồ? (thêm về những chiếc xe nữa)

Chiếc xe chống đạn nào đã được sử dụng phục vụ Bác Hồ?

Nguyễn Thành Quang
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Hình ảnh chiếc xe ZIS đặt ở Khu Di tích.ZIS là một trong những dòng xe chống đạn nổi tiếng được sử dụng trong thời Stalin. Năm 1936, chiếc xe chống đạn ZIS 101 được xuất xưởng với số lượng có hạn (04 chiếc). Chiều dài xe 5.750mm, chiều rộng 1.890mm, chiều cao:1.870mm. Chiều dài cơ sở của xe 3605mm. Với trọng lượng lên tới 2.550kg, xe có thể đạt vận tốc tối đa 115km/h và mức tiêu thụ xăng là 25.5lít/100km.
Năm 1938-1939, seri ZIS 102 ra đời với vận tốc tối đa đạt 125km/h và lượng nhiên liệu tiêu thụ không đổi. Điều đặc biệt là dòng xe chống đạn của ZIS thường được sản xuất với số lượng ít. Tới năm 1945, ZIS cải tiến tốc độ xe lên tới 140km/h và giảm lượng nhiên liệu tiêu thụ còn 23lít/100km.
Năm 1945, ZIS 115 phiên bản kế tiếp của ZIS 110 được xuất xưởng với số lượng nhỏ 32 chiếc. Nếu nhìn bề ngoài chúng ta thấy rất ít điểm khác biệt giữa hai phiên bản liền kề này của ZIS. So với phiên bản 110, phiên bản mới sở hữu hệ thống đèn cải tiến hơn. Một chiếc đèn sương mù được đặt chính giữa cùng với hai chiếc đèn báo hiệu đặt hai bên giúp lái xe dễ quan sát khi đi trong những tuyến đường nhiều sương mù cũng như di chuyển dễ dàng trong đêm. Lốp xe ZIS 115 có kích thước lớn hơn phiên bản cũ, đường kính bánh xe là 17 inch (431.8mm) và chiều rộng của bánh xe là 5 inch (127mm). Trong phiên bản này đường viền trắng ở lốp xe cũng được bỏ qua. Đó là những điểm khác biệt chính bên ngoài so với phiên bản 110.
ZIS 115 có chiều rộng 2m; dài 6,2m và được bọc thép chống đạn I-100 dày tới 8mm; lớp kính dày 7,5cm làm cho chiếc xe có thể chống đỡ được đầu đạn và mảnh đạn của vũ khí hạng nhẹ. Đặc biệt hơn là gầm xe cũng được bọc lớp chống đạn nhằm đối phó với các loại bom mìn được cài ở mặt đất.
Không chỉ có vậy, nội thất bên trong xe cũng đặc biệt với lớp vải đắt tiền. Hệ thống cửa được bọc lưới và điều khiển lên xuống bằng thanh trượt. Xe cũng được trang bị hệ thống điều hòa không khí. Bộ phận làm lạnh được đặt dưới capo, luồng khí làm mát được truyền vào cabin từ hai bên cửa xe.
Vận tốc tối đa có thể đạt được của xe là 120km/h. Tuy nhiên để vận hành được khối thép khổng lồ này, ta cần tới 27lít nhiên liệu cho 100km.
Năm 1954, Đảng Cộng sản Liên Xô tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh một phiên bản của ZIS-115. “Pháo đài” di động với trọng lượng 2.575kg (khi không tải) và mã lực 53 này được vận chuyển theo đường sắt từ Liên Xô qua ga Bằng Tường-Trung Quốc để về tới Việt Nam. Theo tài liệu lưu trữ của Phòng Sưu tầm-Kiểm kê-Tư liệu, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, đồng chí Chấn, người Liên khu V, khi đó là Chánh văn phòng Trung ương Đảng cùng với hai đồng chí Hoàn và Dương được giao nhiệm vụ đi nhận xe. 
Các nhân chứng kể lại: “Đảng cộng sản Liên Xô còn tặng cả một thùng phụ tùng để sửa chữa xe khi xe hỏng. Quá trình vận chuyển xe về Hà Nội rất vất vả, có nhiều đoạn lầy lội các đồng chí phải kích để lấy đà cho xe đi lên”. Khi về đến Hà Nội, các đồng chí lái xe phải đi thử một thời gian đến tháng 12/1954 mới chính thức đăng kí với biển số HN481. Số máy 1102447. Xe bằng kim loại, dài 5m92, rộng 1m82 cao 1m75 (đo từ chính giữa). Trọng lượng xe khi không có hàng là 2575kg, mã lực 52, cửa kính dày 8cm. Phía trước có 3 đèn, đường kính 20cm, ở giữa gắn miếng kim loại có chữ “ZUC”. Bốn lốp xe bằng cao su màu đen, đường kính mỗi lốp xe là 77cm.
Trong thời gian đầu các đồng chí Hoàn, Hiếu và Dương phụ trách lái ZIS 115, sau đó xe được chuyển giao lại cho đồng chí Nền và Mùi. Trong thời gian phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1969 xe chạy được 15.788km.
1. Theo một bài viết trên trang Web và sách giới thiệu về hiện vật của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, “Sau hòa bình lập lại năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã gửi tặng Bộ Chính trị và Văn phòng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam hai chiếc ô tô được thiết kế và chế tạo đặc biệt dành cho các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Ngày 8/12/1954, Văn phòng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tiếp nhận chiếc xe mang số hiệu 001-Số đăng ký 707.
… Một trong hai chiếc xe đã được đưa về lưu giữ tại Bảo tàng Cách Mạng Việt Nam là chiếc xe dành riêng phục vụ Bác Hồ, mang biển số HN707. Chiếc xe còn lại phục vụ đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh và các đồng chí trong Bộ Chính trị.
 Xe HN 707 đã được dùng phục vụ Bác trong các chuyến công tác ngắn và dài ngày. Đây là chiếc xe được thiết kế và chế tạo đặc biệt, được bọc thép với cửa kính của xe dày 5cm có khả năng chống đạn do vậy có độ an toàn rất cao. Xe sơn màu đen, được thiết kế độc đáo: với động cơ 8 máy, đường kính xy lanh90, hành trình QN:118 và công suất: 140 mã lực. Khoảng cách từ bánh trước đến bánh sau: 3m76, xe có chiều dài 6m10cm. Xe ghi rõ năm sản xuất và ngày sử dụng:
Năm sản xuất:  1950
Ngày sử dụng: 8/12/1954
Ngày đăng ký: 12/8/1958
Chiếc xe này đã phục vụ Bác Hồ từ năm 1954 cho đến năm 1969, khi Người qua đời. Do đó, được gìn giữ như kỷ vật gắn liền với cuộc đời hoạt động của Bác suốt 15 năm  sau ngày Miền Bắc nước ta được giải phóng…
Là hiện vật có lịch sử đặc biệt quý hiếm chiếc xe mang biển số HN 707 được trưng bày trong khuôn viên của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.”
2. Trước đó, trong cuốn sách “Bác Hồ với chiến sĩ cảnh vệ” do Nhà xuất bản Công an Nhân dân xuất bản năm 2000, có bài “Những chiếc xe phục vụ Bác Hồ trong chiến tranh”, trích hồi ký của đồng chí Trần Hữu Diệt, do Cao Bá Sánh ghi có đoạn viết “Là lái xe nhiều năm trong lực lượng Cảnh vệ, niềm vinh dự lớn của tôi được nhiều lần lái xe phục vụ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Kỷ niệm sâu sắc nhất nhưngcũng là khuyết điểm để lại dấu ấn trong tôi nhưng ít người biết đến là lần để chiếc “Zik”của Bác đâm vào tàu điện. Hôm đó khoảng 3 giờ sáng ngày 27-7-1967 theo kế hoạch thì 7 giờ sáng Bác và Bộ Chính trị, lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ sẽ đặt vòng hoa và viếng ở nghĩa trang Mai Dịch. Hồi đó cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ ác liệt lắm. Có ngày Hà Nội phải báo động hàng chục lần. Có lần máy bay địch bị lực lượng phòng không của ta bắn bị thương, chúng vội phóng tên lửa trút bom bừa bãi để thoát ra biển Đông.
Theo kế hoạch bảo vệ thì hôm đó phải dùng tới chiếc “Zik” biển số Hà Nội-189 để đề phòng bất trắc. Vì chiếc xe này có cả một lịch sử khá lý thú. Đó là chiếc xe mà Nhà nước Liên Xô (cũ) tặng Bác khi miền Bắc lập lại hòa bình năm 1954, Bác và Trung ương Chính phủ về tiếp quản Hà Nội. Theo các đồng chí nước bạn kể lại thì chiếc xe đó đã được sản xuất bằng loại thép đặc biệt, có khả năng chịu lực cao. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, loại xe đó ở nước bạn chỉ có hai chiếc. Sau chiến tranh sản xuất thêm 3 chiếc nữa nhưng chỉ chuyên dùng để bảo vệ nguyên thủ nước bạn khi cần thiết. Bạn rất kính trọng Bác và cũng vì trách nhiệm quốc tế cao cả nên đã tặng Bác một chiếc như vậy. Trọng lượng chiếc xe nạng tới 3 tấn. Gầm xe được cấu tạo bằng loại thép chịu lực dán nhiều lớp, vỏ xe nóc xe cũng là những lá thép đặc chủng được dán ép bằng áp lực cao. Kính xe phía sau, hai bên và phía trước cũng là những lớp kính mỏng đặc biệt được dán ép lại có chiều dày tới 15cm, nếu bị mảnh bom bắn thẳng ở cự ly gần cũng không thủng. Xe nặng là vậy nhưng tay lái nhẹ bình thường như những chiếc xe du lịch khác. Chỉ khác là xe hơi dài, khoảng 4-5 mét và lốp đơn, suốt những năm sử dụng tôi chưa thấy phải bơm lần nào. Loại lốp đó nếu bị bắn vào vẫn chạy được bình thường. Bạn cũng cho biết bất cứ lúc nào cần phụ tùng thay thế bạn sẽ đáp ứng ngay. Anh em chúng tôi thường gọi đùa là cái “lô cốt thép di động”. Nó thiết thực góp phần bảo vệ an toàn Bác Hồ trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt..”.
Qua các tài liệu trên, chúng tôi thấy có những thông tin trùng nhau như: chiếc xe đã dùng để phục vụ Bác Hồ là do Đảng và Nhà nước Liên Xô trao tặng, được thiết kế và chế tạo đặc biệt để phục vụ các nguyên thủ nhà nước. Tuy nhiên vẫn có những thông tin không thống nhất về chiếc xe chống đạn đã được sử dụng phục vụ Bác Hồ cũng như về những người đã từng lái xe phục vụ Bác. Chúng tôi mong được các nhà nghiên cứu, bạn đọc đóng góp ý kiến, cung cấp thêm thông tin để hiểu đúng những chi tiết sau:
- Chiếc xe nào là chiếc xe chống đạn đã được sử dụng phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh: Xe mang biển số HN 707, HN 481 hay chiếc mang biển số HN189?
- Chiếc xe thứ hai trong tài liệu của tác giả Nguyễn Sỹ Nam được lưu giữ ở đâu, biển số như thế nào?
- Biển số HN 189 và HN 481 là của 02 chiếc xe, hay đó là hai biển số được sử dụng thay đổi cho 01 chiếc xe phục vụ Bác?
- Đồng chí Trần Hữu Diệt có phải là người đã từng lái chiếc xe chống đạn phục vụ Bác Hồ không hay đó là một biệt danh khác của một trong những đồng chí lái xe phục vụ Bác theo thông tin ở trang 92-94, Nội san Thông tin tư liệu số IX, tháng 5 năm 2011 do Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch xuất bản.
- See more at: http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=85&sitepageid=417#sthash.WmmMAfi9.dpuf

Đôi điều suy nghĩ về vấn đề bảo quản những chiếc xe ô tô Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng ở kho K80

 
Nguyễn Thị Xuân - Nguyễn Thị Tám
Phòng Bảo quản Di tích
Công tác Bảo quản hiện vật là một trong sáu khâu công tác quan trọng của nghiệp vụ Bảo tồn Bảo tàng, và đây cũng là khâu quyết định sự trường tồn của mỗi di tích nói chung và của khu Di tích Phủ chủ tịch nói riêng. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, để bảo quản, gìn giữ, luân chuyển các tài liệu, hiện vật phục vụ công tác trưng bày và phát huy tác dụng, những hiện vật này của Người hiện nay đang được lưu giữ ở kho K80. Đến năm 2010 cùng với dự án xây dựng nhà chiếu phim tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và hạng mục nhà làm việc của cán bộ Khu di tích, kho K80 được sửa lại phòng phía bên trái, để đưa hai chiếc ô tô đang bảo quản tại gara ô tô tầng 1 căn nhà hai tầng cạnh Di tích Phòng họp Bộ chính trị về với mục đích là kho mở.
 1 Chiếc xe COMMANCADRE  (GAT 450A) của Liên Xô sản xuất và viện trợ cho Việt Nam năm 1964. Xe được phân phối cho Bộ Y tế và được chuyển từ Bộ Y tế về Ty Y tế Đường sắt sử dụng một thời gian sau đó Ty Y tế mới giao xe cho Văn phòng Phủ Chủ tịch. Từ ngày 28/6/1965, xe được sử dụng để phục vụ Bác trong những chuyến Người đi thăm các địa phương xa Hà Nội. Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời chiếc xe ô tô đã được vào sổ kiểm kê bước đầu. Trước khi được giao về Văn phòng Phủ Chủ tịch, xe được sơn màu sữa, sau sơn lại màu phòng không ngụy trang với họa tiết vải rằn ri. Thân xe hình chữ nhật, rộng 1m62; dài 4m15; cao 1m80. Xe được làm bằng kim loại. Xe có 4 cửa (2 cửa trước và 2 cửa sau). Xe mang biển số HNA378, có số máy là 41230; công suất là 65 mã lực. Trọng lượng xe không tải hàng là 1735 kg. Đầu xe có 3 đèn pha, mỗi chiếc có đường kính 18 cm, 2/3 phía trên của đèn bọc sắt, sơn đen, có tác dụng làm giảm ánh sáng.
Hai đèn xi nhan có đường kính khoảng hơn 8 cm. Trên đầu xe có một khung sắt lợp lá cọ ngụy trang. Xe đã được bảo quản một lần vào năm 1976.
2. Chiếc xe M20 của Ba Lan sản xuất có tên gọi WARIZAWA, xe được nhập năm 1954. Ban đầu xe được sử dụng để phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau đó được chuyển sang Tòa án tối cao sử dụng một thời gian và từ ngày 15-10-1962 xe mới được chuyển lại về Văn phòng Phủ Chủ tịch. Xe được làm bằng kim loại, có 4 cửa (mỗi bên xe 2 cửa). Trọng lượng xe không tải là 1362 kg. Xe chở được khoảng 5 người với tổng tải trọng khoảng 250 kg. Công suất xe là 50 mã lực. Xe mang biển số HN 526.
Hiện nay hai chiếc xe đang được bảo quản ở gian phòng phía bên trái kho K80. Mặt trước và đầu hồi phía bên trái của kho đã được lắp bằng kính cường lực và treo rèm bên trong. Kho đã được đầu tư trang thiết bị bảo quản cần thiết như máy đo độ ẩm, nhiệt độ, máy điều hòa… để tạo môi trường ổn định cho việc bảo quản hiện vật. Tuy vậy, công tác bảo quản gặp rất nhiều khó khăn. Về mặt khách quan, khí hậu nước ta nắng nóng, mưa nhiều, độ ẩm cao lại luôn dao động như: năm 2015, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino và tình trạng biến đổi khí hậu khiến cho nhiệt độ tăng rất cao so với trung bình hàng năm. Hà Nội đã trải qua đợt nắng nóng kéo dài 31 ngày liên tiếp, đỉnh điểm là ngày 29/5 khi nền nhiệt ngoài trời lên đến 430C. Khi đó, vị trí tường bên trái kho do bị ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời hướng Đông chiếu xiên vào vách kính nên đến khoảng 13 giờ toàn bộ vách kính cường lực bên trái bị rạn, nứt hình mắt lưới, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường lưu giữ bên trong của hiện vật, gây ra hiện tượng rạn, nứt, bong lớp sơn phủ bề mặt trên thân xe ô tô.
 Chúng ta đều biết, nhiệt độ và độ ẩm có tác động rất lớn đối với các chất liệu hiện vật, nếu độ ẩm cao trong thời gian dài trên 70% thì sẽ gây tình trạng:
* Nấm và mốc hình thành trên những bề mặt giấy, da và những chất hữu cơ.
* Thay đổi tình trạng căng hoặc làm giãn các chiều của các chất liệu xenxulô, prôtêin,…
* Ăn mòn những chất có chứa sắt và hợp kim đồng.
* Ngưng tụ nước tổng hợp có hại trên bề mặt khi nhiệt độ ở xung quanh rơi xuống tới mức dưới độ ngưng.
Đối với những ngày có nhiệt độ cao, nắng nóng, các tài liệu hiện vật sẽ bị:
+ Khô và giòn (đối với những hiện vật bằng xenxulô, protein) và cong, vênh dẫn đến nứt và vỡ (đối với những hiện vật đồ mộc hay đồ vật có chứa gỗ).
+ Khô những lớp keo và những lớp bổ trợ.
+ Bong tróc những hiện vật bằng kim loại phủ sơn.
Hoặc là nếu nhiệt độ và độ ẩm luôn dao động hay thay đổi quá đột ngột, các tài liệu, hiện vật bằng giấy như sách, báo, bản đồ sẽ 
bị biến màu, giòn và dễ gãy, các hiện vật thuộc nhóm hữu cơ sẽ bị thay đổi tính chất màu, hiện vật bằng kim loại cũng có thể bị hư hỏng cơ học như nứt, lõm, gẫy, các hiện vật bằng gỗ sẽ bị giãn nở và co gây ra tình trạng cong vênh, vỡ, nứt. Vì vậy, một hiện vật có được bảo tồn trong tương lai hay không phụ thuộc phần lớn vào điều kiện nó được lưu giữ như thế nào? Môi trường mà nó tiếp xúc trong suốt quãng thời gian tồn tại.
Điều kiện tốt cho hiện vật kim loại ở kho, cần luôn duy trì khí hậu khô ráo ở nhiệt độ (t0) lý tưởng là 200C và độ ẩm (H%) tương đối 45-55% RH, để có thể giảm thiểu nguy cơ hư hỏng cơ học, giảm thiểu ăn mòn.
Do vậy, cần có một môi trường ổn định để làm chậm lại quá trình hư hỏng hiện vật, việc điều chỉnh môi trường khu vực lưu giữ hiện vật là việc làm có tầm quan trọng sống còn đối với sự an toàn hiện vật. Qua thực tế theo dõi nhiệt độ, độ ẩm của kho K80, chúng tôi thấy nhiệt độ trong kho luôn ở mức từ 21-250C, còn độ ẩm xê dịch ở biên độ từ 65- 85%.
Từ thực trạng của Kho K80, chúng tôi xin có một số kiến nghị, mong muốn được góp phần vào công tác bảo quản và gìn giữ tốt hơn hai chiếc ô tô nói riêng và các tài liệu hiện vật của Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch nói chung:
- Mặt trước cửa kho Ô tô nên lắp thêm cửa cuốn để tránh ánh sáng mặt trời và các yếu tố bụi bẩn, các chất ô nhiễm di chuyển trong không khí bằng đường khe cửa lọt vào trong đồng thời cũng góp phần vào việc bảo vệ an toàn hiện vật.

* Nên thay lại toàn bộ mành cuộn kiểu kho mở như hiện nay bằng các tấm rèm vải dày màu tối.
* Mặc dù, vách kính tường bên trái kho sau khi rạn nứt đã được tháo dỡ và khắc phục bằng tường gạch, nhưng nếu điều kiện cho phép nên lắp đặt lớp cách nhiệt ở mặt tường bên trái kho nhằm giảm tác động hun nóng của mặt trời và sự thay đổi đột ngột của thời tiết theo mùa.
* Cần lắp thêm thiết bị hút ẩm và quạt thông gió để xử lý độ ẩm và đẩy các tạp chất khí trong nhà.
* Cần lắp đặt hệ thống kỹ thuật bảo quản như đã triển khai ở di tích Nhà 54 và Nhà trưng bày xe ô tô để không khí, nhiệt độ và độ ẩm kho được duy trì ở chế độ chuẩn bằng hệ thống kỹ thuật hiện đại, đồng bộ có độ tin cậy cao.
* Cần đầu tư bồi dưỡng và đào tạo chuyên sâu để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ bảo quản đủ khả năng đáp ứng nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
* Cần làm tốt hơn nữa công tác nghiên cứu bảo quản khoa học.
Trên đây là một số suy nghĩ nhỏ của chúng tôi trước vấn đề lớn: Bảo vệ, bảo quản gìn giữ các hiện vật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại mãi trường tồn theo thời gian.
- See more at: http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/articledetail.aspx?articleid=863&sitepageid=543#sthash.QMSUNNbU.dpuf

Tìm hiểu về tác giả Trần Dân Tiên

Tìm hiểu về tác giả Trần Dân Tiên

Nguyễn Thị Thu Hằng
Phòng HC-TH
Cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch xuất bản lần đầu tiên tại Trung Quốc, sau đó là tại Paris (Pháp) và đến năm 1955 mới được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Hà Nội, sau đó được tái bản nhiều lần.
Trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (8) năm 1990, trong bài viết “Bài thơ chữ Hán đầu tiên của Hồ Chí Minh”, tác giả Phác Can, có một ghi chú về cuốn sách của Trần Dân Tiên như sau: “Ngoài các bản tiếng Việt, cuốn sách này ở Việt Nam hiện còn có bản dịch Trung văn, mang tiêu đề Hán là Hồ Chí Minh truyện (Tiểu sử Hồ Chí Minh) ghi tên tác giả bằng chữ tiếng Việt là Trần Dân Tiên, ghi tên người dịch bằng chữ Hán là Trương Niệm Thức, Bát nguyệt xuất bản xã ấn hành tại Thượng Hải, do công ty hữu hạn ấn loát Gia Hoa in lần thứ nhất vào tháng 6/1949 dưới thời Tưởng Giới Thạch.”
Tác giả cuốn tiểu sử nổi tiếng trên là Trần Dân Tiên, đây cũng là tác phẩm duy nhất đã được biết đến của tác giả này. Mục đích cuốn sách ra đời vào thời điểm đó để trả lời câu hỏi “Hồ Chí Minh là ai?”. Thông qua lời kể của một nhà báo có bút danh Trần Dân Tiên, người đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào những ngày đầu nước nhà độc lập, cuộc đời của nhà cách mạng và là người đứng đầu nhà nước Việt Nam độc lập được kể lại qua “những mẩu chuyện” như tên gọi của sách. Có lẽ việc xây dựng và củng cố hình ảnh về lãnh tụ Hồ Chí Minh được hình thành khởi đầu từ cuốn sách này vì trước đó cái tên Hồ Chí Minh rất mơ hồ với nhiều người với các tên gọi khác nhau. Qua cuốn sách này, tác giả muốn nhấn mạnh rằng tất cả các bí danh đó đều cùng là một người duy nhất – Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, hay Hồ Chủ tịch. Nội dung cuốn sách viết về Hồ Chủ tịch với các chi tiết sống động khiến độc giả thích thú, trừ cái tên Trần Dân Tiên là gây nhiều tranh cãi. Tác giả Trần Dân Tiên thực sự là ai? Những ý kiến về vấn đề này được chia làm hai luồng: Luồng ý kiến thứ nhất dựa vào phong cách của Hồ Chí Minh, đó là không bao giờ tự nói về mình, cho rằng cuốn sách này không phải do Hồ Chí Minh viết. Luồng ý kiến thứ hai cho rằng Trần Dân Tiên chính là một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đối với luồng ý kiến thứ nhất
Theo lời kể của ông Nguyễn Khôi (1), nguyên Phó Vụ trưởng Văn phòng Quốc hội, thì cuốn sách ra đời trong lúc cả trong nước và ngoài nước, cả kẻ địch và nhân dân đều ít ai biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà chỉ biết Nguyễn Ái Quốc, vì thế theo sáng kiến của ông Hoàng Quốc Việt, Thường vụ Trung ương Đảng gợi ý cho ông Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền viết giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, ông Trần Huy Liệu giao cho ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký trợ lý của Bác chắp bút, xong bản thảo thì ông Trần Huy Liệu sửa, viết bổ sung rồi qua các ông Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh đọc duyệt cho ý kiến để hoàn thiện, xuất bản. Tên bút danh Trần Dân Tiên có ý nghĩa: người công dân đầu tiên họ Trần của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Họ Trần có thể là gợi nhắc về gốc gác của những người chắp bút (Vũ Đình Huỳnh, Trần Huy Liệu, Trường Chinh) đều là người quê Vua Trần - Trần Hưng Đạo (Nam Định)? Ở thời điểm ấy bận trăm công nghìn việc, thù trong giặc ngoài như thế thì Bác làm sao mà ngồi chắp bút viết về mình được? Hơn nữa, Hồ Chủ tịch là người bình sinh khiêm tốn không khi nào muốn nói về mình (2).
Tuy nhiên đó cũng chỉ là những chuyện kể mà ông Nguyễn Khôi nghe được ở các vị thủ trưởng, các bậc đàn anh nói chuyện với nhau qua những lần tiếp xúc trong những câu chuyện dọc đường công tác kể chuyện về Bác, không phải là cứ liệu trên giấy trắng mực đen. 
Đối với luồng ý kiến thứ hai
Trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tác giả Trần Dân Tiên đã chọn cách tìm gặp gỡ những người đã từng quen biết với Hồ Chí Minh để hỏi chuyện, thu thập tài liệu rồi viết nên tác phẩm này, nhưng người ta tin rằng thực ra nó là tự truyện. Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức năm 1985 từng viết rằng: “...Đáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào, và của bạn bè trên thế giới, Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Thật là khó khăn để trong khuôn khổ 150 trang sách nhỏ, có thể nói được về cuộc đời của người chiến sĩ yêu nước vĩ đại của dân tộc trên suốt nửa thế kỷ đấu tranh…” (3). Ông Hà Minh Đức chú thích rằng thông tin này được lấy từ cuốn Những sự kiện lịch sử Đảng, nhà xuất bản Sự Thật, năm 1976, tập 1, trang 672. Và sau một phần tư thế kỉ, trong cuốn sách Sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh, trang 316, nhà xuất bản Khoa học xã hội 2010, ông vẫn giữ nguyên quan điểm từ năm 1985.
Mặt khác, trong bài viết Việt Nam, nhận thức và ứng xử với vấn đề tôn giáo của tác giả Mạc Thủy đăng trên tạp chí Cộng sản điện tử có đoạn: “...Còn nhớ những quan điểm rất rộng mở của Trần Dân Tiên - Hồ Chí Minh: “Khổng Tử, Giê-su, Các Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải có cùng một điểm chung đó sao....” (4).
Trước lời giới thiệu về cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, in lần thứ hai, năm 1976, trước  phần kể chuyện của Trần Dân Tiên, nhà xuất bản Sự Thật - cơ quan xuất bản văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam - đã viết lời dẫn nhập như sau: “... Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới…”. Nhà xuất bản không thể không biết rõ lai lịch của cuốn sách, lý lịch của người viết vì nếu không biết tác giả cuốn sách là ai thì không thể in trong nước và để các nhà xuất bản nước ngoài xuất bản rộng rãi bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Hơn nữa, một khi sách đã xuất bản thì dù tên tác giả có là bút danh chăng nữa thì cũng cần có một người thực với tên tuổi rõ ràng để nhà xuất bản trả nhuận bút.
Đôi điều trao đổi
Theo luồng ý kiến thứ nhất, Trần Dân Tiên là một nhà báo thì không có gì phải bàn luận.
Theo luồng ý kiến thứ hai, có thể lí giải:
Vào thời điểm những năm 1940, hiểu biết về thân thế của Hồ Chủ tịch rất ít, do vậy, cần có một tài liệu tuyên truyền trong nhân dân trong nước và giới thiệu với bạn bè quốc tế về những hoạt động cách mạng của Người. Lúc bấy giờ Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa được Liên Xô công nhận, còn nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì đến tháng 10/1949 mới được thành lập. Do đó, tài liệu này một mặt để tuyên truyền về cuộc cách mạng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản Việt Nam, mặt khác tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ra đời trong hoàn cảnh như thế, cuốn sách đã rất có ích cho cách mạng Việt Nam, là câu trả lời cho những người quan tâm muốn biết Hồ Chủ tịch là ai?
Ông Vũ Kỳ - thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngay sau những ngày đầu thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi, cũng từng nói rằng Bác Hồ không muốn nhắc nhiều đến bản thân mình. Xuất bản một cuốn sách nói về mình, thiết nghĩ Hồ Chủ tịch cũng không muốn nhưng Người cho rằng đó là một điều cần làm trong hoàn cảnh lịch sử ấy. Bất cứ cuộc cách mạng nào cũng cần có một lãnh tụ, hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ vấn đề này. Mặt khác, khi Trung ương Đảng đã quyết định lựa chọn để suy tôn Người, là một Đảng viên, việc Người chấp hành quyết định của tổ chức là điều đương nhiên. Vào thời kỳ bấy giờ, nhằm mục đích tuyên truyền về cuộc kháng chiến của dân tộc và người lãnh đạo cuộc cách mạng, có nhiều văn nghệ sỹ cũng đã vinh dự được giao nhiệm vụ khắc họa chân dung Bác như nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm, Diệp Minh Châu, nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn, họa sĩ Phan Kế An, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định và các nhà điêu khắc của Đức, Nga… Thấu hiểu đây cũng là một yêu cầu chính trị quan trọng như những nhiệm vụ khác, nên Người thường chủ động tạo điều kiện cho các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà báo, quay phim có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất. Tuy nhiên ở thời điểm vận nước nguy nan như thế, nhiều khả năng Chủ tịch Hồ Chí Minh không có thời gian để chắp bút mà có thể là những cán bộ thân cận, cốt cán nghe Bác kể những mẩu chuyện, những tâm sự của Người, sau đó ghi chép lại, tập hợp thành cuốn sách. Trong hoàn cảnh rất ít người biết về cuộc đời và những hoạt động cách mạng của Bác thì còn ai kể chính xác hơn chính bản thân Người?
Về cách dẫn dắt câu chuyện trong vai một nhà báo muốn tìm cách phác họa chân dung Hồ Chủ tịch, theo quan điểm của tác giả bài viết này, có thể đó là sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nên hiểu đó chỉ là một cách tác giả lựa chọn để đưa độc giả đi vào nội dung cuốn sách một cách tự nhiên. Khi viết truyện ngắn Vi hành nhân chuyến đi Pháp của vua Khải Định, Nguyễn Ái Quốc đã từng dùng hình thức nhập vai một người anh gửi thư cho cô em họ, kể lại những điều tai nghe mắt thấy về chuyến đi của Khải Định; trong loạt bài Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, Người lấy bút danh là Đ.H, viết thư cho hai cô em Xuân và Lan, kể rằng mình được theo Cụ Hồ sang Pháp, đồng thời ghi lại hành trình để cho các em mình biết; trong truyện ngắn Giấc ngủ mười năm, lấy bút danh Trần Lực, Bác nhập vai một anh Vệ quốc quân người dân tộc Nùng; trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, với bút danh T.Lan, Bác lại vào cả hai vai người hỏi chuyện – người trả lời.
Về những dòng ca ngợi Hồ Chủ tịch trong cuốn sách, theo quan điểm của tác giả bài viết này, đó là do những đồng chí biên tập các câu chuyện đã viết thêm vào để tuyên truyền, định hướng trong nhân dân và giới thiệu với bạn bè quốc tế biết tình cảm kính yêu của nhân dân Việt Nam đối với vị lãnh tụ cách mạng của dân tộc.
Lời kết còn bỏ ngỏ?
Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh thì trong 170 bút danh, bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ hoạt động và 17 bí danh, bút danh đang được nghiên cứu xác minh thêm cũng không có tên Trần Dân Tiên. Bởi vậy, đây có thể là bút hiệu của một tập thể tác giả? Nếu đúng như vậy, việc hình thành tác phẩm, từ ý tưởng tới bản thảo đầu tiên đến tác phẩm hoàn thành, là một quá trình làm việc của cả một tập thể trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là người xem xét sau cùng để chỉnh lại cho đúng những chi tiết còn chưa chính xác. Bài viết nổi tiếng Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân tháng 2/1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được hình thành qua những bước tương tự. Bản thảo lần thứ nhất do đồng chí Tố Hữu chuẩn bị theo yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ cuối năm 1968. Sau khi bản dự thảo lần đầu được sửa chữa, Người cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị yêu cầu nghiên cứu và góp ý kiến. Bước thứ ba hình thành bản thảo là tập hợp các ý kiến góp ý của các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, bổ sung và sửa lần cuối để hoàn thành.
Tuy chưa thể khẳng định tác giả đích thực của cuốn sách nhưng không thể phủ nhận rằng giá trị của cuốn sách đối với những nghiên cứu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, ngày càng có nhiều sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch vẫn được coi là cuốn sách đầu tiên, được tin cậy nhất và sách này luôn được tham khảo như một nguồn tư liệu gốc. Hầu hết mọi người cho rằng nguồn tin của nhà nghiên cứu Hà Minh Đức là chính thống nên chắc hẳn là chính xác. Tuy nhiên nhiều đối tượng thù địch, phản động, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam vớ được mẩu thông tin này lại như thể mèo mù vớ được cá rán. Chúng vin vào những dòng ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sách để nêu những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt thông tin sai lệch nhằm bôi nhọ hình tượng Hồ Chí Minh, nhưng tất cả những âm mưu đó đều thất bại.
Trong tác phẩm - công trình nghiên cứu kéo dài hơn 10 năm, mang tên Hồ Chí Minh - The Missing Years (tạm dịch là “Hồ Chí Minh - Những năm tháng chưa được biết đến”) của Tiến sỹ triết học và lịch sử người Mỹ Sophie Quinn-Judge có đánh giá cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch như sau: “Tuy nó được dựa trên sự thật, những điều nó bỏ qua hay tô vẽ thêm, và việc khẳng định phẩm chất vô sản của Hồ Chí Minh đã biến cuốn sách thành một yếu tố tạo ra huyền thoại về ông hơn là một sử liệu nghiêm túc” (5).
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về cuốn sách như sau: “Cuốn sách ấy không thể nói là đã “làm thay đổi cuộc đời tôi”, song đã tạo một cái hích nhẹ và hướng tôi bước vào ngả đường nghề nghiệp mà vào thời điểm đó tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Cuốn sách “không phải là sử” ấy thật sự gây ấn tượng với tôi. Sau này khi đã thâm niên trong nghề nghiệp, tôi có nhiều cơ hội đọc và gặp nhiều người nước ngoài, có người thuần túy là nhà nghiên cứu, có người là nhân chứng lịch sử, cũng có người là cả hai. Tôi đã nghe và đọc được rất nhiều cách tiếp cận, đánh giá khác nhau về cuốn sách này và nhân vật của sách. Cuốn sách nhỏ thật sự đã “dẫn tôi vào đời” nghề nghiệp để hướng tới cái khao khát muốn tìm ra những gương mặt thật đã tạo nên một lịch sử thật”(6).
Cuốn Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch từ khi được xuất bản lần đầu vào cuối thập kỷ 1940 đến nay đã qua gần bảy thập kỷ, được nhiều nhà xuất bản tái bản rất nhiều lần. Cuốn sách trở thành một trong những tác phẩm quan trọng nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cung cấp nhiều tư liệu về cuộc đời hoạt động của Bác từ những ngày thơ ấu, về quê hương, gia đình, về quá trình ra đi tìm đường cứu nước đến những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, trong đó nhiều chi tiết là tư liệu gốc hoặc duy nhất. Tác phẩm đã khẳng định hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và trở thành cẩm nang cho nhiều nhà nghiên cứu cũng như độc giả trong, ngoài nước.
Chú thích:
(1) Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, tác giả Cổ pháp cố sự, Chuyện làng Đình Bảng xưa
(2) Website Tạp chí Văn hóa Nghệ An http://vanhoanghean.vn
 (3) Hà Minh Đức, Tác phẩm văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr132
(4)  Website Tạp chí Cộng sản http://www.tapchicongsan.org.vn
 (5) Hồ Chí Minh: The Missing Years (1919-1941), University of California Press, Berkeley Los Angeles 2002, tr255
(6) Chuyên mục “Quyển sách thay đổi cuộc đời”, website báo Tuổi trẻ
- See more at: http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=631&sitepageid=417#sthash.5YuxOTqf.MPKf2MeW.dpuf

Trao đổi thêm về quãng thời gian "trống" trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trao đổi thêm về quãng thời gian "trống" trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh

16 Tháng Mười Hai 2015 2:15 CH
GS SONG THÀNH*

Bookmark and Share

Hình ảnh của HV99 - Trao đổi thêm về quãng thời gian "trống" trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sơ lược bài "Về một quãng thời gian "trống" trong tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh" của tác giả Quốc Phong, đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 464, tháng 10-2015

Phần đầu bài viết, Quốc Phong căn cứ “vào các hiện vật gốc của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh” và theo các sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (của Trần Dân Tiên), Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử (NXB Sự Thật, 2006), điểm lại 3 sự kiện hiếm hoi trong 4 năm hoạt động đó của Bác Hồ: năm 1914, Nguyễn Tất Thành từ Anh gửi thư cho “Nghi bá đại nhân” (Phan Châu Trinh); năm 1915, Nguyễn Tất Thành (ký tên “Paul Thành”) viết thư cho Toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn nhờ chuyển cho cha đang sống ở Nam kỳ và năm 1917, Nguyễn Tất Thành rời Anh trở lại Pháp.
Phần tiếp, tác giả đặt vấn đề và đưa ra dẫn chứng từ cuốn sách Hồ Chí Minh với nước Nga (NXB Chính Trị Quốc Gia, 2013) và “từ những nguồn đáng tin cậy” về việc trong khoảng thời gian nói trên, Bác Hồ còn một hoạt động đáng chú ý khác: “Làm lính (tại) Pháp (vào thời gian) 1914-1918”.
Dẫn chứng từ sách Hồ Chí Minh với nước Nga, Quốc Phong nói đến “bản khai lý lịch được lập theo lời của chính Nguyễn Ái Quốc khai ngày 16-9-1934 để đến tháng 10 năm đó được nhập học Trường Quốc tế Lenin, với bí danh Linôp (Linof) có năm sinh là 1894”.
Dẫn chứng từ “những nguồn đáng tin cậy”, tác giả cho biết rằng đã được nghe thuật lại phần nào “lời trăn trối” của ông Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác Hồ) về việc Bác từng “đi lính thay cho con trai của Vua Bếp A. Escoffier, người Pháp, khi đó làm việc ở khách sạn Carlton, London, Anh với lời hứa sẽ giữ kín vụ việc này”. Người thuật lại cho tác giả nghe là TS Nguyễn Thị Tình, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh.
H.V.
Vừa qua, tạp chí Xưa & Nay số 464 (tháng 10-2015) đăng bài Về một quãng thời gian “trống” trong tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh của tác giả Quốc Phong, trong đó công bố một tư liệu liên quan đến tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhiều bạn đọc quan tâm. Đó là một việc làm mạnh dạn, đáng hoan nghênh, bởi ở thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, người đọc có nhu cầu được tiếp cận với những sự thật lịch sử (chi tiết, số liệu, sự kiện, nhân vật) đã diễn ra trong quá khứ, có liên quan đến vận mệnh của quốc gia - dân tộc, để có thể nhận thức và đánh giá lại đúng-sai, công-tội một cách khách quan và công bằng hơn. Trước đây, nhiều nước quy định thời gian bạch hóa thông tin - dữ liệu mật quốc gia là sau 50 năm, rồi rút xuống 20 năm, nay nhiều nước quy định chỉ còn 10 năm, thậm chí như vừa qua ông cựu Thủ tướng Anh Tony Blair đã công bố sai lầm của Chính phủ Anh trong cuộc chiến tranh Iraq (thời ông làm Thủ tướng) chỉ sau có 7 năm.
Hy vọng rằng qua sự việc này, giới sử học sẽ kiến nghị với Quốc hội nên sớm ban hành Luật giải mật thông tin quốc gia, sau bao nhiêu năm thì người dân có quyền đòi hỏi nhà nước công bố cho biết sự thật về những sự kiện và con người mà họ cần được biết, vì trên thực tế, chúng xảy ra đã quá lâu, chẳng còn gì là “bí mật”, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia nữa!
* * *
Trở lại vấn đề đặt ra, tôi vừa hoan nghênh, vừa muốn trao đổi thêm đôi điều với tác giả bài báo và tạp chí Xưa & Nay, nhằm giúp bạn đọc nhận thức được vấn đề bài báo nêu lên một cách đầy đủ và gần với sự thực hơn.
1. Về bản Lý lịch cá nhân của Nguyễn Ái Quốc, bí danh Lin, in trong bài báo
Hồ sơ, lý lịch Nguyễn Ái Quốc lưu ở Quốc tế Cộng sản rất nhiều, được ông khai ở những thời điểm khác nhau (1923, 1924, 1927, 1934, 1935, 1936, 1938…), tuy cơ bản là giống nhau nhưng cũng có đôi điều sai lệch, có khi ngược nhau, vì những lý do nào đó, nên cần được xem xét, đánh giá một cách thận trọng.
Rõ ràng bản chụp lý lịch in trong bài viết đã đăng, ngay trên dòng đầu đã ghi rõ là Lý lịch cá nhân của Nguyễn Ái Quốc, bí danh Lin, cuối trang cũng ghi rõ thiết lập dựa trên lời khai của đồng chí Lin, nội dung lời khai kết thúc ở năm 1927 (khi xảy ra phản biến của Tưởng Giới Thạch tháng 4-1927, ông Nguyễn phải theo phái bộ Bôrôđin trở về Mátxcơva)(1), ngày tháng khai là 16 tháng 9 và chữ ký của người thiết lập là Zêrốpxki; thế mà tác giả bài viết lại cho rằng đây là bản lý lịch Nguyễn Ái Quốc khai ngày 16-9-1934 (tức 7 năm sau) với bí danh Linốp để vào học Trường Quốc tế Lênin! (Nếu thế, bản lý lịch này phải bổ sung nhiều sự kiện hơn nữa: về thời kỳ hoạt động ở Xiêm, việc hợp nhất các nhóm cộng sản, lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vụ án Hồng Kông). Nói cách khác, bản khai năm 1934, sau khi ra khỏi nhà tù Victoria ở Hồng Kông rồi thoát khỏi Thượng Hải, về được Mátxcơva, thì có nhiều vấn đề rắc rối, phức tạp mà ông Nguyễn phải giải trình kỹ hơn nhiều.
2. Về sự kiện Paul Thành tình nguyện đăng lính tại Anh
Với đa số bạn đọc trẻ, sự kiện này có vẻ lạ, hơi “giật gân”, nhưng trong giới nghiên cứu, không cần đến lời “trối trăng” của ông Vũ Kỳ với nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Tình mới được biết, mà họ đã biết từ lâu, do chính Cụ Hồ viết ra. Vấn đề là còn phải tìm hiểu, xác minh xem việc tình nguyện đăng lính đó có trở thành hiện thực hay không.
Trong bản thảo đầu tiên của cuốn Tiểu sử Hồ Chủ tịch (tiền thân của cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch công bố sau này), ở trang bìa ghi là do Xuân Hiên dịch, dự đoán là được khởi thảo khoảng năm 1947 (vì ở trang 5 có câu: Chủ tịch sinh năm Tân Mão, nghĩa là năm 1891, năm nay là năm Đinh Hợi, vậy Chủ tịch đã 56 tuổi). Ở trang 22 (bản thảo đánh máy này gồm 126 trang khổ A4, hiện lưu tại Viện Lịch sử Đảng), có viết về sự việc nhập ngũ này như sau:
“Chiến tranh thế giới bùng nổ! Nhận được tin tuyên chiến, ai nấy đều phấn khởi, chen chúc nhau trước Điện Buckingham, tung hô Hoàng đế và Hoàng hậu. Người ta vỗ tay hoan hô những binh sĩ sắp đi ra chiến trường. Cả dân tộc reo mừng như ngày hội… Nhưng lòng hân hoan không mấy chốc đã nhường chỗ cho lo lắng. Người Pháp ở Luân Đôn cũng nhận được lệnh tòng quân. Nhiều người khóc, nhất là đàn bà”…
“Ba rủ tôi cùng tình nguyện nhập ngũ vào quân đội Anh. Tôi bảo Ba: Chắc bạn không điên chứ! Vào quân đội là đi đánh nhau, là đi vào chỗ chết, có phải trò đùa đâu!
“- Chúng ta phải tranh đấu cho tự do của các dân tộc khác gần như là tranh đấu cho dân tộc ta vậy”…
“Thấy tôi vẫn giữ vững lập trường, Ba đi một mình đến phòng tuyển lính. Nhưng Ba không đạt vì thiếu điều kiện. Ba trở về buồn lắm. Sau cùng, Ba đem số tiền dành dụm của mình hiến vào quỹ lạc quyên của Hoàng tử xứ Galles”.
Năm sau, bản thảo cuốn Tiểu sử Hồ Chủ tịch được sửa sang thêm, đánh máy lại, trình bày đẹp, sáng sủa, mượt mà hơn, tuy nhiên đoạn văn trên vẫn được giữ nguyên. Đây là bản được Trương Niệm Thức dịch sang Trung văn, in ở Thượng Hải tháng 6-1949, với tên Hồ Chí Minh truyện. Hiện nay ta vẫn chưa được biết Trương Niệm Thức - người dịch, là ai, Tàu hay ta, chỉ biết rằng trong chuyến đi Nam Kinh năm đó, có những người Việt sống lâu ở Tàu, rất giỏi Trung văn, như Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Đức Thụy, còn gọi là Thụy Tàu. Bản dịch rất trung thành, tuy đôi chỗ chưa dịch thật đúng ý tác giả. Cuốn này hiện vẫn lưu trữ trong Thư viện Quốc gia Hà Nội. (Tiếc rằng, khi cuốn Tiểu sử này được công bố ở Việt Nam lần đầu năm 1955 với tên mới Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, trải qua nhiều lần biên tập của giới tuyên huấn đầy thẩm quyền thời bấy giờ, cuốn sách đã bị lược bỏ đi nhiều nội dung quan trọng, rất có giá trị đối với nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay. Theo tôi, nếu thật sự tôn trọng Cụ Hồ, nếu có tái bản lần tới đây, ở thời điểm hiện nay, nên phục hoàn lại nguyên cảo của tác giả, như vậy sẽ giải minh cho nhiều điều hiện đang bị hiểu sai về Cụ, và như thế cũng sẽ trung thực với lịch sử hơn).
Qua đoạn văn được dẫn ở trên, ta thấy việc anh Ba tình nguyện tòng quân đâu phải là để trả nghĩa cho lòng tốt của ông đầu bếp Escoffier đối với cá nhân mình, mà phải thấy đó là một nghĩa cử đầy tinh thần quốc tế cao cả và trong sáng. Theo tôi, về sự kiện đăng lính này chưa đủ căn cứ để khẳng định và lý giải thuyết phục cho những băn khoăn dưới đây:
- Đăng lính vào quân đội Anh, thời gian từ 1914 đến 1918, mà lại ghi địa điểm là ở Pháp? Nếu vậy, trong những năm đóng quân và chiến đấu ở Pháp sao không thấy có thư từ liên lạc hoặc cuộc viếng thăm nào đến Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… trong các năm ấy?
- Chiến tranh kết thúc, đang ở Pháp, lý do nào khiến anh Ba lại phải đi làm bồi bàn tận bên Mỹ, đi và về bằng cách nào, tiền đâu mà mua vé, phải đâu chỉ như vượt biển Manche có vài chục kilômét, mà phải vượt qua 2 đại dương, vào lúc không còn là bồi tàu, thủy thủ như ngày xưa? Có tư liệu nào khác xác nhận sự kiện này không? Theo Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử tập 1 (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006), anh Thành chỉ đi Mỹ có một lần, khi nhận làm phục vụ trên tàu chở hàng, tới New York vào giữa tháng 12-1912, vài tháng sau lại theo tàu trở về Le Havre, rồi sang Anh. Sự kiện này được xác nhận bởi bức thư Nguyễn Tất Thành từ Mỹ gửi cho Khâm sứ Trung kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha là ông Nguyễn Sinh Huy. Thư còn kèm theo địa chỉ hòm thư lưu của anh Thành ở Số 1, đường Đô đốc Courbet, Le Havre, nước Pháp. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh ở nước ngoài (như Sophie Q. Judge) cũng tỏ ra không tin có sự kiện Nguyễn Ái Quốc đi Mỹ năm 1918-1919 (một điều rất khó thực hiện đối với hoàn cảnh Nguyễn Ái Quốc lúc ấy) rồi sau đó mới trở lại Paris đưa yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles ngày 18-6-1919, nên họ chỉ coi đó như là một động thái tuyên truyền của ông Nguyễn nhằm khuếch trương hoạt động của nhóm người Việt Nam yêu nước ở Paris khi ấy mà thôi.
Theo tôi, những sai lệch khi thiết lập tờ khai cũng dễ hiểu: một là khi đó (1927) ông Nguyễn chưa thật thạo tiếng Nga (ngay cả khi vào Trường Quốc tế Lênin năm 1934, ông vẫn theo học ở Ban tiếng Pháp); người hỏi bằng tiếng Nga, người trả lời bằng tiếng Pháp, sai lệch có thể xảy ra. Hơn nữa, đây chỉ là tờ khai khi vừa từ nước ngoài trở lại Mátxcơva, có tính chất thủ tục, cũng chẳng có dấu má xác nhận gì, nội dung khai cũng ngắn gọn, không thật cụ thể, chi tiết.
Điều này hoàn toàn khác với việc ông Nguyễn phải trả lời tới 40 câu hỏi trong bản khai khi mang tên mới Linof, hồi tháng 9-1934, để vào học Trường Quốc tế Lênin, đặc biệt là trong bản khai ngày 25-5-1936, có câu hỏi số 15: Có tham gia quân đội không, chức vụ gì? Câu trả lời là: Không (nghĩa là khác với lời khai ngày 16-9-1927).
Vì vậy, nếu cho rằng: sở dĩ trong các năm 1914-1918, vì anh Thành đi lính nên trong “Biên niên tiểu sử” có khoảng “trống” là một suy luận không có cơ sở. Ta được biết rằng thời gian đó, ở Paris, anh Thành chỉ có 2 người đồng bào quen thuộc là cụ Phan Chu Trinh và ông Phan Văn Trường. Chiến tranh nổ ra, cả hai ông đều bị nhà cầm quyền Pháp bắt giam vào ngục Santé, sau khi được thả ra, cụ Phan bị Pháp cắt trợ cấp, phải đi xuống một tỉnh phía Nam làm ảnh để sinh sống, ông Trường phải chuyển sang tỉnh Mayence làm luật sư, anh Thành mất địa chỉ liên lạc, nên thư từ không biết gửi về đâu, nếu có thì cũng đã bị một người Việt khác giữ hộ, do hai ông Phan bị bắt, sợ liên lụy, nên sau đó anh ta đã đốt đi.
Vậy trong thời gian 4 năm đó, nếu không đi lính, anh Thành làm gì và ở đâu, trước khi trở lại Pháp? Đây là một vấn đề đang được các nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở nước ngoài quan tâm, ra sức tìm kiếm, nhưng vẫn chưa có thông tin gì mới. Gần đây, báo chí Anh đưa tin: ông Martin Evans, giáo sư sử học châu Âu hiện đại tại University of Sussex (miền Nam nước Anh) có nói với BBC rằng ông mới được nghe một sự kiện mới: Hồ Chí Minh đã từng làm người nấu bếp và chuyên làm bánh trên chuyến phà nối Dieppe (Pháp) với Newhaven (Anh), vào thời gian ngay sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Có thể ông ấy đã nghe nói về chương trình 14 điểm của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson và Hòa hội Versailles, nên trong lúc tìm đường đến Paris, ông đã dừng lại đây một thời gian. Ông giáo sư nói chưa xác định được chính xác thời gian là bao lâu, nhưng đã làm việc với Hội đồng địa phương, và họ coi đây là một sự kiện lớn đối với Newhaven, muốn dựng tượng Hồ Chí Minh tại nơi đây để thu hút du khách, nhưng việc có nên dựng tượng hay không vẫn là điều đang còn tranh cãi(2).
Nhân đây, tôi cũng xin hé ra một nguồn tin, để các nhà nghiên cứu và bạn đọc có điều kiện thì đi sâu tìm hiểu, làm rõ thêm. Ở nước Anh, hiện có một bảo tàng tư nhân về Hồ Chí Minh mà còn rất ít người - nhất là người Việt Nam - được phép tiếp cận, vì chủ nhân muốn giữ bí mật, rất ngại bị làm phiền. Tôi có một người bạn cùng học thời trẻ, tốt nghiệp đại học tiếng Anh, tham gia quân đội, sau Hiệp định Paris, được cử vào Ban Liên hiệp quân sự 4 bên, trong Trại Davis ở Tân Sơn Nhất. Trước đó, hàng năm Chính phủ Anh vẫn có tài trợ một số học bổng cho chính quyền Sài Gòn để cử người đi tu nghiệp, nâng cao về tiếng Anh. Khi chính quyền về ta, số học bổng ấy vẫn chưa được phân phối hết, anh bạn sĩ quan của tôi may mắn được cử đi. Nơi học do họ chỉ định, trao một ngân phiếu đủ chi cho cả năm, còn ăn ở thì cho tự do tìm lấy theo sở thích. Bạn tôi may mắn được một gia đình người Anh ở thành phố thủ phủ của vùng Scotland, cho ở thuê. Khi biết anh nguyên là bộ đội giải phóng, lính của Cụ Hồ, thì họ lại càng quý hơn, coi như khách trong nhà, lễ tết, tiệc tùng nào họ cũng mời tham dự.
Noël năm ấy, chủ nhà mở tiệc mời bạn bè đón Giáng sinh, có nói trước với anh bạn tôi: “Tôi rất quý ông, vì ông là lính của Cụ Hồ - người mà chúng tôi rất kính trọng, người đã từng sống và làm việc ở Anh trong một số năm. Trong số thực khách đêm nay, tôi có mời vợ chồng ông bạn thân ở lâu đài đối diện sang dự. Vợ ông ấy vốn là con gái vị cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh, người đã tham dự Hội đồng Liên hiệp quốc năm 1947 về thành lập 2 nhà nước Israel và Palestine, bà được thừa hưởng của bố một gia tài đáng quý, trong đó quý nhất là mấy bảo tàng danh nhân, bảo tàng súng săn… cùng nhiều thứ khác. Ông sẽ rất ngạc nhiên và thích thú nếu được thăm bảo tàng danh nhân này, vì trong đó có một phòng về Hồ Chí Minh, ông là lính của Cụ Hồ, ông cần tranh thủ để được xem. Đêm nay, tôi sẽ bố trí ông ngồi cạnh vợ chồng ông bà ấy. Ông làm sao phải tranh thủ được cảm tình của họ, vì đến năm mới, ông bà ấy sẽ mở tiệc mời lại tôi, có thể họ cũng sẽ mời cả ông nữa. Đó là một cơ hội không nên bỏ lỡ”. Đúng như kế hoạch của ông chủ nhà, bạn tôi đã được mời sang dự tiệc đón năm mới ở nhà con gái cố Bộ trưởng Ngoại giao Anh.
Sau mấy chục năm xa cách, khoảng đầu năm 1990, tôi có việc đến Văn phòng Bộ Giáo dục, khi đó còn ở Lê Thánh Tông, tình cờ anh bạn nhận ra tôi, bèn hẹn xong việc thì đến chỗ anh ấy, khi đó đã chuyển ngành, đang làm Phó giám đốc Nhà xuất bản Giáo Dục. Trong không khí chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh nhớ lại và kể cho tôi nghe việc được thăm bảo tàng tư nhân về những năm tháng Paul Tất Thành sống ở Anh thời kỳ 1914-1918. Anh kể: theo thường lệ, trước khi vào tiệc, chủ nhân mời các thực khách đi thăm các bảo tàng của gia đình, do bố vợ đã dày công sưu tầm. Kỳ lạ là bảo tàng danh nhân nhưng chỉ trưng bày tư liệu về 3 con người vốn rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau: có 2 phòng về Stalin, 2 phòng về Hitler, 1 phòng về Hồ Chí Minh. Trước khi cho tôi vào thăm phòng trưng bày về Hồ Chí Minh, chủ nhân nói: “Tôi chỉ có thể mời ông xem với 2 điều kiện, một là ông không được thông báo lại sự việc này cho sứ quán Việt Nam ở Luân Đôn biết, vì biết thì họ sẽ quấy rầy tôi; hai là ông không được quay phim, chụp ảnh hay xin xỏ hiện vật này hay khác, vì mỗi thứ, chúng tôi cũng chỉ có một”. Tất nhiên là tôi phải hứa. Anh kể lại, tuy chỉ có một phòng, nhưng hiện vật khá phong phú, trước hết là những bức ảnh anh Thành khi làm bồi bàn ở khách sạn Carlton, mặc áo blouse trắng, mũ vải trắng, bưng khay rượu hay đồ nhắm, được phóng to treo quanh tường; có vài tủ kính trưng bày những hiện vật, đồ dùng sinh hoạt cá nhân của anh Thành vào thời gian sống ở Anh, nhất là có nhiều giá trưng bày những hồ sơ, tư liệu mà mật thám đã ghi chép, theo dõi về hoạt động của anh… Anh bạn tôi cho biết: vì thời gian thăm trước bữa ăn chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, nên không thể đi sâu vào bên trong, vả lại thời gian cũng đã 25 năm, nên không thể nhớ lại được cụ thể, chi tiết.
Bạn tôi đã cung cấp cho tôi họ tên vợ chồng chủ nhà, vợ chồng chủ nhân bảo tàng, số nhà, tên phố, tên quận của thành phố mà anh ở tại Scotland… nhưng có dặn: nếu muốn đi và để được vào thăm phải rất công phu, càng không phải với tư cách nhà nước mà chỉ với tư cách thường dân đi du lịch, ví như tôi với ông trên danh nghĩa đã nghỉ hưu đi du lịch thì may ra họ mới tiếp!
Trong một lần làm việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng về cuốn sách của ông trên Tam Đảo, tôi có báo cáo với ông về chuyện này. Nghe xong, ông phá lên cười một cách sảng khoái: “Kỳ lạ, thật kỳ lạ, Bác Hồ của chúng ta quả là một vĩ nhân, chất vĩ nhân ấy được bộc lộ và chinh phục người xung quanh ngay từ khi mới chỉ là một anh bồi bàn! Tiếc rằng, tôi đã nghỉ hưu, nên không có cách nào giúp đồng chí thực hiện được chuyến đi thăm ấy nữa”.
Giá ngày nay, chúng ta có điều kiện được thăm bảo tàng tư nhân đó, chắc chắn sẽ có thêm nhiều sự kiện để lấp vào những khoảng “trống” trong tiểu sử Hồ Chí Minh thời đoạn 1914-1918, ở Anh, hay ở đâu đó, chưa thể khẳng định được.
Cuối cùng, tôi phải nói thêm rằng trong tiểu sử Hồ Chí Minh - đời công cũng như đời tư - còn nhiều điểm cần được làm rõ, không thể chỉ dựa vào một lời khai đơn giản, dù là ở lưu trữ Quốc tế Cộng sản, mà khẳng định ngay được. Một nhà hoạt động cách mạng đi Âu về Á, hai lần ngồi tù, một lần bị kết án tử hình, trăm lần phải thay tên đổi họ, từng bị bắt, được tha, rồi bị nghi vấn, bỏ rơi, vô hiệu hóa... phải lo che chắn tứ bề, cả phía địch lẫn phía ta, nên mỗi ứng xử đều phải rất khôn ngoan, kín cạnh, có điều có thể nói ra, có điều không thể nói… Chỉ riêng về năm sinh, lý lịch ông Nguyễn cũng khai ngày càng trẻ hóa: 1892, 1894, 1900, 1903…, tuổi giảm đi thì năm xảy ra sự việc cũng phải chuyển dịch theo cho khớp, ví dụ trong tiểu sử tự thuật viết ngày 17-4-1938, Nguyễn Ái Quốc khai: 1913 mới vào Sài Gòn, 1916 mới sang Anh, 1917 mới sang Mỹ, đến New York v.v…, nghĩa là đều vênh với tiểu sử chính thức.
Sau vụ án Hồng Kông, thoát lên Thượng Hải, về được Mátxcơva, trong bối cảnh sau đảo chính của Tưởng, quan hệ hai nước chưa được cải thiện và nối lại, thì đó quả là chuyện lạ kỳ mà Mátxcơva rất khó tin. Thư của bà Vêra Vaxiliêva - người phụ trách về Đông Dương - gửi Ban Phương Đông ngày 29-6-1935, có đoạn viết: “Qua lời kể của đồng chí ấy thì khó xác định tại sao đồng chí ấy lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp, tóm lại là tại sao đồng chí ấy lại nhận được một bản án nhẹ nhàng như vậy? Nhiều lần đã đề nghị đồng chí ấy viết một bản tường trình về những sự việc liên quan đến việc bị bắt, vào tù và được trả tự do, gửi cho chúng ta, nhưng đồng chí đã không thực hiện. Đồng chí ấy nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vaillant-Couturier trong thời gian ở Trung Quốc”(3).
Vì vậy, trong thời gian bị nghi vấn, điều tra này, ông Nguyễn chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là ngồi học, không được đi thực tế như các học viên khác, không được viết báo hay liên lạc với tổ chức đảng trong nước… Sau nhờ có sự giúp đỡ của André Marty, nguyên ủy viên BCT Đảng Cộng sản Pháp, ủy viên BCH Quốc tế Cộng sản, đang có mặt tại Mátxcơva, can thiệp, cử người đi Pháp gặp V. Couturier để xác minh, được V. Couturier xác nhận, được bà Vêra bênh vực, Manuinxki che chở…, ông Nguyễn mới thoát khỏi bị thanh trừng. Thực ra, trong vụ việc này có công của bà Tống Khánh Linh và V. Couturier, song công lớn lại thuộc về “một người bạn cũ” đã quen biết với ông Nguyễn ở Mátxcơva từ năm 1924, nay cũng có mặt tại Hội nghị quốc tế “chống chiến tranh đế quốc” ở Á châu, họp tại Thượng Hải năm ấy, nhưng Nguyễn Ái Quốc không thể nói ra, đơn giản vì ông này là người gốc Do Thái và có tư tưởng chống Stalin kịch liệt.
Bài đã dài, xin hẹn một dịp khác, khi có điều kiện, sẽ trở lại vấn đề này.
Tháng 11-2015

_____
* Nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh
(1) Theo Hồ Chí Minh - Biên niên tiều sử, t.1, tr.373, trong một thư gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc ghi: tháng 6-1927 về tới Mátxcơva.
(2) Tham khảo: BBC, Tượng Hồ Chí Minh ở thị trấn Anh, 20-5-2013.
(3) Thư in trong sách Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931-1933, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004, tr.239.

xem thêm fb của Mạch Quang Thắng và blog của Giao: https://giaovn.blogspot.com/2017/04/tu-lieu-chinh-thuc-ban-khai-li-lich-nam.html
có đăng bài của TS Chu Đức Tính trên Tạp chí LSĐ số 4-2017:


Những tác phẩm về tiểu sử Hồ Chí Minh xuất hiện sau ngày độc lập

Những tác phẩm về tiểu sử Hồ Chí Minh xuất hiện sau ngày độc lập

  •   SONG THÀNH
  • Thứ sáu, 19 Tháng 5 2017 10:43
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Từ trước tới nay,nhiều công trình nghiên cứu tiểu sử Hồ Chí Minh đã ra đời, trong đó có những công trình đồ sộ, được đánh giá cao, được dịch ra tiếng nước ngoài, giúp cho thế giới ngày càng hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức của Người. Thành quả đó là sự tích hợp trí tuệ và công lao của nhiều thế hệ nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Hôm nay, chúng tôi muốn điểm lại những ấn phẩm đầu tiên viết về tiểu sử Hồ Chí Minh được ra đời sớm nhất, chỉ ít ngày sau lễ Tuyên bố độc lập 2 tháng 9 năm 1945, với mong muốn giúp bạn đọc được tiếp cận với những cuốn sách cũ nay đã trở nên khó tìm.
Có một điều cần nói ngay: tác giả đầu tiên viết tiểu sử Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh lại không phải là người Việt Nam mà là một người nước ngoài, nhà báo Pháp Jean Dorsènne. Giữa năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông, sự kiện này đã làm chấn động dư luận Pháp và Đông Dương. “Vụ án Hồng Kông” thu hút ngay sự chú ý của nhà báo tên tuổi này, ông lập tức sang tận nơi tìm hiểu, vào nhà tù để gặp gỡ và phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc. Cuộc đời bôn ba cứu nước đầy sóng gió của nhà cách mạng huyền thoại này lập tức chinh phục được cảm tình và lòng khâm phục của nhà báo Pháp.
Sau đó, ông trở lại Việt Nam, tìm đọc hồ sơ lưu trữ của Sở mật thám Đông Dương về Nguyễn Ái Quốc, tham khảo thêm tư liệu ở Thư khố Paris cùng những quan sát và ấn tượng trực tiếp thu lượm được khi gặp gỡ và đối thoại với nhân vật kỳ lạ này, ông bắt tay vào viết cuốn “Faudrait-il évacuer l’Indochine ?”(Liệu có phải rút khỏi Đông Dương?)-một tiên liệu khá sớm!
Cần nói ngay, đây không hoàn toàn là một cuốn tiểu sử, tác giả không có tham vọng này, song dựa vào những tư liệu khai thác được ở Pháp và  Đông Dương, cùng với những cảm nhận riêng của mình, lần đầu tiên ông đã đưa ra một bản phác thảo tiểu sử - tất nhiên là chỉ tới thời điểm ấy - nhưng nhờ đó mà bạn đọc rộng rãi ở Pháp và châu Âu đã có thể sớm biết đến tên tuổi và quá trình hoạt động của một nhà cách mạng lừng danh từng bị cảnh sát đế quốc săn đuổi, chẳng may vừa bị sa lưới cảnh sát Anh tại Hồng Kông và đang trong nguy cơ có thể bị trao lại cho thực dân Pháp.
Sau phần tóm tắt tiểu sử (chừng hơn 20 trang, sẽ nói rõ ở phần sau),  cuốn sách có nhiều đoạn tác giả không dấu được cảm tình và sự thán phục của mình: “…Trên cái trán cao rộng là những món tóc hất ra phía sau, đôi mắt hiền dịu và sâu lắng phản ánh lên một trong những nỗi đau buồn không sao dứt nổi,…với đôi gò má cao, nhô ra,… một nếp nhăn cay đắng như làm biến dạng đi một chút cái miệng của ông”… “Bệnh ho lao không tha thứ ông và nếu như quyết nghị của tòa án Luân Đôn đến kịp thời thì Nguyễn Ái Quốc, con người hiền hậu, sáng rực với đôi bàn tay nhuộm đỏ này, sẽ sống”.
Tác giả không kiệm lời đánh giá nhân vật của mình: “Với vóc người đau ốm ấy, với điều kiện vật chất bó buộc tưởng như không vượt qua nổi ấy, Người đã sống một cuộc đời khổ hạnh, như một nhà tu hành, chỉ nghĩ đến sự thành đạt của lý tưởng”.[1] Tiếc rằng, cuốn sách này đến nay vẫn chưa được dịch ra tiếng Việt.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên ra mắt quốc dân trong lễ tuyên bố độc lập, một câu hỏi lớn được đặt ra trong dân chúng: Hồ Chí Minh là ai? Sao không thấy ông Nguyễn Ái Quốc? Nay ông ấy ở đâu, còn sống hay  đã mất? Sự khao khát tìm hiểu của người dân về lãnh tụ “huyền thoại” của dân tộc đã là nguyên nhân thúc đẩy sự sớm xuất hiện một số ấn phẩm đầu tiên nói về cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mệnh Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
Cuốn sách ra mắt sớm nhất là “Nguyễn Ái Quốc và làn sóng đỏ trên đất Việt (1929-1932)” của Tam Thanh, do Quang Trung Thư xã xuất bản tháng 12-1945, 170 trang [2]. Cuốn sách chia làm 3 phần:
-Phần 1. Thân thế và sự nghiệp của ông Nguyễn Ái Quốc, tác giả chia làm 10 tiểu mục: Những cuộc vận động giải phóng; Buổi thiếu thời của ông Nguyễn Ái Quốc; Ông Nguyễn Ái Quốc ở Pháp; Bắt đầu hành động; Sang Mạc tư khoa; Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội; “Thanh Niên” và “Tân Việt”; “Thanh Niên” hoàn toàn nhuộm đỏ; Việt Nam cộng sản đảng ra đời; Những  ngày điêu linh của một nhà đại cách mệnh.
Phần này Tam Thanh chủ yếu lấy lại tư liệu từ cuốn sách của Jean Dor-sènne, ta hiểu vì sao cuốn sách của tác giả lại chỉ đóng khung trong thời gian từ 1929-1932? (phần này khoảng hơn 20 trang đánh máy).
-Phần 2. Cuộc đấu tranh. Tên là như vậy, nhưng tác giả không biết gì hơn những điều J. Dorsènne đã viết về sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, nên phần này chỉ nói về các vụ án chính quyền thuộc địa đã bắt giam, xét xử và kết tội các chiến sĩ cách mạng ở trong nước mà tác giả lượm lặt được trên báo chí công khai đương thời; từ vụ Thị Nhu, Thị Uyển, Dương Hạc Đính, Ngô Gia Tự, Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lân, Kim Tôn,…đến lớp sau là Hạ Bá Cang, Lý Tự Trọng, Ngô Đức Trì, Trần Phú, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Hữu Căn (Phi Vân), …rồi Đặng Xuân Khu, Khuất Duy Tiến, Lê Duẩn,…cùng nhiều vụ án khác nữa. Đáng tiếc là tác giả chỉ mới liệt kê theo báo chí đưa tin chứ không tường thuật được nội dung và diễn biến của các vụ án, nhất là những câu đối đáp khảng khái của các chiến sĩ cách mạng trước lời buộc tội của tòa án đế quốc và sự hy sinh lẫm liệt sau đó của nhiều người.
 Trong phần 2 này, tuy là sách viết về Nguyễn Ái Quốc mà tác giả không có một câu, một dòng nào về Nguyễn Ái Quốc, kể cả Vụ án Hồng Kông. Điều này chứng tỏ tác giả chỉ là người biết chớp thời cơ, lượm lặt tư liệu trên báo chí rồi vội vàng cho in thành sách, chứ không phải là một người nghiên cứu, điều tra thực thụ, có phương pháp và cách hành văn đúng với thể loại tiểu sử.
-Phần 3. Mạc tư khoa-Đông Dương. Phần này chủ yếu nói đến mối liên lạc giữa Mạc tư khoa và cách mạng Đông Dương, sự chỉ đạo của Quốc tế cộng sản thông qua Ban Phương Đông ở Thượng Hải, việc tổ chức, đưa người sang Mạc tư khoa học tập và dự các hội nghị do Quốc tế cộng sản tổ chức, mà không nói được điều gì cụ thể thêm về những hoạt động chỉ đạo và vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với phong trào cách mạng trong nước từ sau 1932.
Tóm lại, cuốn sách là một sự tập hợp vội vàng, lộn xộn và chắp vá, tác giả tỏ ra là người ngoài cuộc, không mấy am hiểu về chính trị và cách mạng, có thể nguyên chỉ là một nhà báo hay nhân viên sở lưu trữ của chính quyền thuộc địa, có sẵn tư liệu trong tay, tập hợp lại rồi đưa in, nên ít giá trị tham khảo (trừ phần 1 lấy từ cuốn sách của J. Dorsènne).
Ba tháng sau, xuất hiện cuốn sách thứ hai, nhan đề “Thân thế và sự nghiệp nhà cách mệnh NGUYỄN ÁI QUỐC”, tên tác giả đề là Việt Nam (?), chỉ vỏn vẹn có 16 trang khổ 16x24, do Bảo Ngọc văn đoàn xuất bản lần đầu, tháng 3-1946. Sách gồm Lời nói đầu và 13 tiết: 1. Gia đình và học đường; 2. Xuất dương; 3. Làm bồi tầu; 4. Ở Ba-lê; 5. Hoạt động chính trị ở Pháp; 6. Hoạt động ở Mạctư khoa; 7. Hoạt động ở Quảng Châu; 8. Hoạt động ở Xiêm; 9. Nhà lãnh tụ; 10. Gây phong trào; 11. Bị bắt và bị ốm chết.; 12. Phục sinh; 13. Tên họ là gì?(Tiết này có 2 mục: Ông Nguyễn Ái Quốc tên thật là gì? và Có người đã chết thay cho ông Nguyễn Ái Quốc).
Tác giả cuốn sách là ai mà lại ký bút danh là Việt Nam? Chỉ với 16 trang với “co” chữ nhỏ, tác giả đã giúp cho người đọc hiểu được một cách khái quát, nhưng khá đầy đủ, những sự kiện chính trong cuộc đời cách mạng sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc, một bản tiểu sử có phân tích, lý giải, từ những nhân tố tạo nên lòng yêu nước, chí hướng cách mạng buổi đầu, quá trình tìm đường cứu nước, những hoạt động chính trị sôi nổi ở Paris, Maxkva, Quảng Châu,…đến khi trở thành lãnh tụ xuất sắc, đầy uy tín, sáng lập nên Đảng cộng sản Việt Nam, gây phong trào cách mạng từ Bắc đến Nam, đứng ra hiệu triệu Tổng khởi nghĩa tháng Tám, giành được thắng lợi vẻ vang trong cả nước,…Đối với đông đảo người đọc còn ít chữ vào thuở ấy, đang khao khát tìm hiểu về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, thì đây là một tài liệu ra mắt kịp thời, ngắn gọn, đáp ứng được yêu cầu của quần chúng, cả về tính chân thực lẫn ngôn ngữ và phương pháp thể hiện.
Cuốn sách cung cấp cho người đọc những chi tiết, vào thời điểm ấy không phải ai cũng biết được, như khi nói về quan điểm và chí hướng của cụ Bảng Sắc, về trình độ học vấn của mình (chỉ học hết bậc Cao tiểu), xuất dương khi mới 19 tuổi (năm 1911), về cuộc sống vật chất khổ hạnh, thiếu thốn khi ở Paris, v.v.. được tác giả kể ra không chút mặc cảm về sự nghèo nàn, cơ cực của mình ở giữa một thủ đô hoa lệ bậc nhất của phương Tây,…
Sức hấp dẫn của cuốn sách còn ở giọng kể và cách hành văn rất mới: giản dị, tự nhiên, không chút tô điểm, làm  ra vẻ trang trọng; đặc biệt câu văn thường ngắn gọn, chấm câu táo bạo, không chút câu nệ, cốt ở sự mạch lạc, sáng sủa - như ta đã thấy trong Lời nói đầu được dẫn ở trên. Vì vậy, cuốn sách được độc giả nhiệt liệt hoan nghênh, chỉ một tháng sau, cuốn sách đã được tái bản.
Tiếp theo, khoảng tháng 7-1946, Nhà xuất bản Ánh Hồng cho ra mắt bạn đọc cuốn “Nhà lãnh đạo dân tộc Việt Nam - GIÀ HỒ” của hai tác giả Minh Tú và Anh Tú. Đây là một cuốn tiểu sử viết bằng thơ, thể song thất lục bát, gồm 268 câu, có lẽ để dành cho đông đảo quần chúng khi đó còn chưa biết chữ. Cuốn sách mở đầu bằng 4 câu:
                                                Đây tiểu sử già Hồ Chủ tịch
                                                Một người đang nhắm đích, lựa chiều
                                                Trong cơn sóng gió hiểm nghèo,
                                                Lái thuyền độc lập, vững chèo qua sông.
Truyện thơ dẫn dắt người đọc đi từ quê hương, gia đình, hoàn cảnh mất nước, quá trình xông pha tìm đường cứu nước,…cho đến khi cách mạng thành công, ca ngợi tài năng, đạo đức, công lao, sự nghiệp, …của Già Hồ. Lời thơ trau chuốt, vần điệu êm ái, dễ thuộc, dễ truyền bá trong đồng bào hoặc còn ít chữ hoặc chưa biết chữ ở nông thôn. Đó là một cách làm hay, có điều đến nay chưa rõ tác giả là ai? Cuối cùng, truyện được kết bằng 4 câu:             
                                                Vậy cùng cất tiếng vang ta chúc
                                                Cho người gây hạnh phúc quốc gia”
                                                Già Hồ thọ với sơn hà
                                                Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm !
Tháng 5-1947, xuất hiện cuốn “Le Président Ho Chi Minh” (Chủ tịch Hồ Chí Minh) viết bằng tiếng Pháp, do Phòng thông tin thuộc cơ quan đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris xuất bản, không có tên tác giả[3], có lẽ để nhằm giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người nước ngoài, trong đó có đồng bào Việt kiều ta ở Pháp.
Trong Lời nói đầu của cuốn sách (4 trang), người viết khẳng định: tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện cùng với cuộc Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa. Nhưng Hồ Chí Minh không chỉ tượng trưng cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, mà trước khi có tên gọi đó, thì người chiến sĩ bị truy nã khắp thế giới ấy cũng đã tượng trưng cho Việt Nam cả trong cái thời kỳ oanh liệt hôm qua. Cái gì đã làm cho Hồ Chí Minh vượt hẳn ra ngoài đám quần anh mà Việt Nam không bao giờ thiếu ? Theo tác giả, địa vị siêu việt của Hồ Chí Minh có lẽ là ở chỗ đã phối hợp được đạo đức chân thành và sâu rộng với trí tuệ sáng suốt và tinh vi, để trong cái rối rắm và éo le của thời cuộc, đã tìm ra một đường lối đúng đắn, dẫn tới thành công, đó là đường lối giải phóng quốc gia thống nhất với giải phóng xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân, cương quyết đi với Đồng Minh, thân thiện với tất cả các nước dân chủ, thực hiện đại đoàn kết toàn dân, đi tới độc lập, thống nhất, trong một xã hội tự mình kiến thiết lấy, mỗi người đều cần kiệm liêm chính, hạnh phúc sẽ là một thực tế bảo đảm chứ không phải là một ảo vọng xa xôi,…
Chỉ với mấy dòng ngắn ngủi mà vẽ lên được đầy đủ và đúng đắn chân dung chính trị của Hồ Chí Minh, thật là một sự khái quát tài tình. Những trang viết sau đó là những mẩu chuyện, sự kiện cụ thể về hình dáng, đức độ, tính tình của vị Chủ tịch; đặc biệt là về tình cảm thân thiết của Người đối với đồng bào, chiến sĩ, với trẻ em, về đức khoan dung đối với những người lầm lạc,..tiếp theo là kể lại tình cảm đặc biệt của các tầng lớp nhân dân, trong đó có cả nhân dân Pháp đối với vị lãnh tụ Việt Nam, một lãnh tụ thực sự là của dân. Điều đáng chú ý là những lời ca ngợi này không phải do tác giả trực tiếp viết ra, mà đều được thể hiện thông qua những trích dẫn từ báo chí Pháp đã viết về Người trong thời gian Người ở thăm nước Pháp. Thông qua những trích dẫn khách quan đó, cuốn sách đã đưa lại cho người đọc một hình ảnh sinh động về người lãnh tụ kiểu mới của quần chúng trong thời đại ngày nay.
Tháng 6-1949, cuốn “Hồ Chí Minh truyện” của tác giả Trần Dân Tiên được dịch và in ở Thượng Hải, khi Trung Quốc chưa giải phóng. Nhưng phải sau 1954 về Hà Nội, các nhà nghiên cứu mới được biết đến cuốn sách này ở Việt Nam. Tại sao cuốn sách không in và xuất bản ở trong nước mà lại đem xuất bản ở nước ngoài?
Thu đông 1947, ta bẻ gãy cuộc tiến công 2 gọng kìm của Pháp lên Việt Bắc, nhưng xuýt nữa họ bắt được cơ quan đầu não của ta. Nếu Pháp đủ sức mở cuộc tiến công lần thứ 2, liên minh được với Tưởng, dưới đánh lên, trên đánh xuống, thì cuộc kháng chiến của ta có nguy cơ thất bại. Điều đó buộc ta phải tranh thủ cầu hòa với Chính phủ Tưởng Giới Thạch, chí ít cũng nhằm trung lập hóa vai trò của họ. Nên cuối năm 1948, đầu 1949, một phái đoàn bí mật được cử sang Trung Quốc, tới Nam Kinh, Thượng Hải, tất nhiên với “lễ vật” hậu hĩnh. Đến nay, chuyến đi vẫn chưa được giải mã, nên chưa thể nói cụ thể, chỉ biết rằng trong chuyến đi đó có mang theo bản thảo cuốn “Tiểu sử Hồ Chủ tịch” để dịch và xuất bản tại Trung Quốc.
Cuốn tiểu sử này được ra mắt chủ yếu nhằm thực hiện sách lược đối ngoại, bởi vào thời gian này, Hồ Chí Minh đang đứng giữa hai làn đạn: các Chính phủ phương Tây coi Người là cộng sản nên chống lại; còn nước Nga xô viết, vì ở xa, thiếu thông tin, nên cho Hồ Chí Minh đã xa rời học thuyết đấu tranh giai cấp, rơi vào khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, có vẻ đang muốn “ve vãn” phương Tây, nên cũng không công nhận Chính phủ Cụ Hồ. Để tránh hiểm họa, cần cầu thân với Tưởng, muốn thế phải làm giảm nghi ngờ của họ về con người Hồ Chí Minh. Vì vậy, trong cuốn “Hồ Chí Minh truyện” dịch sang Trung văn, tác giả muốn cho người đọc thấy Hồ Chí Minh có quan hệ thân tình với Trung Quốc về nhiều mặt.
Theo nhà sử học Mỹ Sophie Queen Judge thì  cuốn “Tiểu sử Hồ Chủ tịch”này đã được Chi hội Liên Việt của Việt kiều tại Paris xuất bản năm 1949, mà tên tác giả trên bìa sách lại ghi là Trần Ngọc Danh? Cũng theo nhà sử học này thì cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên được in ở Việt Nam sau này có nội dung giống như cuốn sách mang tên Trần Ngọc Danh xuất bản ở Paris năm 1949. Theo lời kể của đồng chí Trần Quang Huy, nguyên Chánh Văn phòng TƯ Đảng thời kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc,  cho biết ông cũng đã nhận được một bản tiểu sử đó, do Việt kiều hay cơ quan đại diện Chính phủ ta từ Paris gửi về.
Người viết bài này chưa có điều kiện tiếp cận với bản in năm 1949, nhưng đã được đọc bản in năm 1951, khi sách được Hội Việt kiều tái bản. Bìa sách vẫn ghi tên tác giả là Nghị sĩ Trần Ngọc Danh, tên sách: “Tiểu sử Hồ Chí Minh”, khổ sách cỡ 12x17, không ghi tên Nhà xuất bản, nơi in, chỉ ghi năm tái bản: 1951. Sách được chia ra thành nhiều chương nhỏ, mỗi chương có tiêu đề riêng, in thành 3 tập mỏng. Nội dung, về cơ bản như cuốn “Những mẩu chuyện,…” hiện nay. Vậy Trần Ngọc Danh liệu có thể là tác giả của công trình tiểu sử này hay không?
Theo ý kiến của người viết bài này thì việc đề tên tác giả là Nghị sĩ Trần Ngọc Danh chưa biết do đâu, nhưng ông có thực là tác giả hay không thì cần phải bàn. Thứ nhất, Trần Ngọc Danh ít hoặc không có điều kiện sống, làm việc gần gũi với Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Khi ông sang Maxkva, vào học Trường Phương Đông thì Nguyễn Ái Quốc đã về Quảng Châu, khi ông tốt nghiệp về qua Quảng Châu thì Nguyễn Ái Quốc đang bị ngồi tù ở Hồng Kông, khi về đến nước thì ông bị bắt rồi đầy ra Côn Đảo. Sau cách mạng thành công, ông tham gia Xứ ủy Nam bộ, ít lâu sau được cử làm Phó rồi làm Trưởng Cơ quan đại diện Chính phủ ta ở Paris, thay ông Hoàng Minh Giám về nước công tác. Vì vậy, ông không có điều kiện sống gần nên khó có hiểu biết nhiều về Hồ Chí Minh để viết nên một cuốn tiểu sử sinh động, phong phú và hấp dẫn như vậy.
Thứ hai, Trần Ngọc Danh vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc quan điểm của Trần Phú và của Đảng cộng sản Pháp hồi bấy giờ, coi vấn đề dân tộc và giaỉ phóng dân tộc thuộc phạm trù cách mạng tư sản, nên không tán thành cuộc kháng chiến chống Pháp của ta. Khi chiến tranh nổ ra, cơ quan đại diện Chính phủ ta ở Paris bị phía Pháp gây khó dễ, Trần Ngọc Danh dao động, năm 1949, tự ý bỏ nhiệm sở, trốn sang Praha với vợ. Tại đây, ông viết 2 bức thư gửi Staline phê phán đường lối chính trị cơ hội của Hồ Chí Minh: công khai giải tán Đảng, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản và học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác, đi theo đường lối dân tộc tư sản, trở thành người chống Đảng, thù nghịch với Liên Xô,…
 Một người như thế làm sao có thể viết nên cuốn sách ca ngợi Hồ Chí Minh một cách đầy ngưỡng mộ và thành kính như ta đã thấy. Chính bà S. Q. Judge cũng thấy băn khoăn: sách xuất bản lần đầu năm 1949, khi Trần Ngọc Danh đã tự ý bỏ nhiệm sở, trốn sang Praha, rồi bị kỷ luật, sao vẫn được để tên là tác giả cuốn sách? Theo tôi, có thể do Hội Việt kiều khi đó chưa nắm được thông tin đầy đủ về ông. 
Theo Hoàng Văn Hoan viết trong “Giọt nước trong biển cả” (bản tiếng Việt), thì: “Năm 1949, các đồng chí ta đã dịch cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” ra tiếng Thái, vận động một người Thái viết lời tựa và xuất bản để giới thiệu lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta với nhân dân Thái Lan” [4]. Cuốn này hiện vẫn chưa từng được biết ở Việt Nam. Những điều nói trên cho thấy 3 bản “Tiểu sử Hồ Chí Minh” đều được dịch ra và công bố ở Trung Quốc, Pháp, Thái Lan  nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị đối ngoại, chứ không phải như các luận điệu xằng bậy cho  rằng Hồ Chí Minh cũng chẳng khiêm tốn gì, đã tự mình viết tiểu sử để ca ngợi mình (?)  Phải sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 8 năm 1955, cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên mới được Nhà xuất bản Văn Nghệ cho ra mắt. Lần đầu tiên, nhân dân ta được biết tường tận về những chi tiết chân thực trong cuộc đời cách mạng gian nan và phong phú của Bác Hồ. Như tác giả đã nói rõ: Đây không phải là một cuốn tiểu sử, mà chỉ là “một quyển truyện giúp đồng bào biết vài mẩu chuyện của vị lãnh tụ đã xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Tuy nhiên, do tính tính chân thực và cách thể hiện hấp dẫn, cuốn sách có giá trị như một tài liệu lịch sử và không ai không thừa nhận vị trí đặc biệt của nó trong chuyên ngành tiểu sử ở nước ta.
Từ khi ra đời đến nay, cuốn sách đã được tái bản nhiều lần, riêng nhà xuất bản Văn Học đã in lại trên 10 lần, mỗi lần hàng vạn cuốn, trong lần in thứ bảy năm 1970, in tới 120 ngàn cuốn. Từ năm 1975 đến nay, Nhà xuất bản CTQG (Sự Thật) đã in lại cuốn sách này 8 lần, mỗi lần mấy ngàn cuốn, lần mới nhất gần đây (1-2015) in 3000 cuốn. Đó là chưa kể đến các nhà xuất bản khác, như Thanh Niên, nxb Trẻ tp Hồ Chí Minh, …cũng đã từng in. Trong lịch sử ngành xuất bản của nước ta, đây là tác phẩm giữ một kỷ lục chưa từng có: được in đi, in lại nhiều lần nhất, với số lượng lớn nhất. Ngoài bản tiếng Việt, cuốn sách còn được nhà xuất bản Ngoại văn dịch ra tiếng Nga, tiếng Pháp,…nhằm giới thiệu với độc giả nước ngoài.
Tới đây, một vấn đề được đặt ra là: vậy tác giả cuốn sách, ông Trần Dân Tiên là ai mà đạt tới thành công xuất sắc như vậy, sức hấp dẫn của tác phẩm đến từ đâu, do tài năng của tác giả hay do cuộc đời phi thường của nhân vật? Đây là câu hỏi được đặt ra khá sớm, ngay từ khi người đọc biết đến bản dịch Trung văn cuốn “Hồ Chí Minh truyện” được xuất bản ở Thượng Hải tháng 6-1949 với tên tác giả là Trần Dân Tiên; và thật khó hiểu, cũng vào thời điểm ấy, cuốn “Tiểu sử Hồ Chủ tịch” được xuất bản ở Paris lại vẫn có tên tác giả là Trần Ngọc Danh?  Hai người có phải là một không? Điều này, chúng tôi đã chứng minh ở trên là không phải. Vậy Trần Dân Tiên là bút danh của ai? Điều này chưa bao giờ được trao đổi công khai trên báo chí.
Gần đây, trên tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh (trang điện tử) đã mạnh dạn đưa ra cuộc trao đổi chung quanh vấn đề “Trần Dân Tiên là ai?”- một chủ đề nhạy cảm. Tuy nhiên, cuộc thảo luận đã thu hút được sự hưởng ứng của nhiều người, hàng chục bài viết đã được đăng lên, tựu trung chia làm hai phái khẳng định và phủ định.
Phái khẳng định dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu Hà Minh Đức, trong “Tác phẩm Văn của CT Hồ Chí Minh”: “Đáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào, của bạn bè trên thế giới, Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”.[5] Có người khác dẫn ý kiến của Bùi Tín khẳng định “cuốn sách ấy là do chính ông Hồ viết ra”. Ý kiến của nhà sử học Mỹ S. Q. Judge cũng được trích dẫn, theo bà ấy “mặc dù tên tác giả là Trần Dân Tiên nhưng người ta tin rằng thực ra nó là một cuốn tự truyện”,v.v..
Phái phủ nhận Trần Dân Tiên không phải là bút danh của Hồ Chí Minh vẫn nhiều hơn, với lập luận như sau:
-Trong bảng danh mục hơn 170 bút danh của Bác Hồ do Bảo tàng Hồ Chí Minh công bố, không có bút danh Trần Dân Tiên.
-Cụ Hồ là người khiêm tốn, không dại gì tự viết sách ca ngợi mình để mang tiếng mãi về sau. Nếu Cụ muốn viết sách về mình thì không thiếu gì người sẵn sàng giúp Cụ chấp bút.
-Khoảng thời gian từ cuối 1945 đến đầu 1948 là thời kỳ vận nước đang “nghìn cân treo sợi tóc”, phải liên tục đối phó với thù trong, giặc ngoài, một ngày Cụ phải làm việc từ 12 đến 14 tiếng, lại phải thường xuyên thay đổi chỗ ngủ về đêm, còn thời giờ đâu, tâm trạng nào mà nghĩ tới việc viết tiểu sử ?. Bà Lady Borton, một nhà văn Mỹ đã gắn bó lâu năm với Việt Nam, từng viết nhiều tác phẩm về Bác Hồ, cũng khẳng định: Trần Dân Tiên không phải là Hồ Chí Minh. Người chưa bao giờ dùng bút danh ấy.
Cụ Nguyễn Khôi, chuyên viên cao cấp, từng làm bí thư chi bộ có các vị Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt,…cùng sinh hoạt, đã cung cấp thêm một thông tin mới: Cụ Hoàng Quốc Việt, khi ấy là Thường vụ TƯ, gợi ý với ông Trần Huy Liệu-Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền: nên viết bài về Bác. Ông Liệu giao nhiệm vụ này cho ông Vũ Đình Huỳnh-khi ấy là trợ lý của Bác viết, ông Liệu sửa chữa, bổ sung, hai ông Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt duyệt lại rồi thông qua. Sách được gửi đi dịch và xuất bản ở nước ngoài.Thông tin này hiện chúng tôi chưa có điều kiện kiểm chứng và lai lịch bút danh Trần Dân Tiên cũng còn ít được bàn đến trong cuộc trao đổi.
Cuộc tranh  luận chưa làm sáng tỏ thêm vấn đề được bao nhiêu, song sự quan tâm của các bậc trí thức, văn nhân, học giả đối với cuốn “Những mẩu chuyện…” đã khẳng định ý nghĩa, giá trị bền vững của tác phẩm. Bất kể tác giả của nó là ai, thì việc xuất bản tác phẩm này vẫn thực sự là một việc làm cần thiết, kịp thời, trong sáng, vô tư vì Tổ quốc và cách mạng./.


[1] J. Dorsènne: “Faudrait-il évacuer l’Indochine”, Nxb Mới, Paris, 1932., tr. 74-75. Cuốn sách này hiện vân lưu trữ tại Thư viện QG Hà Nội.
[2] Người viết chỉ có bản sao đánh máy, không có bản phôtôcopy, nên số trang có thể so le với bản chính.
[3] Nguyên văn tiếng Pháp : “Le President Ho Chi Minh”, Brochure publiée par le Service d’Information de RDV, Bureau de Paris, Mai 1947.
[4] Hoàng Văn Hoan “Giọt nước trong biển cả”, nxb Tin Việt Nam., tiếng Viêt, tr. 304.
[5] Cuốn “Những sự kiện lịch sử Đảng”, ST, 1976, t. 1, tr. 672 mà ông Hà Minh Dức dựa vào chưa phải là sách nghiên cứu mà mới chỉ là một công trình tư liệu, tập hợp những sự kiện chuẩn bị cho việc nghiên cứu, một vài sự kiện trong đó đưa ra hơi vội, thiếu cơ sở khoa học., sau này đã bị lược bỏ.