Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

“Các đồng chí cứ làm cách mạng văn hóa đi, tôi làm cách mạng vũ hóa”

Trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh:

“Các đồng chí cứ làm cách mạng văn hóa đi, tôi làm cách mạng vũ hóa”

 - Ông Lê Duẩn là người có ý kiến độc lập, tự chủ, ông nhận thức ra được sự phụ thuộc vào nước bạn có hại thế nào, và cố gắng tách ra. Nhưng, sau này, ông lại quá cực đoan, chống Trung Quốc mạnh quá, và ngả hẳn sang Liên Xô.
Tuần Việt Nam giới thiệu tiếp với quý vị phần 2 cuộc trao đổi với GS-TS Vũ Dương Huân về trường phải ngoại giao Hồ Chí Minh.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, vai trò của ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện như thế nào để tận dụng được sự giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô và Trung Quốc, mặc dù hai nước đang có mâu thuẫn về đường lối từ năm 1963 và đỉnh điểm là xung đột quân sự ở biên giới năm 1969?
Ví dụ, khi Việt Nam bắt đầu đàm phán với Mỹ năm 67-68, Trung Quốc không hài lòng. Việc ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam mình có giảm, và gần như không có tiếp xúc giữa lãnh đạo hai nước. Việt Nam không có cơ hội để giải thích tại sao phải làm như vậy.
Bác Hồ mới cử đoàn của Trung ương Cục miền Nam, dẫn đầu là ông Bí thư Nguyễn Văn Linh, sang Trung Quốc để báo cáo với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc về tình hình kháng chiến của nhân dân miền Nam. Trung Quốc đành phải tiếp vì họ giương cao ngọn cờ chống Mỹ. Nhưng Bác Hồ rất khôn khéo, ông đã gài Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào đoàn, và ông Đồng có cơ hội giải thích, trao đổi với họ về việc tại sao Việt Nam tiến hành đàm phán với Mỹ.
Trung Quốc luôn đòi hỏi Việt Nam ủng hộ đường lối cách mạng của Trung Quốc, nhất là Cách mạng Văn hóa, và đề nghị Việt Nam tiếp bước làm cách mạng văn hóa. Bác Hồ, bảo rằng “các đồng chí cứ làm cách mạng văn hóa đi, tôi làm cách mạng vũ hóa”, cho nên Trung Quốc đành chịu.
Trong quan hệ với Trung Quốc, Bác Hồ đã làm gì để dần thoát khỏi sức ép Trung Quốc, như đối với đàm phán và ký Hiệp định Geneva, phân chia tại vĩ tuyến 17, hay cải cách ruộng đất?
Khi mâu thuẫn với Liên Xô, Trung Quốc luôn luôn đòi hỏi Việt Nam phải ủng hộ các quan điểm, đường lối của Trung Quốc. Nghị quyết Trung ương 9 tháng 12/1963 chống xét lại, nhưng thực chất Việt Nam theo quan điểm Trung Quốc nhiều hơn. Việt Nam theo quan điểm của Trung Quốc, từ áp dụng cải cách ruộng đất đến đàm phán và ký kết hiệp định Geneva. Trong quá trình đàm phán, Việt Nam bị Trung Quốc, và phần nào đó là Liên Xô, lèo lái, dẫn đến những hạn chế không nhỏ cho kết quả hiệp định. 
Từ Đại hội Đảng II (1951), Đảng Cộng sản đưa tư tưởng của Mao Trạch Đông làm tư tưởng chủ đạo. Về phía Bác Hồ, người chỉ nói đạo đức thôi.
Tháng 7/1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu (Nam Ninh, Trung Quốc), có Đại tướng Võ Nguyên Giáp tháp tòng. Ông Chu Ân Lai hỏi Tướng Giáp rằng, nếu đánh tiếp thì bao lâu thống nhất được đất nước, Tướng Giáp nói rằng “cần 3 năm chúng tôi sẽ giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước”.
Nhưng tại hội nghị Geneva, Việt Nam không hiểu tình hình nên đành nghe theo Trung Quốc và Liên Xô. Liên Xô muốn có hòa dịu trên thế giới, còn Trung Quốc, sau Chiến tranh Triều Tiên (đình chiến năm 1953) muốn thoát khỏi sự bao vây của Mỹ (Nam Triều Tiên, Đài Loan và Đông Dương) và đẩy Mỹ ra xa hơn. Họ muốn miền Bắc Việt Nam trở thành khu đệm. Ý đồ sâu xa của Trung Quốc, sau này mới được làm rõ, là chia Đông Dương thành những nước nhỏ để trị (Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam, Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia).
Ông Việt Phương, nguyên thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong buổi họp báo giới thiệu sách của các nhà ngoại giao, đã tiết lộ rằng khi đàm phán hiệp định Geneva (1954), Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Phạm Văn Đồng đã mắc một sai lầm cực kỳ nghiêm trọng là nhờ Trung Quốc chuyển các bức điện về nước, và Trung Quốc biết hết các sách lược của Việt Nam và sử dụng chúng để ép Việt Nam ký hiệp định, theo lợi ích của Trung Quốc. Ông có nghe chuyện đó không?
Một như anh vừa nói, vì đoàn đàm phám không mang theo điện đài, hai là trong đàm phán lại sử dụng phiên dịch Trung Quốc tên là Văn Trang, trước đây đã phiên dịch cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tiếp xúc với cố vấn Trung Quốc. Đoàn đàm phán nói gì, viết gì, báo cáo bất cứ điều gì về Trung ương, và xin chỉ thị, Trung Quốc biết trước và tìm cách ngăn lại. Ông Phạm Văn Đồng sau này cũng thú nhận là Việt Nam quá tin Trung Quốc.
Tại hội nghị ấy, ông Đồng chỉ chủ yếu tiếp xúc với đoàn Liên Xô và đoàn Trung Quốc, trong khi Anh là đồng chủ tịch, quan điểm lại khác với Pháp, đoàn ta lại không tranh thủ, không hề tiếp xúc với phái đoàn Anh. Đó không phải là trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, đoàn đàm phán Việt Nam, có hơn 30 người, mà không có một chuyên gia nghiên cứu phục vụ đoàn. Đến khi bị hù dọa rằng Mỹ sẽ can thiệp nếu Việt Nam tiếp tục cuộc chiến, chúng ta đã buộc phải nghe theo, vì thiếu thông tin. Và kết quả là chúng ta đã phải bỏ ra gấp 7 lần thời gian, với bao nhiêu xương máu, để thực hiện cái điều mà Tướng Giáp nói với ông Chu Ân Lai.
Theo ông, nếu Việt Nam tiếp tục cuộc chiến, liệu Mỹ có nhảy vào can thiệp không?
Không! Lúc đó chúng ta không có nhà nghiên cứu nên không biết, nhưng sau này chúng tôi mới nghiên cứu và kết luận rằng lúc đó Mỹ không nhảy vào.
Lý do thứ nhất là vì vừa kết thúc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), trong đó Mỹ thiệt hại mấy trăm nghìn quân đã ảnh hưởng rất nhiều tới dư luận và Quốc hội Mỹ, và Tổng thống Eisenhower đã vận động Quốc hội mấy lần về việc đem quân ra nước ngoài, nhưng Quốc hội bác hết. Lý do thứ hai là sau đó Chính phủ Eisenhower mới ra một chính sách quốc phòng mới là New Look, chỉ cho phép quân Mỹ sử dụng không quân và hải quân, chứ không được đưa lục quân, ra nước ngoài. Như vậy, rõ ràng Mỹ đã không có chính sách, và ý đồ can thiệp vào Đông Dương.
Nếu cứ theo ý Tướng Giáp đánh tiếp, chỉ 3 năm sau chúng ta đã giải phóng được đất nước. Khi đó, Mỹ có thay đổi chính sách cũng không kịp.
Chúng ta sợ lời đe dọa của bạn cũng do đánh giá sai tình hình. Hội nghị Trung ương 6 (15/7/1954) đã đánh giá lực lượng của ta và Pháp tương đương nhau, nên đánh nhau sẽ rất lâu, và quyết định đường lối đàm phán gửi cho Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng. Chúng ta quên mất rằng chúng ta vừa chiến thắng ở Điện Biên Phủ nên thế của ta vượt trội so với Pháp. Tình báo của ta đã phát hiện ra việc Pháp điện cho Bộ Chỉ huy ở Hà Nội nói rằng “đừng đề Hà Nội trở thành Điện Biên Phủ thứ hai”. Sau này, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai cũng thừa nhận bằng miệng rằng ép Việt Nam ký hiệp định chia cắt đất nước là sai.
Tướng Giáp là tướng thực địa ở Điện Biên Phủ, nên ông nói 3 năm là hoàn toàn có lý. Có điều Tướng Giáp đã không thuyết phục được Bác Hồ, và qua đó là Trung Quốc, Liên Xô.
Sau Hiệp định Geneva và cải cách ruộng đất, khi chúng ta nghe theo Trung Quốc, làm sao Việt Nam lấy lại thế bình đẳng tương đối với Trung Quốc?
Việt Nam, từ Đại hội II chấp nhận nhiều quan điểm của Trung Quốc, nhưng dần dần Việt Nam cũng nhận thức được rằng những thứ đó là không đúng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước chúng ta cũng rút kinh nghiệm từ Geneva, và rất thành công. Kinh nghiệm Geneva đã giúp chúng ta tiến hành chiến tranh thành công, nếu không rút kinh nghiệm từ đàm phán ở Geneva, chúng ta không thể đàm phán hiệp định Paris thành công được. Thứ nhất, chúng ta rút kinh nghiệm ở Paris là đàm phán trực tiếp, chứ không đa phương (9 bên) như ở Geneva, thứ hai, chúng ta tự quyết định đường lối, chính sách, không dựa vào ai cả.
Có phải trong nội bộ Đảng ta, Bí thư Thứ nhất BCH TƯ Lê Duẩn có vai trò quan trọng trong việc lấy lại tính độc lập tự chủ trong các quyết định của Đảng?
Ông Lê Duẩn là người có ý kiến độc lập, tự chủ, ông nhận thức ra được sự phụ thuộc vào Trung Quốc có hại thế nào, và cố gắng tách ra khỏi Trung Quốc. Nhưng, sau này, ông lại quá cực đoan, chống Trung Quốc mạnh quá, và ngả hẳn sang Liên Xô.
Trong thời kỳ chống Mỹ, sau khi Mao Trạch Đông gặp Tổng thống Nixon ở Thượng Hải, Thủ tướng Chu Ân Lai có sang Việt Nam để giải thích rằng Trung Quốc làm thế là vì Trung Quốc muốn thoát khỏi bị cô lập (kẻ thù của cả Liên Xô và Mỹ), và đưa Trung Quốc phát triển lên, chứ không phải phản bội lại Việt Nam. Ông Lê Duẩn không chấp nhận lời giải thích đó, và khi tiễn ông Chu Ân Lai về nước, ông không cho xe ra đưa ông Chu Ân Lai ra máy bay, buộc ông Chu Ân Lai và người phiên dịch phải đi bộ từ sảnh chờ ra cầu thang máy bay.
Tại sao khi Việt Nam đã dần lấy lại thế độc lập tự chủ mà Trung Quốc vẫn đổ tiền đồ của cho chúng ta?
Đó cũng do Việt Nam có chính sách ngoại giao khôn khéo. Trung Quốc cũng đang chống Mỹ, và Trung Quốc muốn dùng ngọn cờ của Việt Nam để nâng vị thế của mình, và tranh giành vị trí bá chủ của Liên Xô trong đối đầu với Mỹ. Lợi ích trùng hợp thì họ phải giúp mình thôi.
Trong cuộc chiến ở Gạc Ma tại sao công binh của mình không được trang bị vũ khí, ngoài mấy khẩu AK tầm thường? Và được lệnh không nổ súng trước?
Sai lầm của ta là không chuẩn bị các phương án. Một là phương án Trung Quốc ứng xử hòa bình, Việt Nam chỉ mang tàu công binh ra thôi, phương án hai là Trung Quốc ứng xử bằng vũ trang thì mình cũng phải chuẩn bị lực lượng vũ trang, Trung Quốc đưa pháo thì mình cũng phải đưa pháo ra chứ.
Bởi vì ta lúc đó chỉ nhăm nhăm muốn tạo môi trường hòa bình để bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc ngay trong nhiệm kỳ của mình (ông Nguyễn Văn Linh hứa chỉ làm Tổng Bí thư một nhiệm kỳ). Trang bị của công binh ở Gạc Ma mới như vậy.
Hôm 7/5/1988, sau khi Trung Quốc chiếm Gạc Ma, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh ra Trường Sa, phát biểu trước chiến sĩ hải quân rằng "tàu lạ" đã tấn công và Việt Nam mất 64 chiến sĩ.
Hôm 14/3/1988, Trung Quốc chiếm Gạc Ma, thì 16/3 Bộ Chính trị họp (vì 15/3 bận đám tang cố Thủ tướng Phạm Hùng). Vào cuộc họp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã hỏi luôn: "Ai ra lệnh cho bộ đội không được bắn?" Đại tướng Lê Đức Anh phản bác đầu tiên, rồi đến ông Nguyễn Văn Linh, ông Đào Duy Tùng cũng đế vào. Ý kiến của ông Nguyễn Cơ Thạch hóa ra lại là ý kiến thiểu số, bị gạt ra ngoài.
Vai trò của Bác Hồ trong đàm phán Paris là gì?
Ý kiến Bác Hồ chỉ là những tư tưởng lớn thôi, nhưng nó được thể hiện rõ ràng trong quá trình đám phán. Một là phải kiên trì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, hai là những quyền dân tộc cơ bản. Sau này, Bộ Chính trị đã nêu ra 4 điều kiện cơ bản mà đàm phán Paris phải đảm bảo. Hay chỉ đạo của Bác Hồ để giành thắng lợi từng bước : đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Bác Hồ nói "mình phải biết thắng đế quốc to như Mỹ không theo kiểu Liên Xô vật ngửa phát xít Đức đươc, mà phải đánh cho Mỹ rút". Hay Bác Hồ nói "trải thảm đỏ cho Mỹ rút", Mỹ rút 500 ngàn quân là cán cân lực lượng đã thay đổi, và chúng ta sẽ thắng.
Bốn chỉ đạo của Bộ Chính trị với đoàn đàm phán là gì?
Một là Mỹ tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, hai là Mỹ chấm dứt can thiệp vào Việt Nam, ba là Mỹ hàn gắn vết thương chiến tranh, và bốn là mình giữ được lực lượng ở miền Nam, điều quan trọng nhất.  
Biểu hiện đầu tiên của quan điểm vừa đánh vừa đàm là gì?
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trong khi tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Mông Cổ, ông nâng ly lên và nói rằng “nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, tôi sẽ nói chuyện với Mỹ”.
Vai trò ngoại giao của Hồ Chí Minh trong việc thoát khỏi bao vây cấm vận chính trị và bao vây về chính trị và cấm vận về kinh tế sau khi Việt Nam đưa quân vào Cămpuchia như thế nào?
Tư tưởng của Bác Hồ là ngoại giao phải rất năng động, phải kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại, đoàn kết quốc tế và hội nhập quốc tế.
Ngoại giao phải năng động tức là phải kiên trì nguyên tắc mềm dẻo, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè, tìm kiếm hỗ trợ quốc tế. Việt Nam vận dụng tốt những nguyên tắc này nên mới phá vây, phá cấm vận, bằng ngoại giao. Đây là thời kỳ ngoại giao vô cùng năng động, so với thời kỳ trước.
Ông nói về thế phá bao vây, từ việc đầu tiên là bắt tay với các nước ASEAN, đúng không?
Đầu tiên là tranh thủ các nước ASEAN, xong lại giải quyết vấn đề Campuchia, rồi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Cái chốt ở đây là phải giải quyết vấn đề Campuchia, bởi vì nó mà Việt Nam bị bao vây, cấm vận, bị cô lập hóa. Mình vực dậy lực lượng Campuchia, họ cứng cáp lên thì Việt Nam rút quân về, rút toàn bộ vào tháng 9/1989.
Điều thứ hai Việt Nam phải giải quyết vấn đề với Trung Quốc, vì Trung Quốc vừa là nước lớn, nước láng giềng, vừa là nước có vai trò quan trọng trong vấn đề Cămpuchia, và sau đó thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Với ASEAN, Việt Nam có làm trước đó có tiến hành JIM1 và JIM2, vừa để tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á, nhằm mục tiêu hội nhập ASEAN, vừa để giải quyết vấn đề Campuchia.  
Trong các bộ trưởng ngoại giao, theo ông người nào thấm nhuần quan điểm ngoại giao Hồ Chí Minh nhất, nói cách khác là thành công nhất?
Theo tôi có 2 bộ trưởng ngoại giao thành công nhất, thể hiện quan điểm ngoại giao Hồ Chí Minh nhiều và rõ nhất, đó là ông Nguyễn Duy Trinh và ông Nguyễn Cơ Thạch.
Ông Nguyễn Duy Trinh là người có đóng góp tốt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông chỉ đạo đàm phán Paris, ông chỉ đạo đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rồi tranh thủ dư luận, tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, hay nghiên cứu chiến lược, sách lược… đều hết sức thành công, hầu như không có thiếu sót.
Nhưng trong giai đoạn đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ (1977-1978) ông không thành công, khi không tham mưu được cho lãnh đạo cấp cao đừng đền bù chiến tranh là điều kiện tiên quyết, vì chuyện đền bù do Quốc hội Mỹ quyết định, chứ không phải Tổng thống. Hay từ chối bình thường hóa quan hệ với ASEAN. Hay trong Nghị quyết Hội nghị TW 4 (27/7/1978) đã đánh giá tình hình thế giới sai không chuẩn xác. Việt Nam hành động sai, bị Trung Quốc đánh và bị bao vây cấm vận suốt hơn một thập kỷ.
Có thể nhắc đến vai trò của TBT Lê Duẩn, hay ông Lê Đức Thọ trong chuyện này, nhưng người phụ trách đối ngoại Nguyễn Duy Trinh vẫn phải chịu trách nhiệm nào đó. Tất nhiên, tôi chưa kết luận vì không tiếp cận được biên bản ghi quá trình thảo luận để ra được nghị quyết ấy.
Ông Nguyễn Cơ Thạch là người có tư tưởng rất sáng, đánh giá tình hình thế giới rất chuẩn xác, nghiên cứu rất sâu, đánh giá rất là chuẩn xác, mà hành động rất năng động. Ví dụ, cái thời Việt Nam bị khốn đốn về vấn đề Campuchia là thời ngoại giao năng động nhất, luôn có những hoạt động ngoại giao lớn, khi thì chơi với anh này khi thì tập hợp với anh kia, để chống trả anh khác.
Người thấm nhuần nhất tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ông Nguyễn Cơ Thạch, người bảo vệ tốt nhất lợi ích của Việt Nam. 
Xin cám ơn ông Vũ Dương Huân đã dành thời gian cho Tuần Việt Nam.
Huỳnh Phan (thực hiện)

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Nhận thức về HỒ CHÍ MINH - dân tộc hay cộng sản?

Nhận thức về HỒ CHÍ MINH - dân tộc hay cộng sản?

28 Tháng Mười 2015 4:52 CH
NGUYỄN CHÍNH (Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM)

Bookmark and Share

Hình ảnh của Nhận thức về HỒ CHÍ MINH - dân tộc hay cộng sản?
Tôi là một nhà báo về hưu, 85 tuổi, mua dài hạn tạp chí Hồn Việt từ mấy năm nay. Tôi đọc Hồn Việt rất đều. Có mấy bài của Hồn Việt về Chủ tịch Hồ Chí Minh làm tôi đặc biệt chú ý: bài “Huyền thoại kép” Hồ Chí Minh: vinh quang và những hệ lụy của Ngô Trần Đức (Hồn Việt số 81, tháng 5-2014) và Nhận thức về Hồ Chí Minh - những năm tháng gian nan của đất nước của Lê Kỳ Sơn (Hồn Việt số 94 và 95, tháng 7, 8-2015) giúp bạn đọc hiểu thêm về mấy khúc gian nan của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mấy đoạn lịch sử còn chưa được làm rõ đối với quốc dân. Tôi làm báo gần 30 năm, phần lớn tác nghiệp trong lĩnh vực thời sự chính trị, và hồi đầu kháng chiến làm nhân viên văn phòng chủ tịch (không phải ở ngay chỗ ở của Bác) hơn 4 năm trên ATK, mà có chi tiết bây giờ mới biết, đọc đến giật mình. Tôi rất cảm ơn tòa soạn và các tác giả. Cũng mong Hồn Việt sẽ tiếp tục có những bài giá trị về các đề tài kiểu này. Bởi đây không chỉ là những điều ẩn khuất của lịch sử hiện đại Việt Nam, nhiều người tò mò muốn biết đích xác, vả lại mọi con dân nước Việt đều có quyền được biết, mà còn là vấn đề quan điểm, nhận thức về đường lối, chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam.
Tôi có một số ý kiến xin mạo muội đóng góp thêm với tòa soạn và các tác giả.
1. Về vụ Nguyễn Ái Quốc bị “đâm sau lưng”
Có thể nói như vậy về vụ các đồng chí Trần Phú, Hà Huy Tập và sau này là Trần Ngọc Danh đã “tố giác” với Quốc tế Cộng sản, với Stalin về các “tội” của Nguyễn Ái Quốc.
Tôi không oán trách gì về Trần Ngọc Danh. Hồi 1948-1949 tôi ở Việt Bắc, đã biết (do nghe hóng hớt và đọc tin, đọc báo chứ không phải được phổ biến chính thức) rằng anh Trần Ngọc Danh, đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris từ 1946 đến lúc đó, chiến tranh đã nổ ra, đại diện ta vẫn hoạt động ở thủ đô địch, nhưng đến một lúc Pháp định bắt anh Danh và dẹp cơ quan đại diện của ta. Anh Danh sợ bị bắt, đã tự ý đóng cửa cơ quan và đem cả vợ con chạy sang Tiệp. Hình như khi ở Tiệp, anh có phát biểu thắc mắc gì đối với Trung ương (tôi mang máng nhớ lúc ấy anh phản ứng về việc ta phát động toàn quốc kháng chiến, cho là hiếu chiến, gây chiến - như luận điệu của Pháp). Về nước, anh bị kỷ luật vì đào nhiệm chạy trốn. Sau đó anh ốm đau và chết. Vụ này tôi cho là bình thường. Anh Danh sai lầm, đã bị xử trí.
Còn ông anh của Trần Ngọc Danh và Hà Huy Tập thì khác. Trần Phú nhân danh ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản về triệu tập Đảng Cộng sản Việt Nam, bỏ các văn kiện thời hội nghị thành lập Đảng, làm đảo chính hạ Ban Chấp hành Trung ương cũ, và cử Ban Chấp hành mới do mình làm Tổng bí thư, rồi đưa ra nghị quyết mới, trong đó có bản cương lĩnh mà ngày nay được đặt lên bàn thờ, coi là bản cương lĩnh đầu tiên do Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thảo ra. Có hồi tham gia soạn thảo lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất, tôi đã nghiên cứu cương lĩnh này, thật ra đó là sự sao chép từ Quốc tế Cộng sản, đậm đặc đấu tranh giai cấp. Đây chính là ngọn đuốc soi đường cho Xô viết Nghệ Tĩnh và theo cá nhân tôi, “tro khói” của nó còn “ám” theo Đảng ta đến tận khởi nghĩa Nam Kỳ, mặc dù đã trải qua mấy năm Mặt trận Bình dân. Chuyện ấy cũng không tính cho hai vị Trần, Hà, bởi đó là lệnh áp đặt của Quốc tế Cộng sản và Stalin. Bên Trung Quốc hồi đó là Tổng bí thư Lý Lập Tam, người được Quốc tế 3 tin cậy, và ông này đã dẫn tới thất bại đẫm máu Xô viết (cũng Xô viết) Quảng Châu; rồi cuộc vây tiễu thứ 5 của Tưởng đánh vào Khu giải phóng Hoa Nam (rất rộng lớn), Đảng Cộng sản Trung Quốc phải bỏ Khu giải phóng, mở cuộc trường chinh thoát hiểm, và trên đường đi đã hạ bệ Lý Lập Tam, mở kỷ nguyên Mao Trạch Đông. Stalin ngậm bồ hòn.
Điều không thể chấp nhận đối với Trần Phú và Hà Huy Tập là các ông đã “kể tội” Nguyễn Ái Quốc bằng cách mật báo cho Moskva, không những nói cái “dân tộc chủ nghĩa” ở Nguyễn mà Stalin đã chú ý và thành kiến, mà còn gieo nghi ngờ rằng Nguyễn đã đầu hàng, chống Liên Xô. Tố giác vào ngay lúc ở Liên Xô đang có cao trào thanh trừng đẫm máu của Stalin, trong đó chính các đồng chí người Nga phụ trách hoặc đồng sự của Nguyễn ở Viện phương Đông và phái đoàn Borodin rồi cũng đều bị bắt, bị giết. Có nghĩa là Trần và Hà quyết đưa Nguyễn vào cửa tử, đúng lúc Nguyễn đang cảnh lao đao lại đâm đầu vào cửa tử đang mở rộng. Sao họ “đâm sau lưng” Nguyễn Ái Quốc như thế? Bởi ý thức bônsêvích hồi ấy? Bởi tư thù? Bởi động cơ địa vị? (không chắc, vì thời ấy Đảng ta - Việt Nam chưa mắc “bệnh” này nhiều, chức trong Đảng càng to thì càng gần máy chém. Vả lại Trần Phú đã là Tổng bí thư rồi kia mà!)…
Tôi thiết tưởng giới sử học ta phải tìm hiểu sâu chuyện này. Nếu bài báo của Hồn Việt phát hiện là đúng, thì phải yêu cầu Trung ương Đảng nói lại rõ ràng. Hai ông Trần, Hà đã hoạt động và kiên cường chống đế quốc thì ta cứ vinh danh như bao liệt sĩ cách mạng khác. Còn cái Cương lĩnh 90 Hàng Bông Nhuộm có giá trị đến đâu thì các sử gia, lý luận gia xem xét kỹ và thẩm định. Riêng việc tung hô các ông ấy là học trò xuất sắc của Bác Hồ thì xin cắn cỏ lạy các vị, nên chấm dứt đi vì nó quá lố bịch! Vinh danh quá đáng, mù quáng Trần Phú và Hà Huy Tập, thật “kính chẳng bõ phiền”!
2. Nhận thức về Hồ Chí Minh - dân tộc/ cộng sản?
Cùng tìm hiểu và phân tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những thời điểm gian khó khắc nghiệt nhất trong cuộc đời hoạt động chính trị của Người, nhưng “Huyền thoại kép...” bàn về tài năng, sự kiên định của Người khi vượt qua những cuộc chiến có khi tới mức “sinh tử” đó, còn “Nhận thức…” của Lê Kỳ Sơn lại có tham vọng đi tới một nhận thức dứt khoát về một huyền thoại của dân tộc bằng cách tìm một cái nhìn thật rộng, thật sâu vào bản chất của vĩ nhân Hồ Chí Minh. Tham vọng quả là quá lớn, e rằng còn rất lâu mới có thể tàm tạm thu lại các đầu mối, chứ chưa nói đến kết luận cuối cùng.
Tôi chỉ xin có một chút ý kiến nông nổi góp với bài báo, chứ không phải góp vào việc thảo luận vấn đề (là chuyện tôi không đủ sức).
Nói chung, tôi hoan nghênh bài “Nhận thức…” của Lê Kỳ Sơn nhưng chỉ đồng tình một nửa. Tôi đồng ý với ông rằng về bản chất Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động chính trị có căn cốt dân tộc chủ nghĩa từ đầu chí cuối - Stalin không nhận định sai mà Nguyễn Ái Quốc cũng đâu có chối. Tôi đinh ninh Bác Hồ của thế hệ chúng ta trước sau vẫn mang cốt cách và tâm hồn một ông đồ yêu nước, mà cụ thể hơn, là một ông đồ Nghệ chứ không phải xứ nào khác. Rõ ràng nhờ sự toàn tâm toàn ý với Tổ quốc Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam và những người cộng sản Việt Nam đến thắng lợi “cự thế vô song” như Chu Ân Lai thừa nhận. Nhìn rộng ra: cùng thời này, cũng nhờ vững vàng trên cái nền cách mạng dân tộc mà các đảng cộng sản (ĐCS) cũng đã thắng lợi ở Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba(*) (Triều Tiên không tự giải phóng cả 2 lần vào năm 1945 và 1950, nhưng họ đã đứng vững, một phần vì họ tự ái dân tộc rất ghê gớm, không cho ai sai khiến mình; còn Cuba của Fidel vô cùng oanh liệt và đã toàn thắng, một số lần đã cưỡng lại Liên Xô và thành công, có thời Cuba cũng thẳng tay vạch mặt Mao đi đêm với đế quốc Mỹ). Cũng thời ấy, sau thế chiến 2, một số cuộc cách mạng của phái tả nhưng theo lối cũ đã thất bại. Gần ta, cũng vũ trang, có ĐCS Mã Lai, ĐCS Miến Điện; bên trời Âu thì có ĐCS Hy Lạp (Tito vẫn tố chính Stalin phản bội, bỏ mặc cho phản động Hy Lạp được Anh - Mỹ viện trợ dẹp tan cuộc chiến đấu vũ trang của ĐCS Hy Lạp sau thế chiến 2, mặc dù trước đó, chống Hitler, cuộc kháng chiến của ĐCS Hy Lạp đã phát triển rất mạnh, khu giải phóng rộng lắm). ĐCS Pháp và ĐCS Ý trong chiến tranh du kích đóng góp rất anh dũng, gây được thế lực rất mạnh, thế mà sau chiến tranh cũng bị bọn phái hữu dựa thế Mỹ chèn lấn và hất văng khỏi địa vị chính trị vốn áp đảo của mình. Phải chăng vì các đảng ấy quá trung thành với Quốc tế đệ tam nên đã tự “gột sạch chủ nghĩa dân tộc”, rốt cuộc vốn liếng nội lực rỗng tuếch, kẻ địch chỉ đẩy một cái là đã lăn kềnh?
Ông Mao ở Trung Quốc là tay vận dụng “chủ nghĩa dân tộc” bậc thầy. Ông ta đưa ra luận thuyết ba thế giới, gom tất cả các thuộc địa, các nước đang phát triển thành một trong ba phe lớn của thế giới, để thiên hạ tôn ông là “giáo chủ” của phe ấy. Sự đầu tư của chủ nghĩa Mao vào chiêu bài dân tộc chủ nghĩa đã đem lại siêu lợi nhuận, đưa Trung Quốc lên thành siêu cường số 2 khi mà một thế giới trong ba đã bị đổ sập; bây giờ thì hậu duệ của ông ta đã có thể ngang nhiên cho thế giới thấy rõ: “Trung Quốc không bao giờ xưng bá, chỉ vì ta muốn xưng đế kia!”. Mỹ, Nga, Trung đều đang phát huy “chủ nghĩa dân tộc lớn”.
Dân tộc không chỉ là khái niệm, mà là thực thể trường tồn với lịch sử loài người. Từ chủng tộc, bộ tộc, sắc tộc đến dân tộc, phải thấy dân tộc tồn tại từ khi chưa có giai cấp. Và mãi sau này, không còn giai cấp đi nữa (nếu chủ nghĩa Mác là đúng) thì dân tộc vẫn còn. Bởi vậy trong hoạt động chính trị quốc gia và quốc tế, ai coi nhẹ và bất chấp vấn đề dân tộc sẽ bị thất bại, ai vận dụng tốt nó sẽ có lợi (kể cả Hitler, Hoàng đế Nhật Bản, Gandhi…), miễn đừng lạm dụng quá trớn, quá dại!
Nói đi cũng nên nói lại. Tôi nhớ sau thế chiến 2, có lúc chính Stalin đã nói khác về vấn đề này: Với các ĐCS nước thuộc địa hoặc đang phát triển, “Đảng cộng sản phải nắm lấy và giương cao ngọn cờ dân tộc, biến mình thành dân tộc” (!). Câu này, tôi nhớ đã đọc thấy trong cuốn sách nhỏ Một số vấn đề về kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm các bài viết, nói, thư trích của Stalin thời kỳ 1950-1954, nghĩa là không lâu trước khi đại lãnh tụ tạ thế. Tôi không còn giữ tập này, nhưng có lẽ cũng không quá khó kiếm, các vị tác giả bài báo có thể thử tìm xem. Trong tập này còn có một bài Stalin nói về ngôn ngữ học, sau được coi như “Thánh kinh” của ngôn ngữ học Xô viết. Trong đó ngài có phán: “ngôn ngữ không có tính giai cấp”, làm tôi (hồi ấy) vô cùng ngạc nhiên. Sau này trưởng thành hơn, mới biết là trên đời này có vô vàn những thứ không hề có tính giai cấp, mà người ta lại cứ hơi một tí là giở “tính giai cấp” ra, là để dọa anh em, lòe người đời.
Điều tôi bất đồng với tác giả Lê Kỳ Sơn là: bài “Nhận thức…” đã chia Hồ Chí Minh thành hai nửa: yêu nước - cộng sản, riêng biệt nhau, đối lập thậm chí loại trừ nhau. Trong đó phần yêu nước là gốc, là mục đích cao nhất, là tự nguyện, là thật hoàn toàn, còn cộng sản là ngọn, là phương tiện hoặc công cụ ngoại lai, là bề ngoài ngụy trang. Thiện chí của tác giả bài “Nhận thức…” là ở chỗ: tác giả đã giải thích và chứng minh cái thế mắc kẹt của Hồ Chí Minh trong những tình thế gian nan ấy, để mong người đọc sẽ thương cảm và thông cảm với người yêu nước Hồ Chí Minh, càng yêu mến và kính phục về những hy sinh, chịu đựng trùng trùng mà Hồ Chí Minh đã gánh chịu và vượt qua. Nhiệt tình đến mức: bài thơ về mất tự do trong tập Nhật ký trong tù với câu kết “Để người ta dắt tựa trâu bò”, bài thơ Hồ Chí Minh làm trong nhà tù Quốc dân đảng Trung Quốc năm 1943, đã được dẫn ra để vận vào sự nghiệp cả đời đầy “ràng buộc khắc nghiệt mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã không thể vượt qua”.
Tôi đã nói là chỉ dám phát biểu về bài báo, trong phạm vi ấy thôi. Thì thế này: Trước khi xác định Hồ Chí Minh-cộng sản là thật hay vờ, anh phải tìm xem: đối với Việt Nam, cộng sản có phải toàn là mặt tiêu cực không? Có những tác dụng tích cực gì? Hồ Chí Minh nếu không cộng sản thì sao? Anh sẽ thấy nếu thế thì đã không có Hồ Chí Minh và không có sự nghiệp cách mạng như ngày nay. Việt Nam đã từng có hàng ngàn hàng vạn ông đồ cực kỳ yêu nước, cực kỳ tận tụy hy sinh và không bị kẹt bởi chủ nghĩa nào cả, chỉ vướng cái “chi hồ giả dã” và triều đình ngu tối, chứ không bị giáo lý nào ràng buộc, nhưng chỉ thành nhân và hy vọng thành danh, chứ không ai thành công. Chỉ Nguyễn Ái Quốc thành công, ấy là vì sao, nếu không phải bởi Người đi con đường cộng sản? Mà đã đi con đường ấy một cách giả vờ thì làm sao thành công? Ta cứ ca tụng “dĩ bất biến ứng vạn biến”, ông tướng cộng sản vờ không có “bất biến” nào mà chỉ toàn “vạn biến” thật giỏi, thì cứ quay tít như con thò lò, hỏi rằng đánh đấm gì?!
Tôi không dẫn chứng gì vì không phải nhà khoa học, nhưng tôi tin chắc rằng chúng ta bàn luận trên báo phải rất kỹ lưỡng và tôn trọng các sự thật lịch sử bằng cách cố gắng thẩm định chúng cho đến nơi đến chốn.

_____
(*) ĐCS Indonesia cũng rất mạnh, đã ngấp nghé cầm quyền. Sau độc lập ĐCS Indonesia liên minh ủng hộ Sukarno và trở nên một đảng lớn, vị thế áp đảo. Nhưng năm 1965, phái hữu nổi dậy chống Sukarno, ĐCS Indonesia nghe Trung Quốc “xui dại”, làm một cuộc đảo chính non, thất bại, mất sạch.

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

Góp thêm tư liệu về cuốn sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch" & tác giả Trần Dân Tiên

Góp thêm tư liệu về cuốn sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch" & tác giả Trần Dân Tiên

  •   KIỀU MAI SƠN
  • Thứ năm, 31 Tháng 8 2017 14:55
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Cuốn sách “Hồ Chí Minh truyện”, bản tiếng Trung, in tại Thượng Hải (1949)Cuốn sách “Hồ Chí Minh truyện”, bản tiếng Trung, in tại Thượng Hải (1949)
Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 340, ra ngày 10/5/2017 có bài “Điểm lại những tác phẩm về Tiểu sử Bác Hồ xuất hiện sau ngày độc lập” của PGS Song Thành (Học viện CTQG Hồ Chí Minh). Trong bài viết của mình, tôi chỉ góp thêm tư liệu để làm rõ thêm những điều xung quanh cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” và tác giả Trần Dân Tiên. Bài viết này chỉ là “góp thêm” để vấn đề được rộng mở hơn.
HOÀN CẢNH RA ĐỜI
Sau khi đánh tan cuộc tấn công của thực dân Pháp lên chiến khu Việt Bắc thu đông 1947, chính phủ kháng chiến Việt Nam DCCH đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành mở rộng quan hệ đối ngoại tạo cuộc đột phá về ngoại giao. Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng mùa xuân năm 1948 đã được Tổng bí thư Trường Chinh giao nhiệm vụ tổ chức một đoàn ngoại giao đầu tiên có 10 người, gồm đại biểu các đoàn thể nhân dân… ra nước ngoài để tuyên truyền về đường lối chính sách của Chính phủ kháng chiến Việt Nam DCCH.     Đây là đoàn ngoại giao đầu tiên ra nước ngoài mà không hề có một nhà ngoại giao chuyên nghiệp nào.
Mười người, đó là:Nguyễn Chương - Ủy viênXứ uỷ Bắc Kỳ (sau này làm Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương); Trần Mai - Phụ trách tỉnh đội dân quân Nghệ An (lấy vợ là Việt kiều Thái Lan); Lê Đức Chỉnh - Cán bộ trung đoàn trưởng (sau này là Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục TDTT); Nguyễn Văn Dậu - Cán bộ trung đoàn trưởng (về sau đi cùng bác sĩ Phạm Ngọc Thạch sang công tác tại Capuchia, từ đó mất liên lạc); Trần Thanh - Cán bộ sinh viên (giảng viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài); Ngô Điền- Sinh viên (sau này là Đại sứ Việt Nam tại Campuchia); Nguyễn Văn Hướng - Cử nhân khoa học (trước khi nghỉ hưu là Vụ trưởng – Ủy ban Khoa học Nhà nước – nay là Bộ Khoa học và Công nghệ); Nguyễn Song Tùng - Đại diện thanh niên khu IV (sau này là Đại sứ Việt Nam tại CHDC Đức); Nguyễn Minh - Công nhân trường Kỹ nghệ thực hành (Phó Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trước khi nghỉ hưu); Hoàng Nguyên: Cử nhân Luật (sau này làm Vụ trưởng Bộ Ngoại giao).
Khi đoàn lên đường, đã nhận được một bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như sau:
“Gửi các đồng chí lên đường!
            Một, chúc các đồng chí lên đường, chân cứng đá mềm, thuận buồm xuôi gió.
            Hai, các đồng chí đi đường sẽ cực khổ, công tác sẽ khó khăn. Các đồng chí phải đem toàn tinh thần và nghị lực của thanh niên yêu nước mà chịu đựng, phấn đấu, khắc phục mọi sự gian nan để tranh thắng lợi.
            Ba, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ to nhỏ, các đồng chí phải luôn nhớ rằng: Mình là đại biểu cho thanh niên yêu nước, ra ngoài để giúp anh em công tác, để đem tình thân ái của Tổ quốc cho Kiều bào và để giúp họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam.
           Bốn, các đồng chí phải: ở trong nội bộ thì thương yêu giúp đỡ nhau, phê bình và học tập nhau. Trong công tác thì cố gắng làm cho đầy đủ nhiệm vụ, làm cho xứng đáng lòng tin cậy của anh em thanh niên, của đoàn thể và của đồng bào.
       Mong rằng các đồng chí sẽ nhớ kỹ những lời thành thật đó, và sẽ làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó.
Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.
Chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 02 – 1948.
Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Văn Hướng, một thành viên trong đoàn ngoại giao được triệu tập lên Việt Bắc để chuẩn bị lên đường. Ông đến muộn nên đi chuyến sau. Khi đi, có một cán bộ Văn phòng Chủ tịch phủ đã đưa ông cuốn sách được đánh máy trên giấy pơluy bằng tiếng Pháp. Đó chính là cuốn sách sau này được dịch ra tiếng Việt và in trong nước năm 1955 mang tên: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”. Ông Nguyễn Văn Hướng kể lại với người viết bài này: Một số trang đều có bút tích sửa chữa một vài lỗi. Đã được xem trên báo nhiều công văn, chỉ thị hoặc lời kêu gọi của Chính phủ nên ông Hướng rất sung sướng nhận ra:“Đó là bút tích của Bác Hồ”.
BẢN DỊCH TIẾNG ANH CỦA HOÀNG NGUYÊN
Vượt Trường Sơn sau bao ngày gian khó, lần lượt qua Pắc xan, Bôrikhan – ta thường gọi là Bùng Càn, Băng Cốc (Thái Lan), Đoàn đến Miến Điện (nay gọi là Myanma). Tại thủ đô Ranggun, có một cơ quan đại diện Chính phủ Việt Nam DCCH do bác sĩ Trần Văn Luân, một đồng chí Nam Bộ, đứng đầu. Mỗi thành viên trong Đoàn đều nhận công tác mới. Ông Hoàng Nguyên – cũng là một thành viên trong Đoàn - được cử làm Giám đốc Phòng thông tin Việt Nam do chính phủ Miến Điện cho phép thành lập. Nhiệm vụ của Phòng là thu thập thông tin thế giới gửi về trong nước đồng thời phát hành các bản tin tuyên truyền cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Ngoài các bản tin ra đều đặn gần như hàng tuần, Phòng thông tin Việt Nam còn ra những cuốn sách nhỏ. Trong đó có hai cuốn nguyên văn tiếng Pháp, đó là: “Cuộc tiến công lên Việt Bắc”, trình bày rõ kế hoạch và sự thất bại của thực dân Pháp. Và cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” tác giả Trần Dân Tiên.
Sau ngày kháng chiến toàn quốc từng làm Trưởng phòng báo chí Bộ Quốc phòng, ông Hoàng Nguyên nhận ra ngay cuốn sách rất có lợi đối với công tác tuyên truyền đối ngoại. Trong khi viết bài tuyên truyền, những tin tức thế giới thu thập được làm ông trăn trở. Thế giới biết rất ít thông tin về Việt Nam. Ngay Liên Xô trong công tác tuyên truyền quốc tế về Việt Nam và Đông Dương cho thấy: từ năm 1935 – 1940 xuất bản 27 cuốn sách và bài báo, năm 1941 – 1945 chỉ có 7 và những năm 1945 – 1947 chỉ có 4. Những bài viết về châu Á trong năm 1946 – 1947 chỉ có 1 bài nói về Việt Nam, trong khi đó có 10 bài nói về Trung Quốc, 9 bài nói về Triều Tiên, 11 bài nói về Nhật Bản. Năm 1948 không có bài nào nói về Việt Nam (Nguồn: Tài liệu trường ĐH Washington, Servic de traduction de la presse russe).
Các nước đế quốc tư bản chủ nghĩa thời đó, dùng nhiều mánh khoé xuyên tạc về cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc của Việt Nam. Nước Mỹ trong chiến tranh thế giới từng được Việt Minh giúp đỡ ở chiến khu. Nhưng khi Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam là Hồ Chí Minh tám lần gửi điện văn công hàm đến Tổng thống Mỹ Truman, với đề nghị lập được mối quan hệ liên lạc thường xuyên, chính thức hay không chính thức với Chính phủ Mỹ, cả tám lần đều không có câu trả lời, dù là một tín hiệu nhỏ nhoi cho biết họ đã nhận được các bức điện đó.
Các Đảng Cộng sản châu Âu hoài nghi đường lối cách mạng Việt Nam. Họ thắc mắc vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố tự giải tán (11/11/1945). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư, điện cho người đứng đầu Chính phủ Liên Xô các ngày 22/9/1945, 21/10/1945, tháng 9/1947 Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch - Đặc phái viên của Hồ Chủ tịch – sang Thuỵ Sĩ để gặp một phái viên của Chính phủ Xô Viết. Ông còn mang theo thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Xtalin yêu cầu Liên Xô đưa vấn đề xung đột Pháp – Việt ra Liên Hợp Quốc… Nhưng tất cả đều không có lời đáp …Việt Nam bị cô lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh, được coi là một nhà dân tộc chủ nghĩa.
Làm việc trên gác ngôi nhà gỗ, là trụ sở Phòng thông tin Việt Nam, tại đường Boundary Road, ông Hoàng Nguyên bắt tay vào dịch sách từ tiếng Pháp sang Anh ngữ. Ở Băng Cốc (Thái Lan) ông đã say mê cuốn này vì tư liệu phong phú về cuộc đời Hồ Chủ Tịch. Qua từng trang sách, chân dung người cầm lái con tàu cách mạng Việt Nam hiện lên gần gũi như mọi người bình thường nhất từ thuở Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh. Tất cả đều từ hai bàn tay lao động cùng với sức sáng tạo của trí tuệ mà ra. Chứ không phải như khi học trường Bưởi, thế hệ của ông được nghe những lời rỉ tai về Nguyễn Á Quốclà một nhà cách mạng xuất quỷ nhập thần, chu du bốn biển, mật thám Pháp – Anh không tài nào bắt nổi. Có cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hồi đó còn tạo ra nhân vật Nguyễn Ái Quốc võ nghệ siêu quần, anh hùng hảo hán… Trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” nghệ thuật viết truyện của Trần Dân Tiên dí dỏm đã cuốn hút ông. Dồn cả tâm sức vào cuốn sách, ông Hoàng Nguyên dịch say sưa, cẩn thận, tỉ mỉ. Những chỗ nào còn chưa chắc chắn về thuật ngữ tiếng Anh, ông trao đổi cùngmột đồng chí Đảng viên Đảng Cộng sản người Ấn Độ tên là Valeju sống trong cơ quan như mọi người Việt Nam khác.
Khi bản thảo hoàn chỉnh, ông Valeju giúp đỡ hiệu đính lại lần cuối cùng. Bản dịch Anh ngữ của ông Hoàng Nguyên lập tức được phổ biến ra nhiều nơi khác.
Cùng với bản dịch tiếng Trung tại Thượng Hải - Trung Quốc, bản dịch tiếng Thái và tiếng Việt tại Thái Lan… “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” làm tài liệu nền tảng cơ sở vững chắc trả lời câu hỏi thắc mắc của thế giới về Việt Nam.

CỦA TIN CÒN MỘT CHÚT NÀY
Đó là một trang giấy đánh máy viết ngày 24/9/2002 của ông Hoàng Nguyên. Thời gian này, ông đang tập trung viết hồi ký về Hội nghị Genève nhân kỷ niệm 50 năm hội nghị này (1954 - 2004). Những năm trước khi ông Hoàng Nguyên qua đời (2007), tôi có vài dịp qua thăm ông. Kể cả khi ông mất, tôi vẫn giữ liên hệ với gia đình. Tư liệu này do bà Ngô Thị Mỹ Văn, vợ ông Hoàng Nguyên cung cấp cho tôi. Ông Hoàng Nguyên viết về cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”như sau:
Về cuốn sách“Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”ký tên tác giả Trần Dân Tiên
“Đó là vào đầu năm 1948. Nhà nước Việt Nam DCCH mới thành lập, đã phải lao vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Trên thế giới, rất ít người biết về nước Việt Nam mới và về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy phải giới thiệu về nước Việt Nam cách mạng và về vị lãnh tụ của nước đó.
Nhằm mục đích đó, Tổng bí thư hồi đó là đồng chí Trường Chinh đã phái một đoàn anh em thanh niên đi ra nước ngoài, theo hướng sang Thái Lan, để làm “ngoại giao nhân dân”. Và có lẽ cũng nhằm mục đích đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho viết cuốn sách nói trên để giới thiệu và nói qua về những công việc cách mạng mà mình đã làm.
Tôi, Hoàng Nguyên, là nằm trong số anh em được đồng chí Trường Chinh lựa chọn đi làm “ngoại giao nhân dân” và đồng chí Nguyễn Văn Hướng cũng nằm trong số đó. Trước hết, tôi là người đã chờ tại một nơi gần nhà ở của Hồ Chủ Tịch tại an toàn khu (ATK) để đợi Người làm xong cuốn sách đó, thì sẽ mang đi ra nước ngoài. Nhưng vì có một việc gì đó, không đợi lâu được, cho nên đồng chí Nguyễn Văn Hướng đã thay tôi đợi. Sau chính đồng chí Nguyễn Văn Hướng là người cầm cuốn sách đó đưa sang Băng Cốc, và cuốn sách lập tức được dịch từ tiếng Pháp - vì Hồ Chủ Tịch đánh máy cuốn sách đó bằng tiếng Pháp - sang tiếng Thái và tiếng Việt để phổ biến cho người Thái và Việt kiều. Sau tôi (Hoàng Nguyên) đã đưa bản tiếng Pháp sang Rangoon, là nơi tôi được cử sang làm tuyên truyền đối ngoại tại Phòng Thông tin trực thuộc Cơ quan đại diện của ta do bác sĩ Trần Văn Luân làm thủ trưởng. Tại Rangoon, tôi đã bắt tay vào dịch cuốn sách sang tiếng Anh, với sự hiệu đính của một người Ấn Độ làm việc tại cùng cơ quan, là anh Valenju. Sau khi có bản Anh văn, cuốn sách đã được gửi sang Praha - Tiệp Khắc, là nơi ta cũng có một cơ quan đại diện, để nhân lên và phổ biến ra nhiều nơi khác trên thế giới.
Cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên,
bản tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn nghệ (1955)

MẠN ĐÀM VỀ BẢN THẢO CUỐN SÁCH
Như vậy, qua những tư liệu nói trên của Nhà ngoại giao Hoàng Nguyên (1924 – 2007), chúng ta thấy đã có nhiều bản dịch cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”ký tên tác giả Trần Dân Tiên. Nguyên bản cuốn sách viết bằng tiếng Pháp. Sau đó, cuốn sách được dịch sang tiếng Việt và tiếng Thái để phổ biến cho Kiều bào ở Thái Lan, dịch sang tiếng Anh để làm đối ngoại ở châu Âu…
PGS.TS Đức Vượng trong nghiên cứu của mình cũng xác nhận tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, bản thảo đầu tiên viết bằng tiếng Pháp. Ông Đức Vượng còn cho biết thêm: Bản dịch sang tiếng Việt nhan đề: “Tiểu sử Hồ Chí Minh” do Xuân Hiên dịch vào khoảng từ năm 1945 đến năm 1947. Năm 1948, tác phẩm này được Valenju, chuyên gia tiếng Anh, dịch sang tiếng Anh và được phát hành tại nước ngoài. Tiếp đó, vào năm 1949, tác phẩm được dịch sang tiếng Trung Quốc, do Bát nguyệt san xã xuất bản tại Thượng Hải.
Nội dung bản tiếng Trung được in ở Thượng Hải năm 1949 có những đoạn và có chương không có trong bản tiếng Việt in tại Việt Nam năm 1955 mà tôi sẽ dẫn ở phần kết của bài viết này.
Năm 1955, Nhà xuất bản Văn nghệ xuất bản cuốn sách này bằng tiếng Việt. Sau đó, tác phẩm này được tái bản nhiều lần.Tiếc rằng, với ấn phẩm có trong tay, tôi không tìm được những thông tin về số lượng in hay nơi in cuốn sách này cùng những người chịu trách nhiệm cho ra đời cuốn sách. Song, ngay trong Lời Nhà xuất bản đề tại Hà Nội, tháng 8/1955 đã viết rõ: “Nhà xuất bản Văn nghệ nhận được tập bản thảo của ông Trần Dân Tiên nhan đề “Những mẩu chuyện  về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, viết năm 1948. Như lời thanh minh của tác giả: tập bản thảo này không phải là một quyển tiểu sử của Hồ Chủ tịch, mà chỉ là một “quyển chuyện giúp đồng bào biết vài mẩu chuyện của vị lãnh tụ đã xây dựng nước Việt Nam DCCH”.
Ấn hành cuốn sách, Nhà xuất bản Văn nghệ hy vọng “nó sẽ góp một phần nhỏ vào việc biên soạn một quyển tiểu sử của Hồ Chủ tịch và đáp ứng một phần nào lòng mong mỏi của đồng bào ta”.
Cuốn tiểu sử Hồ Chủ tịch đã được Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương cho ra mắt lần đầu tiên vào năm 1960.
Về tên tác giả cuốn sách, PGS.TS Đức Vượngcho biết: “Theo ông Vũ Kỳ, tên tác giả là Trần Dân Tiến chứ không phải Trần Dân Tiên. Ông giải thích rằng “Dân Tiến” là “dân tiến lên”. Nhưng các lần xuất bản đều ghi là Trần Dân Tiên, không thấy bản in nào ghi là Trần Dân Tiến”.
Còn người viết bài này, cũng được Nhà văn Sơn Tùng khi còn khỏe, trong dịp trao đổi, đã dặn dò: Tên tác giả là Trần Dân Tiến, nhưng khi đưa bản thảo do bị mờ nên khi in bị mất dấu sắc, mà thành Trần Dân Tiên. “Trần mà như thế kém gì tiên”, cũng là một cái tên có ý nghĩa – Nhà văn Sơn Tùng giải nghĩa.
Vậy tác giả Trần Dân Tiên là ai? Điều này còn có những ý kiến khác nhau. Một số người cho rằng đây chính là một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. PGS.TS Đức Vượngkhẳng định đây không phải bút danh của Hồ Chí Minh.
“Qua nghiên cứu và đối chiếu với nhiều loại văn bản, chúng tôi cho rằng, tác phẩm này do Hồ Chí Minh kể, còn người ghi là một số người giúp Bác trong công việc soạn thảo văn bản hồi năm 1945 – 1946, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Có người đưa ra tên của những người ghi là Phan Mỹ, Hoàng Minh Giám, Trần Đình Long, Vũ Kỳ… Người (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh – KMS) có viết thêm vào một số đoạn”
Ông Đức Vượng còn dẫn chứng thêm: “Trong bài “Hồ Chí Minh – Đời riêng” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đăng trên báo Nhân Dân, số xuân Tân Mùi – 1991 – không thấy nói gì đến tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” và tác giả Trần Dân Tiên” [1].

BẢN DỊCH TIẾNG TRUNG IN TẠI THƯỢNG HẢI (1949)
Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh truyện” (Tiểu sử Hồ Chí Minh) của tác giả Trần Dân Tiên do Trương Niệm Thức dịch sang tiếng Trung Quốc, in bằng chữ Hán (riêng tên tác giả bằng chữ Việt), Bát nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, chương 27 không có trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, bản tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn nghệ, 1955).
Chương này có tên “Những người khách Mỹ của Cụ Hồ trước Cách mạng tháng Tám”. Dưới đây, tôi xin trích một đoạn trong chương 27 qua bản dịch của dịch giả Phác Can - bút danh của PGS Phan Văn Các, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, để khép lại bài viết này.
“Thiếu tá Tô-mát dẫn toán của anh và các chiến sĩ tình nguyện thuộc quyền anh ở lại cơ sở làm việc. So với người Mỹ, Tô-mát là người gầy bé. Nhưng anh ta là người làm việc không biết mệt mỏi, suốt ngày sục trong rừng, kiểm tra đường sá, nghiên cứu sân bãi, hoặc giảng bài quân sự cho các thanh niên “Việt Minh”. Có lúc anh mạo hiểm đi đến gần trạm gác của quân Nhật, khiến các chiến sĩ tình nguyện “Việt Minh” phải buộc anh lui về.
“Nếu các anh gặp chuyện gì không may, thì chúng tôi biết thưa với cụ Hồ Chí Minh, lãnh tụ của chúng tôi như thế nào?” Người thanh niên cùng đi nói với anh.
“Cho tôi đi tới thêm một chút nữa thôi”. Viên thiếu tá nài nỉ. “Cả các anh và tôi chúng ta đều giấu cụ Hồ Chí Minh, không nói gì về việc này”.
Người Mỹ và người Việt Nam trở thành những đôi bạn rất thân thiết, họ chung sống với nhau rất hữu nghị, sánh vai nhau làm việc. Những lúc nghỉ ngơi, họ thảo luận với nhau đủ mọi vấn đề, đặc biệt là thảo luận các vấn đề chính trị quốc tế. Cụ Hồ Chí Minh nói rằng Cụ rất khâm phục và tôn kính tổng thống Ru-dơ-ven. Khi tổng thống Ru-dơ-ven tạ thế, tất cả các báo chí bí mật của “Việt Minh” đều có đăng tiểu sử của tổng thống, các nơi đều tổ chức lễ tưởng niệm. Tổng thống là người bạn vĩ đại của các dân tộc bị áp bức, cái chét của tổng thống khiến dân tộc Việt Nam thương tiếc một cách sâu sắc. Cụ Hồ Chí Minh nói:
“Đó là một bậc vĩ nhân có dũng khí vĩ đại, ông ta dám nói dám làm”.
Cụ Hồ Chí Minh rất bận, hằng ngày việc liên lạc với những người khách Mỹ của Cụ cần rất nhiều thì giờ. Người Nhật ở cách Bộ tư lệnh của Cụ không xa, có thể nghe thấy tiếng súng, lúc nào cũng có thể bị đánh úp. Đại hội đại biểu của “Việt Minh” sắp họp. Không những thế, Cụ lại bị ốm: làm việc nhiều quá, suy nghĩ nhiều quá và đi nhiều quá.
Để giúp Cụ lấy lại sức khỏe, những người bạn Mỹ của Cụ khuyên Cụ ăn những thứ đồ hộp được chở tới bằng máy bay…/.


[1]PGS.TS Đức Vượng: Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài, NXB Chính trị Quốc gia, 2010, tr. 20.

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

Người giữ sổ tiết kiệm của Bác Hồ

Người giữ sổ tiết kiệm của Bác Hồ

Người giữ sổ tiết kiệm của Bác Hồ
Mười một năm ông được trực tiếp phục vụ Bác Hồ, trong đó nhiều năm là Trưởng phòng văn thư của Văn phòng Phủ Chủ tịch. Sau khi Bác Hồ mất, cũng chừng ấy năm ông là Thư ký riêng của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.
Nhưng có một điều ít người được biết về ông: Ông là người đứng tên “Lê Hữu Lập” trên Sổ tiết kiệm của Bác Hồ, lo nhiều việc chi tiêu của Bác do chính Bác giao.
Ông tiếp tôi trong căn phòng nhỏ chưa đầy 20 m2 của gia đình, ở sâu trong một ngôi nhà có nhiều hộ trên phố Hàng Chuối, Hà Nội. Căn phòng giản dị, có cả một chiếc gác xép lửng giữa phòng, như thường thấy trong nhiều căn hộ tập thể ở Hà Nội. Bộ salon tiếp khách đã cũ, cùng kiểu dáng, kích cỡ với các bộ salon mà nhiều gia đình ở Hà Nội đã sử dụng cách đây hơn mười năm.
Đã ở tuổi gần 90 nhưng sức khoẻ của ông còn tốt, nhất là ông còn rất minh mẫn, nhớ từng chi tiết trong từng câu chuyện kể với tôi về những năm tháng được phục vụ Bác Hồ, Bác Tôn. Có nhiều chuyện ông kể tôi đã được đọc đâu đó trong sách báo, nhưng có những chuyện lần đầu tiên tôi được nghe, được biết.
Hai lần nhận nhiệm vụ đặc biệt
Sau mấy năm học ở trường trung học tư thục Thăng Long, Hà Nội, nơi có các thày giáo nổi tiếng như Bùi Kỷ, Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp…giảng dạy, do gia đình đông anh em, cậu học sinh Lê Hữu Lập đành phải bỏ dở việc học hành, lên Thái Nguyên giúp việc cho một người bà con trong họ làm ăn, buôn bán. Năm 1941, chàng thanh niên Lê Hữu Lập lấy vợ, lại là con cả nên theo lời cha, anh rời Thái Nguyên trở về quê ở Nam Trực, Nam Định làm ruộng và lo việc “thờ cúng tổ tiên”. Thời gian đó, anh càng thấy rõ cảnh khổ cực của bà con nông dân, tận mắt chứng kiến nạn đói thê thảm năm 1945 ở quê nhà. Vì thế, khi Cách mạng Tháng 8-1945 bùng nổ, ông hăng hái tham gia khởi nghĩa, cướp chính quyền ở quê, được kết nạp vào Đảng, rồi làm Bí thư Chi bộ Tiểu khu Nam Trực.
Giữa năm 1947, ông Lê Hữu Lập rời gia đình đi kháng chiến. Hết làm cán bộ Văn phòng Tỉnh uỷ Thái Nguyên, cán bộ Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ, Hiệu trưởng Trường Đảng Hoàng Văn Thụ ở Việt Bắc, ông lại được cử đi tham gia phát động quần chúng đóng thuế nông nghiệp ở tỉnh Hoà Bình, rồi được chọn đi học một ngành hoàn toàn mới, trước đây chưa bao giờ nghĩ tới: ngành cơ yếu! Đầu năm 1952, học xong, lần đàu tiên ông Lê Hữu Lập nhận một nhiệm vụ đặc biệt: về làm công tác cơ yếu tại Văn phòng Trung ương Đảng. Ông là Bí thư Chi bộ đầu tiên của đơn vị cơ yếu này kể từ ngày thành lập…
Năm 1958, khi Bác Hồ cần một cán bộ tin cẩn đã qua công tác cơ yếu để phụ trách Phòng văn thư của Bác, lần thứ hai ông nhận nhiệm vụ đặc biệt: làm Trưởng phòng văn thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cuốn Sổ tiết kiệm và tấm lòng của Bác Hồ
đối với người thân và với người dân bị oan
Tháng 7-1958 ông Lê Hữu Lập chính thức được chuyển sang làm việc tại Văn phòng của Bác Hồ. Thời gian này Bác Hồ mới sang ở nhà sàn, xây dựng xong ngày 19-5-1958. Văn phòng của Bác lúc đó rất ít người, ngoài ông Vũ Kỳ là Thư ký riêng của Bác, đồng thời là Chánh Văn phòng, chỉ có ông Lê Hữu Lập là Trưởng phòng, ông Cù Văn Chước là Phó phòng văn thư, ông Trần Văn Vượng đánh máy và một vài anh em nấu ăn, lái xe, cần vụ… Công việc chính của ông Lập là tiếp nhận và trình Bác những công văn, thư từ, báo chí gửi Bác; trình ký những Sắc lệnh, Thư uỷ nhiệm ngoại giao, các hồ sơ khen thưởng…Báo chí gửi đến, kể cả các báo địa phương, Bác thường đọc rất kỹ, đánh dấu hoặc ghi ý kiến vào những bài báo đáng chú ý, gửi tặng Huy hiệu của Người cho những người làm việc tốt mà báo chi nêu gương. Sau này, khi tuổi Bác ngày một cao, để bảo vệ đôi mắt cho Người, từ năm 1962 ông Lập được giao cùng ông Chước tổng hợp tin tức, lựa chọn tin, bài trên các báo, mỗi ngày hai lần vào đầu giờ buổi sáng và buổi tối trước khi Bác nghỉ, đọc cho Bác nghe…
Ông là người được giao đứng tên “Lê Hữu Lập” trên cuốn Sổ tiết kiệm của Bác, gửi ở một Quầy (Quỹ) Tiết kiệm trên phố Hàng Gai, Hà Nộị Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại sau khi trừ mọi chi tiêu, sinh hoạt và là tiền nhuận bút Bác viết bài cho báo Nhân Dân. Dịp Bác đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền, Bác dặn nhập số tiền đó vào quỹ của Đảng, không để vào Sổ tiết kiệm của Người. Bác thường dùng tiền tiết kiệm để mua quà tặng các đơn vị bộ đội hoặc chi tiêu vào những việc cần thiết. Có lần đi công tác về, thấy bộ đội phòng không trực chiến dưới nắng chói chang của mùa hè, Bác nói ông Lập rút tiền trong Sổ tiết kiệm trao cho Bộ Quốc phòng làm quà, mua nước giải khát cho anh em…
Khi được tin ông Nguyễn Sinh Mợi, người anh em thúc bá bị đau nặng, Bác Hồ tự tay viết thư gửi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An:
“Thân gửi đồng chí Võ Thúc Đồng
Được tin cụ Mợi đau nặng, tôi không có điều kiện về thăm nom chăm sóc. Tôi nhờ đồng chí giúp đỡ chữa chạỵ Tôi cảm ơn. Thân ái”.
Bác giao ông Lập cầm bức thư vào Vinh đưa tận tay đồng chí Võ Thúc Đồng, Bí thư Tỉnh uỷ. Khi biết cụ Mợi không qua khỏi, Bác cho gọi anh Nguyễn Sinh Định, con trai cụ Mợi, cán bộ Uỷ ban hành chính Hà Nội, cùng các con vào chỗ Bác. Bác dặn ông Lập rút từ Sổ tiết kiệm của Bác 200 đồng (tương đương nửa tấn gạo) để giúp lo liệu công việc cho cụ Mợi. Sau nhiều năm phục vụ Bác, lần đầu tiên ông Lập được chứng kiến các cháu gọi Bác bằng ông, bằng chú, thân mật như trong một gia đình. Nhìn ông cháu ân cần, âu yếm bên nhau, ông Lập thật sự xúc động. Ông biết nhiều khi vì công việc chung Bác phải nén tình cảm riêng. Bác muốn họ hàng và cả quê hương tự mình phấn đấu vươn lên, không dựa dẫm, đòi hỏi đặc quyền, đặc lợi…
Bác lo nhiều công việc lớn, nhưng không bỏ qua những việc nhỏ, nhất là những lời kêu oan của người dân. Đọc thư gửi lên Bác, ông Lập phải đọc thật kỹ, báo cáo với Bác từng trường hợp người dân viết thư gửi Bác để cầu cứu. Có lần nhận được lá thư của ông K., một trí thức giỏi tiếng Pháp, làm ở một nhà xuất bản ở Hà Nội, kêu cứu Bác vì bị xử tù oan về tội hiếp dâm con gái! Bác giao ông Lập báo cáo ông Vũ Kỳ rồi đi gặp các cơ quan có trách nhiệm yêu cầu kiểm tra, xem xét việc này, báo cáo Bác. Có một điều khá lạ, là khi đọc hồ sơ vụ án, ông Lập không hiểu hai chứ “ổi tiết” ghi trong bản án là gì, phải hỏi một vị luật sư danh tiếng làm việc ở Toà án Nhân dân Tối cao lúc đó, mới được giải thích rằng, đó là “có hành động bỉ ổi xâm phạm tiết hạnh con gái”(!). Kết quả sự việc sau khi các cơ quan có trách nhiệm điều tra, xem xét cho thấy ông K. bị xử tù oan vì bị vu khống. Sau 9 tháng bị tù oan, ông K. được trả lại tự dọ Ngày ra tù, vợ chồng ông tìm đến nhà ông Lập cảm ơn và chỉ có một lời thỉnh cầu là nhờ ông Lập thưa lại với Bác Hồ lòng biết ơn vô hạn của ông bà trước tấm lòng bao dung của Người!
Một chút băn khoăn
Mười một năm trực tiếp phục vụ Bác Hồ và cũng chừng ấy năm làm Thư ký riêng của Bác Tôn, ông Lê Hữu Lập học tập ở hai vị Chủ tịch nước nhiều đức tính tốt đẹp, thấy cả hai Bác tuy vĩ đại nhưng lại rất giản dị, luôn gần gũi mọi người, mọi việc lớn nhỏ đều vì nước, vì dân. Chính vì thế, khi trò chuyện với tôi, ông Lập không khỏi băn khoăn khi biết có người không hiểu Bác đã thần thánh hoá Bác và có người, do quá yêu qúy Bác, đã tưởng tượng ra những chuyện không có thật mà ông biết.
Ông là người từng được chứng kiến những giây phút Bác trầm ngâm khi nghe ông đọc cuốn truyện Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, thấy Bác vẫn thư thái, ung dung dạo bộ sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo về “Sự kiện Vịnh Bác bộ” năm 1964 khi sự việc vừa diễn ra, thấy Bác “cười chảy nước mắt” khi nghe ông đọc một mẩu chuyện vui trên báo…Tuy là lãnh tụ, nhưng Bác cũng là một con người, cũng có những thú vui và thói quen bình thường như những người bình thường khác, chứ không phải là một ông thánh, xa lạ với đời sống con người!
Biết Bác hút thuốc lá nhiều là hại sức khoẻ, nhưng các bác sĩ ở Hội đồng bảo vệ sức khoẻ không ai nỡ khuyên Bác bỏ thuốc lá vì đó là thú vui riêng từ hàng chục năm của Bác, có lẽ là từ hồi Bác còn trẻ. Thấy Bác ho nhiều, các bác sĩ chỉ khuyên Bác nên bớt hút thuốc lá. Nhưng tự Bác đã bỏ thuốc, một việc không dễ, nhất là đối với một người quen hút từ nhiều năm, lại thường ngồi làm việc một mình. Bác còn có một thói quen là gần cuối giờ làm việc buổi sáng thường uống một tách cà phê nóng.
Một hôm, ông Lập làm việc với Bác, như thường lệ, gần trưa, khi anh em phục vụ đưa cà phê vào, Bác đẩy tách cà phê sang ông Lập và nói:
– Chú uống đi!
Ông Lập không dám, thưa lại với Bác:
– Dạ, để mời Bác uống.
Bác nhìn ông Lập, ân cần:
– Uống cà phê Bác lại nhớ thuốc lá. Thôi, chú cứ uống đi!
Sau mấy chục năm rồi ông Lập vẫn còn nhớ cảm giác của mình lúc đó: uống tách cà phê của Bác mà cảm thấy vị cà phê như đắng hơn!
Mười một năm thường xuyên có mặt trong nhà sàn của Bác, quen thuộc từng đồ vật trong phòng, ông Lập chưa bao giờ có cảm giác nhà sàn của Bác “lộng gió bốn phương” và chưa bao giờ thấy trong phòng làm việc, phòng khách và cả trong phòng nghỉ của Bác có cắm hoa huệ. Nhà sàn của Bác làm bằng gỗ mỏng, khuất trong khu vườn bách thảo nên bí, mùa hè thì nóng, mùa đông thì lạnh. Đầu giường Bác có một chiếc quạt lá cọ, không phải để phòng mất điện vì đã có máy nổ dự phòng. Mùa hè, Bác không để quạt chạy liên tục. Bác bảo “máy cũng phải nghỉ mới bền lâu”. Còn ông Lập thì nghĩ, Bác dùng quạt lá cọ vì Bác không muốn sống xa cách cuộc sống của nhân dân khi đó còn rất khó khăn, thiếu thốn!
Trên bàn làm việc của Bác thường có một chiếc đĩa nhỏ để mấy bông hoa nhài, hoa ngọc lan, không khi nào có hoa huệ. Nhiều lần trước khi bước lên nhà sàn làm việc với Bác, ông Lập thường ngắt một vài nụ nhài sắp nở bỏ vào trong túi áo ngực. Ngồi làm việc với Bác một lúc, người ấm lên, mấy nụ nhài trong túi áo dần nở, mùi thơm ngát, hoà cùng hương nhài trên bàn làm việc của Bác thoang thoảng, dễ chịu vô cùng.
Vì thế, nhà sàn của Bác “lộng gió bốn phương” chỉ có ở trong thơ, và hoa huệ trong phòng làm việc của Bác chỉ có trong truyện hư cấu, không có thật. Nhưng rất tiếc chuyện hoa huệ hư cấu ấy bây giờ lại được gắn với Bác như là một chuyện có thật, đến mức trong một số cuốn sách viết về Bác, kể cả sách tư liệu lịch sử về Bác cũng được một số tác giả viết như thật ấy!
lap
Ông Lê Hữu Lập (ảnh chụp năm 2008)
Ông Lê Hữu Lập nghỉ hưu đã trên hai mươi năm nay. Niềm vui của ông bây giờ là thấy con cháu trưởng thành, luôn giữ được “nếp nhà” mà ông bà truyền lại; trong đó có con trai cả là Lê Quốc Trung, nguyên Tổng Giám đốc TTXVN, hiện là Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam. Có người nói ông bị thiệt thòi vì nhiều năm phục vụ hai vị Chủ tịch nước, công lao như thế mà vẫn không được tặng thưởng Huân chương Độc lập. Còn ông lại có suy nghi khác. Ông nói, phần thưởng có giá trị nhất đối với ông mà rất ít người có, là tấm Bằng khen số 03, ngày 3-9-1972 của Chủ tịch nước tặng, vì ông “Đã tận tuỵ hoàn thành nhiệm vụ phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người còn sống”..
Vĩ thanh
Khi bài viết này của tôi tới bạn đọc thì ông Lê Hữu Lập không còn nữa. Ông mất đúng vào ngày 3 tháng 2 năm 2012 – Ngày kỷ niệm 82 năm thành lập Đảng (3-2-1930 – 3-2-2012). Thật tiếc, ngày ông mất tôi không có mặt ở Hà Nội để được đến thắp nén nhang thơm tiễn biệt ông, một người cán bộ mẫu mực của Đảng, một con người thật đặc biệt, hiếm có, được nhiều năm giúp việc cho hai vị Chủ tịch nước kính yêu là Bác Hồ và Bác Tôn. Ông lại còn là người được Bác Hồ tin cậy giao giữ Sổ tiết kiệm của Người như trong bài viết trên đây của tôi, mà không phải ai cũng có được ….
Dương Đức Quảng