Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm và bức tượng Bác Hồ năm 1946

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm và bức tượng Bác Hồ năm 1946





------

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000) là sinh viên khóa II của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Năm 1931, ông tốt nghiệp ngành điêu khắc với kết quả xuất sắc và sau đó được nhận học bổng tu nghiệp tại Bảo tàng Louvre. Ông sang Pháp cùng với các họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Lê Thị Lựu.

Vũ Cao Đàm (giữa) cùng Lê Phổ, Mai Trung Thứ tại Pháp
Ngày 31-5-1946, Bác Hồ bắt đầu thực hiện chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị Fontainebleau. Chiều ngày 22-6-1946, Bác đặt chân xuống sân bay Bourget với tư cách là thượng khách của nước Pháp, làm lễ chào cờ và duyệt đội tiêu binh. 
Những ngày tiếp theo, kiều bào ta ở Pháp hân hoan tổ chức chào đón Phái đoàn và vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Các đại biểu trí thức đều mong được tiếp xúc với Bác và tìm hiểu thêm về tình hình đất nước.
Ngày 1-7-1946, họa sĩ Vũ Cao Đàm đến thăm Bác và xin phép được chụp ảnh và nặn tượng Bác. Trong cuộc gặp ấy, Bác Hồ đã tặng họa sĩ và một tấm huy hiệu của Người.
Tấm huy hiệu đó đã nhanh chóng được họa sĩ nhân ra thành những bức phù điêu đồng có đường kính 6,8cm, dày 3mm. Sau đó, những bức phù điêu này lại được họa sĩ trao lại cho Phái đoàn để dùng làm quà tặng chính thức trong thời gian công cán ở Pháp.

Phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh 1946, đúc đồng, 68mm, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh

Ngoài  phù điêu này còn có tấm ảnh chân dung do họa sĩ Vũ Cao Đàm chụp Bác năm 1946, mặt sau có dòng chữ do chính tay Bác ký tặng: “Tặng vợ chồng chú Đàm và các cháu - Thân ái. Hồ Chí Minh”. Tấm ảnh này cũng được họa sĩ gửi tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh thông qua người em trai ông là dược sĩ Vũ Công Thuyết vào năm 1976.
Cũng trong thời gian Bác ở Pháp, họa sĩ còn thực hiện một bức tượng chân dung Người bằng chất liệu thạch cao.  
Năm 1950, khi phải dời chỗ ở  xuống miền Nam nước Pháp, nơi có khí hậu phù hợp với việc điều trị bệnh phổi, họa sĩ đã nhờ gia đình một nông dân Pháp, ở thành phố Béziers, tỉnh Hérault, cất giữ bức tượng. Mười bẩy năm sau, khi vợ chồng họa sĩ  trở lại tìm bức tượng, người nông dân Pháp kia, bây giờ đã già yếu và gần như mất trí nhớ, nhưng vẫn chỉ ra được nơi cất giấu bức tượng.
Năm 1996, để lưu giữ được lâu dài tác phẩm đặc biệt này, con gái họa sĩ là Yanick Vũ đã đưa bức tượng sang Tây Ban Nha để thực hiện việc chuyển thể chất liệu bức tượng từ thạch cao sang chất liệu đồng đỏ. Tổng thể, bức tượng nặng 35 kg, trong đó phần chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được làm bằng đồng, cao 45,7 cm, và phần bệ bằng đá màu ghi đen, cao 11, 8cm.
Bức tượng này được giới nghiên cứu mỹ thuật đánh giá là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện được phong thái của vị lãnh tụ kính yêu trong thời điểm vận nước hết sức khó khăn cách đây vừa đúng 70 năm.
Chân dung Hồ Chí Minh 1946, tượng đồng, tác giả Vũ Cao Đàm
Năm 1998, gia đình họa sĩ Vũ Cao Đàm đã gửi bức tượng về trao tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đây là tác phẩm điêu khắc đầu tiên và duy nhất của một nghệ sĩ Việt kiều thực hiện tượng chân dung Bác trong chuyến Người thăm Pháp năm 1946.

Bức tượng Bác Hồ năm 1946 của họa sĩ - nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm là một minh chứng cho tình yêu quê hương đất nước và tấm lòng của hàng triệu kiều bào ở nước ngoài hướng về Tổ quốc.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Nhớ lại kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhớ lại kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sau năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng năm đều đến Trung Quốc nghỉ dưỡng. Trong một lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm khu suối nước nóng ở Tòng Hóa, Quảng Châu, phóng viên nhiếp ảnh của "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn đã chụp ảnh chân dung cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, bức ảnh này cũng là bức chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện vẫn treo trang trọng tại các trụ sở cơ quan của Việt Nam. Sau đây là trích bài hồi ký của phóng viên nhiếp ảnh "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn về những kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đó là tấm ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngưng tụ tình hữu nghị chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Trung – Việt, mỗi khi nhìn thấy tấm ảnh này, đều khiến tôi nhớ lại những ngày ở bên Người và chụp ảnh cho Người. Hồ Chủ tịch đồng cam cộng khổ, cùng hoạn nạn với nhân dân Trung Quốc, sát cánh cùng nhân dân Trung Quốc tiến hành hoạt động cách mạng trong thời gian dài. Mấy chục năm qua, Hồ Chủ tịch có tình cảm hết sức thân thiết và tình đồng chí cách mạng với Trung Quốc, Người thường nói "Mối tình hữu nghị Việt – Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em". Người còn nói với Thủ tướng Chu Ân Lai rằng: "Tôi đến Trung Quốc như về nhà mình vậy". Trong những năm cuối đời, nhằm tránh để nhân dân Việt Nam tổ chức mừng sinh nhật cho mình, vào những ngày sát sinh nhật, Người thường đến khu suối nước nóng Tòng Hóa ở Quảng Đông, Trung Quốc nghỉ dưỡng, khu suối nước này núi đồi bao bọc, tùng bách xanh tươi, chim hót hoa thơm, phong cảnh tươi đẹp, từ năm 1963 đến năm 1966, Hồ Chủ tịch từng bốn lần đến đây nghỉ dưỡng. Trong thời gian Hồ Chủ tịch nghỉ dưỡng ở đây, tổ chức cử tôi đi theo, chụp ảnh sinh hoạt cho Người. Một ngày trong tháng 5/1964, Thư ký của Hồ Chủ tịch nói với tôi rằng: "Trung ương Đảng Việt Nam mong chụp một bức chân dung mới cho Hồ Chủ tịch". Khi nhận được nhiệm vụ này, tôi thấy vừa vinh dự, vừa nặng nề, tinh thần trách nhiệm cách mạng khiến tôi hạ quyết tâm, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ vì tình hữu nghị giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Trung – Việt. Tôi tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, học thêm lý luận và kỹ thuật nhiếp ảnh, nâng cao hơn nữa kiến thức và trình độ chụp ảnh chân dung.
Ảnh chụp chân dung, trước tiên phải làm sao toát lên được cái hồn của nhân vật, vừa cần thể hiện đặc điểm ngoại hình, lại phải diễn đạt được cảm xúc nội tâm. Làm nổi bật cá tính, đặc trưng của nhân vật, ảnh chân dung của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại là để cho hàng triệu người dân sắc tộc khác nhau, đến từ các nước khác nhau và có tiếng nói khau chiêm ngưỡng, yêu cầu sẽ cao hơn và nghiêm khắc hơn.
Trong thời gian nghỉ dưỡng ở Trung Quốc, Hồ Chủ tịch sống cùng chúng tôi, hàng ngày tản bộ, leo núi, đôi lúc ra ngoài tham quan, làm việc, tiếp khách, v.v., khi nghỉ ngơi, Người thường kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện đấu tranh cách mạng, Người như ở nhà mình vậy, tính tình còn hết sức khôi hài, đã tổ chức các nhân viên công tác bên Người thành một đoàn hợp xướng nhỏ, đích thân Người làm "trưởng đoàn", bài hát đầu tiên mà Người chọn cho chúng tôi là "Đội ca du kích" của đồng chí Hạ Lục Thinh, Người đảm nhiệm chỉ huy, thường vừa đánh nhịp nhẹ nhàng, vừa tập hát rất nghiêm túc cùng mọi người, đối xử với chúng tôi thân thiết như với con cái mình vậy. Hồ Chủ tịch và các nhân viên công tác đã kết lên tình hữu nghị chân thành thắm thiết, như vậy đã tạo điều kiện có lợi cho tôi thực hiện tốt nhiệm vụ chụp ảnh chân dung cho Người.
Phóng viên nhiếp ảnh Lục Văn Tuấn
Hồ Chủ tịch quan tâm quần chúng, chan hòa gần gũi, luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, giản dị chất phác, nhiệt tình, ngay thẳng, điềm đạm, hiền hậu, nét mặt hồng hào, hòa nhã dễ gần, Hồ Chủ tịch ăn mặc giản dị, áo khoác chính thức của Người là một chiếc áo kaki kiểu Trung Sơn màu vàng nhạt, rất hợp với gam màu sáng. Bởi vì màu sáng có thể thể hiện sự cao cả, thuần khiết và cái đẹp trong tâm hồn nhất, cộng thêm cả cuộc đời Hồ Chủ tịch lặn lội gió sương trong cuộc đấu tranh cách mạng, mái tóc và chòm râu bạc trắng như cước có thể làm nổi bật sự hiền hậu, anh minh và vĩ đại của Người. Tôi biết chụp ảnh màu sáng được quyết định bởi ba nhân tố: Một là, người được chụp phải mặc áo màu nhạt, Người mặc áo kaki kiểu Trung Sơn màu vàng nhạt vừa vặn ăn khớp với yêu cầu này; hai là, sắc tố của môi trường, tức bối cảnh cũng phải là màu đơn sắc, thế là tôi chọn địa điểm chụp ảnh là một góc trong phòng Người dùng cơm, màu sắc của bức tường là màu ngà nhạt, cũng phù hợp yêu cầu; ba là, sử dụng nguồn sáng chính và nguồn sáng phụ, chọn góc chụp thuận sáng. Nguồn sáng hoàn toàn có thể tự do điều chỉnh. Ý tưởng của tôi tương đối khả thi, cũng dễ thực hiện, như vậy đã tăng cường lòng tin của tôi khi chụp ảnh cho Người.
Thời gian chụp ảnh, tôi chọn 5 giờ chiều, đồng thời điều chỉnh tốt góc độ của máy ảnh khi chụp thử, để ống kính máy ảnh ở độ cao ngang với tầm mắt của người được chụp, giữ tỷ lệ tự nhiên của khuôn mặt người được chụp trong giữa bức ảnh, để có được một tấm ảnh tự nhiên và sống động, khi chụp ảnh, tôi không những cần nói chuyện với Hồ Chủ tịch, mà còn mời đồng chí phiên dịch Văn Trang, Thư ký và đồng chí Tiểu Dung, nhân viên phục vụ bên Người cùng phối hợp với tôi nói chuyện với Hồ Chủ tịch. Mặc dù tôi cùng chuyện trò vui vẻ với mọi người, nhưng thực ra tôi vừa bận rộn vừa căng thẳng, hết sức chăm chú theo dõi ánh mắt và hình dáng đôi môi của Hồ Chủ tịch. Trung Quốc có câu tục ngữ rằng: "Đôi mắt toát lên thần thái", sau đó là đôi môi. Khi nét mặt tinh thần và đặc trưng tính cách nội tại của Hồ Chủ tịch biểu lộ một cách rõ nét, tôi liền bấm máy. Để tránh bị chụp hỏng, tôi chụp liền 7 tấm, chỉ mất chưa đến 10 phút. Ngoài một tấm thần thái không được lý tưởng ra, 6 tấm khác đều đạt yêu cầu dự kiến. Hồ Chủ tịch rất hài lòng khi xem các tấm ảnh này. Người rất vui và nói câu cám ơn dí dỏm với tôi bằng tiếng Thượng Hải. Sau đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định lấy tấm ảnh hơi nghiêng người sang trái và tấm chụp chính diện làm tấm chân dung tiêu chuẩn, lưu truyền trên khắp Việt Nam và các nơi trên thế giới. Lúc đó, Hồ Chủ tịch đã ký tên trên hai tấm ảnh, một bức tặng tôi, bức còn lại tặng cho đồng chí Văn Trang.
Về sau, trước khi trở về Việt Nam, Hồ Chủ tịch chép một quyển "Nhật ký trong tù" và thơ của Người tặng tôi, và đề chữ trên cuốn sách rằng "Bác Hồ thân tặng". Ngoài ra còn nhờ tôi gửi quà tặng cho vợ tôi, đó là món đồ thêu thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó có khăn tay thêu dòng chữ "Tình hữu nghị Việt – Trung muôn năm", kim gài áo, v.v., còn có cả bánh kẹo cho con cái tôi, Người suy nghĩ rất chu đáo, tình cảm của Người suốt đời tôi không bao giờ quên.
                                                                                         
       
Tấm ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh này vẫn được sử dụng phổ biến trong các ấn phẩm Việt Nam
Trên đây là trích đoạn bài hồi ký của phóng viên nhiếp ảnh "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn nhớ về kỷ niệm chụp ảnh chân dung cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài viết vừa rồi có nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh có tặng một bức ảnh chân dung cho đồng chí Văn Trang, phiên dịch trong đoàn cố vấn. Ông Văn Trang về sau là giáo sư của trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, cũng nhắc đến kỷ niệm này trong cuốn sách của ông mang tên "Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ký ức sâu thẳm của tôi", rằng: Duyệt xong các tấm ảnh, Hồ Chủ tịch gật đầu bày tỏ hài lòng. Hồi trẻ, Bác Hồ từng làm việc tại một tiệm chụp ảnh ở Pa-ri, tinh thông nhiếp ảnh. Muốn chụp được một tấm ảnh khiến Người hài lòng không hề dễ dàng. Thư ký của Người nói với tôi rằng, ở Hà Nội đâu có cơ hội như vậy để chụp ảnh cho Người. Sau đó, Bác Hồ ký tên trên hai tấm ảnh bằng tiếng Trung, gửi tặng đồng chí Lục Văn Tuấn, cũng tặng tôi một tấm. Tôi đã cất giữ tấm ảnh gốc có chữ ký của Bác Hồ này trong 43 năm, sau cân nhắc kỹ lưỡng mới tặng cho Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam, để càng nhiều bạn bè Việt Nam có thể chiêm ngưỡng bút tích tiếng Trung của Hồ Chủ tịch.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Giáo sư Văn Trang

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, 60 năm nhìn lại*


  •   NGUYỄN ĐÌNH THI
  • Thứ ba, 08 Tháng 7 2014 06:11
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Kể từ năm 1946 tới nay, ngày 19-5 được công nhận là ngày Kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng thực sự Cụ Hồ sinh ngày nào, năm nào? Và tại sao có ngày 19-5-1946?

 I.Năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Căn cứ theo lá thư người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh) tại Marseille ngày 15-9-1919 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris, thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành; Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc (theo William J.Duiker, Hồ Chí Minh, New York 2000, bản dịch tiếng việt khổ A4, tr.31).
Còn theo tài liệu của Ông Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp, thì lại khác. Tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chủ tịch lại  khai là sinh ngày 15.01.1894
Còn người anh trai Nguyễn Sinh Khiêm và người chị gái Nguyễn Thị Thanh, khi bị cảnh sát Trung kỳ hỏi cung vào năm 1920, thì người anh cho biết Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1891, còn người chị gái lại khai vào khoảng 1893.
Còn giấy khai sinh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894 (theo Daniel Hemery, Hồ Chí Minh, Từ Đông Dương đến Việt Nam, Lê Toàn dịch, NXB Phụ nữ 2004, tr.90-91)
Như thế, chúng ta có 4 năm sinh khác nhau: 1891, 1892, 1893,1894. Đây cũng là điều dễ hiểu. Ở thôn quê Nghệ Tĩnh ngày đó và mãi cho đến sau này thường không có giấy khai sinh chính thức. Người ta thường chỉ nhớ tuổi theo thứ tự chu kỳ 10 can (Giáp, Ất, Bính, Đinh…) và 12 chi (Tý, Sửu, Dần, Mão…), như Giáp Thân (1884), Ất Dậu (1885), Bính Tuất (1886), hay có khi chỉ nhớ qua một sự kiện nào đó: chẳng hạn “năm đó lụt lớn”, hay “năm đó đói”. Khi đi học chữ Hán thường thì không ai bắt phải khai ngày sinh, tháng đẻ. Còn khi đi học trường Pháp – Việt thì thường cứ khai như mình ngĩ (có khi khai là hai anh e ruột mà chỉ có sinh cách nhau 5,6 tháng!). Vì thế trường hợp năm sinh của Hồ Chí Minh, mỗi nguồn mỗi khác, cũng là chuyện bình thường.
Năm 1946, Hồ Chủ tịch công nhận năm 1890 là năm sinh
 Cuối cùng, bốn năm đó (1891, 1892, 1893, 1894) đều bị phủ nhận, và năm 1890 được Hồ Chí Minh công nhận chính thức là năm sinh của mình khi đồng ý cho tổ chức lần đầu tiên lễ sinh nhật của mình vào ngày 19-5-1946. Đây là một sự kiện mới. Và từ năm 1946 trở đi, các tài liệu về Hồ Chí Minh cho biết Hồ Chí Minh đã lấy năm đó để tính tuổi của mình. Đặc biệt, hình như hàng năm đến ngày 19-5, Cụ thường làm một bài thơ, vừa hóm hỉnh, vừa lạc quan.
Sinh nhật năm 1949 (1890-1949), Hồ Chí Minh làm bài thơ “Không đề”
Vì nước chưa nên ngĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta
(TS Trần Viết Hoàn, Nhớ mừng ngày sinh Bác Hồ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nộih 2005, tr.16).
Năm 1950, Bác Hồ 60 tuổi, lúc đó ở thác Dẫng (Tuyên Quang)
Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên
Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ
Trần mà như thế kiếm gì tiên!
(Trần Viết Hoàn, sdd, t.18)
Sau đây bài thơ “Thất cửu” Bác viết năm 1953, lúc 63 tuổi
Chưa năm mươi đã kêu già
Sáu ba mình vẫn nghĩ là đương trai
Sống quen thanh đạm, nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung
(Trần Viết Hoàn, sdd, t27)
Năm 1968, 78 tuổi, Hồ Chủ tịch làm bài thơ:
Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước! ta cùng con em ta!
(Trần Viết Hoàn, sdd, t. 69)
II.Ngày sinh của Hồ Chủ tịch
Nhưng tại sao là ngày 19 tháng 5 chứ không phải ngày 15-01-1894 như Nguyễn Tất Thành đã khai tại Ty cảnh sát Paris năm 1920?  Trả lời câu hỏi đó, ông Hémery đã đưa ra giả thuyết:
Sở dĩ lấy ngày 19-5 là để kỷ niệm ngày thành lập Việt Minh 19-5-1941 (D. Hémery, sdd, t.90). Thiết nghĩ rằng giả thuyết đó không đúng vì ngày thành lập Mặt trận Việt Minh là một biến cố quan trọng thực, nhưng không phải là lý do chính. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tập hồi ký “Chiến đấu vòng vây” cũng công nhận “Ngày thành lập Việt Minh 19-5-1941 trùng với ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là một sự “trùng hợp” chứ không phải lấy ngày thành lập Việt Minh làm ngày sinh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn thêm: “Ngày sinh Hồ Chủ tịch được công bố lân đầu tiên vào năm 1946” (Võ Nguyên Giáp, tổng hợp hồi ký, NXB Quân Đội Nhân dân, Hà Nội 2006, t.378)
Nếu cần lấy một ngày sinh nhật chung thì theo Hồ Chủ tịch trong lá thư ngày 19-5-1948 gửi Quốc Hội và Chính phủ, các đoàn thể, bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài để cám ơn, Hồ Chí Minh đề nghị lấy một ngày khác. Hồ Chủ tịch viết:
“Tôi thiết ngĩ rằng tuy tuổi tác chúng ta có kẻ nhiều, người ít, nhưng tôi và toàn thể đồng bào có một ngày sinh nhật chung: ấy là ngày cách mạng giải phóng thành công tháng tám năm 1945”(TS. Trần Viết Hoàn, sdd, t.13)
Trong khi chờ đợi một giải thích khác của các nhà sử học chuyên môn về Hồ Chí Minh hay của các bậc lão thành cách mạng (hoặc đã có rồi mà chúng tôi chưa rõ), chúng ta thử tìm hiểu lai lịch ngày đó.
Phong tục Việt Nam không ăn mừng sinh nhật
Trước tiên, cần phải gạt ra một bên giả thuyết là chính Hồ Chí Minh công khai hoá ngày đó để làm một dịp đề cao cá nhân mình. Thiết tưởng đó không là phong cách cố hữu của Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch là người “vì nhân dân quên mình”, “là người không muốn nói về mình, không muốn người ta đề cao mình,chú trọng mình”. Chính vì thế khi biết ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, nhân dân và đồng chí đến chúc mừng. Trong những dịp này, Hồ Chủ Tịch luôn tỏ ra không đồng ý mấy. Chẳng hạn năm 1965, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của Bác, ông Trường Chinh thay mặt Đảng, Quốc hội, Chính phủ đến chúc mừng, Hồ Chủ Tịch đã thẳng thắn trả lời: “Bác cám ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại tổ chức chúc thọ một cá nhân là không nên” (Trần Viết Hoàn, sdd, t.56).
Chính vì thế, cứ đến gần ngày 19-5, Bác thường tìm cách vắng mặt. 19-5-1958, Bác đi thăm chùa Hương; 17-5-1960, Bác đi thăm không chính thức Nam Ninh (Trung Quốc); 16-5-1961, Bác đi thăm Quế Lâm (Quảng Tây); 18-5-1962 lại đi Nam Ninh; 19-5-1964, đi Côn Minh, Quảng Châu; 14-5-1966, lại đi thăm Trung Quốc. Năm 1968, Hồ Chí Minh “trốn” lên Hồ Tây, việc “bị lộ”, Bộ Chính Trị, Trung ương Đảng lên mừng Bác. Bác buộc lòng phải trở về nhà sàn. Để đơn giản việc chúc mừng, Bác đề nghị chỉ có Thủ tướng Phạm Văn Đồng ở lại dùng cơm chiều với Bác (Trần Viết Hoàn, sdd, t.68).
Đó là việc hầu như không có gì khác lạ vì thỉnh thoảng Bác Hồ vẫn dùng cơm chung với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bữa cơm của hai người sống độc thân chứ không phải bữa cơm mừng sinh nhật. Cho đến mấy tuần lễ trước lúc Bác ra đi vĩnh viễn, Bác vẫn giữ thái độ khiêm tốn khi nói đến ngày sinh nhật của mình. Ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác kể lại sự kiện đó như sau: Mấy tuần lễ trước lúc Bác mất, một uỷ viên Bộ Chính trị vào thăm Bác và báo cáo cho Bác biết quyết định tổ chức bốn ngày lễ lớn năm 1970: 40 năm thành lập Đảng, 90 năm ngày sinh của Lê Nin, 25 năm thành lập nước và 80 năm ngày sinh của Hồ Chủ tịch. Nằm trên giường bệnh, Bác bảo: “Các chú nên bàn lại cho kỹ, còn ý kiến của Bác, Bác chỉ đồng ý ¾ nghị quyết, Bác không đồng ý về việc đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm 1970. Hiện nay các cháu học sinh sắp bước vào năm học mới… Với nữa tiền bạc dùng để tuyên truyền ngày sinh nhật của Bác, thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, chớ lãng phí” (Vũ Kỳ, sđd, t.479-480).
Bác Hồ không có chủ trương ăn mừng sinh nhật của mình và phong tục của người Việt Nam cũng không ăn mừng ngày sinh nhật.
Chắc chắn chính Hồ Chí Minh cũng biết rõ phong tục Việt Nam không có mừng sinh nhật mà có lễ chúc thọ, nhưng phần nhiều chỉ chúc thọ khi người đó ít nhất được 60 tuổi. Nên khi đáp lại lễ mừng sinh nhật lần đầu tiên 19-5-1946, Hồ Chủ tịch viết: “Tôi chưa xứng đáng với sự săn sóc của đồng bào vì tôi hãy đã còn là một thanh niên, tuổi có 56 (1890-1946), chưa đáng để đồng bào chúc thọ”. (Cũng nên nhắc lại rằng, chỉ cho đến gần đây, giới trẻ thành thị mới bắt chước Tây phương mừng ngày sinh nhật của mình chứ trước đây ít có ai làm).
Hơn ai hết thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò bậc nhất của Hồ Chí Minh, nói lên sự quý trọng truyền thống của Thầy mình như sau: “Hồ Chí Minh đặc biệt thích thú và quý trọng truyền thống xa xưa của dân tộc, thể hiện một cách giàu đẹp trong lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán, tình làng nghĩa xóm, việc nước gắn với việc nhà” (Trịnh Quang Phú, Đường Bác Hồ đi cứu nước, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, tr.14)
Chính sống theo tinh thần cổ truyền của dân tộc, Hồ Chí Minh cho đến năm 1946, không mừng sinh nhật và từ năm 1946 trở đi cho đến lúc qua đời, Bác không bao giờ làm rầm rộ ngày đó. Ngay cả những lần “trốn” Việt Nam sang Trung Quốc, Bác cũng dặn bạn bè trước: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước, vì vậy tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây” (Trần Viết Hoàn, sđd tr.57).
Không bao giờ muốn đề cao cá nhân mình, không bao giờ đi ngược lại truyền thống dân tộc, tại sao lại có tổ chức lễ sinh nhật ngày 19-5-1946?
Việc tiết lộ ngày sinh và tổ chức mừng sinh nhật lần đầu tiên ngày 19-5-1946 chắc phải có những lý do khác.
Muốn biết lai lịch ngày 19-5, thiết tưởng chúng ta phải trở về bối cảnh lịch sử lúc đó.
III. Bối cảnh ngày 19-5-1946
Hơn ai hết ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ, trong một bức thư đề ngày 10-5-1970 gửi cho một đồng chí ở Miền Nam, nói về bối cảnh đó như sau:
“Đồng chí Nam, đồng chí còn nhớ bối cảnh ngày 19-5 đầu tiên không nhỉ? Ngày 19-5-1946.
Hồi ấy vừa dành được quyền độc lập, nhưng khó khăn còn rất nhiều. Nạn lụt, nạn đói, nạn ngoại xâm…, quan quân của Tưởng và bọn tay sai của Việt Nam Quốc dân Đảng quấy rồi ở miền bắc. Bọn thực dân núp sau quân Anh, Ấn gây hấn ở Miền Nam, rồi khiêu khích ở miên Bắc.
Hồi đó cùng Trung ương Đảng, Bác lo lắng công việc suốt ngày đêm, người gầy đi. Bác Hồ của chúng ta dồn hết tâm sức vào việc chèo chống con thuyền Việt Nam qua thác ghềnh, sóng gió. Đúng vào lúc bề bồn công việc ấy, bỗng có tin nhân dân Thủ đô biểu tình tuần hành biểu dương lực lượng để chúc mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh 56 tuổi vào ngày 19-5-1946.
Ngày 19-5 từ đó bắt đầu đi vào lịch sử” (Vũ Kỳ,sđd,tr.294)
Nhưng ông Vũ Kỳ không nói tại sao lại có ngày đó.
Sau Hiệp định 6-3, tình trạng đối nghịch giữa Việt Nam và đại diện Pháp
Các sự kiện đã xảy ra có thể tóm lược lại như sau:
Hiệp định Sơ bộ 6-3 giữa Việt Nam với Pháp vừa ký xong, dư luận xôn xao tin 15.000 quân Pháp sẽ tới miền Bắc có phần đột ngột. Phe đối lập tung tin: Hồ Chí Minh nhượng bộ Pháp. Một số đồng bào phân vân vì không hiểu rõ hết tình thế phức tạp và hiểm nghèo của đất nước vào lúc đó.
Để cắt nghĩa cho nhân dân biết tại sao lại thương lượng với Pháp, tại sao lại ký Hiệp định 6-3, ngay chiều ngày 7-3, một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức tại Nhà hát lớn Hà Nội. Hồ Chủ tịch xuất hiện nói với đồng bào: “Nước ta đã tuyên bố độc lập từ tháng Tám năm 1945, nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Điều đình với Pháp là chứng tỏ sự khôn ngoan về chính trị của ta” (Võ Nguyên Giáp, sđd, tr. 242). Đối với Hồ Chí Minh, cần phải đi từng bước, trước tiên Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do. Một khi quyền tự do đã giành được, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, giành độc lập hoàn toàn. Còn về việc toàn vẹn lãnh thổ, Chính phủ Pháp muốn chiếm giữ Nam bộ nhưng cuối cùng Pháp phải chịu mở một cuộc trưng cầu ý dân về thống nhất ba kỳ và cam đoan sẽ thừa nhận kết quả của nó. Chúng ta đặt lòng tin vững chắc vào nhân dân và Nam bộ nhất định sẽ trở về trong lòng Tổ quốc (Võ Nguyên Giáp, sđd, tr. 242). Con đường đó đi từ tự do đến độc lập, từ độc lập đi đến thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, và sức mạnh của Việt Nam không phải là sức mạnh khí giới như Pháp, mà là lòng yêu nước. Tất cả dựa vào sức mạnh của nhân dân, bằng thương thuyết, bằng đấu tranh chính trị, nhất là ngoại giao.
Phía Việt Nam thì như thế, phía Pháp lại khác.
Phía Việt Nam sẵn sàng thực hiện Hiệp định Sơ bộ, phía Pháp tìm cách phá Hiệp định. Ngày 7-3, một ngày sau khi ký Hiệp định, Việt Nam tổ chức mít tinh để phổ biến tình thần Hiệp định, thì cùng ngày đó D’Argenlieu giao cho Léon Pignon, lại là một người phụ tá của Sainteney, phải tìm cách phá Hiệp định 6-3. D’Argenlieu nói với Pignon: “Những nhượng bộ mà Pháp đã ký trong hiệp định, Pháp sẽ dùng phương pháp khác để giành lại” (TDT,sđd, tr.140).
Hạ Long: Thương thuyết bằng thị uy
Một trong những phương pháp đó là D’Argenlieu muốn nói chuyện trực tiếp với Hồ Chí Minh, chứng tỏ mình mới là tiếng nói chính thức của chính phủ Pháp chứ không phải là Sainteney. Nhưng nơi gặp gỡ, D’Argenlieu đề nghị là ở Vịnh Hạ Long, chứ không phải Hà Nội. Ai cũng thừa biết rằng D’Argenlieu rất tính toán trong đường đi nước bước, nếu tới Hà Nội tức gián tiếp đề cao Hồ Chí Minh, đề cao Hà Nội. Tuy thế, nhưng vì quyền lợi đất nước, được mời đi Hạ Long, Hồ Chí Minh vẫn nhận lợi và ngày 24-3 lên chiếc thuỷ phi cơ Pháp tại Gia Lâm đi Hạ Long. “Cuộc đón tiếp diễn ra thật long trọng, 21 phát đại bác chào khi Hồ Chủ tịch đến, 21 phát đại bác chào khi đi. D’Argenlieu mời Chủ tịch duyệt binh. Chiếc chiến hạm chạy lướt trước những con tàu những khẩu pháo lớn ghếch cao nòng, đứng sắp hàng dài trên mặt biển” (Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr 259).
Tất cả là để thị uy, nhưng Hồ Chí Minh không sợ những sự như thế. “Trên máy bay trở về Hà Nội, Hồ Chủ tịch đã nói với Salan, một người cộng sự của D Argenlieu: “Nếu đô đốc muốn đem tàu đó ra để làm lung lay tôi, thì ông đã lầm to, những tàu đó không thể nào đi ngược dòng sông của chúng tôi” (Võ Nguyễn Giáp, sđd, tr.216)
Mặc dầu không phải là ý định của D’Argenlieu nhưng cuộc gặp gỡ cũng đem lại nhiều ý định cho phía Việt Nam: Vào cuối tháng 5-1946 “sẽ có một đoàn đại biểu Việt Nam đi Paris, để điều đình những mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp, đồng thời Hồ Chủ tịch sẽ là thượng khách của chính phủ Pháp” (TDT, sđd, t.191)
Đà Lạt: Biển không xong, lên núi
Không thành công  ở ngày gặp gỡ Hạ Long trong việc nhằm trì hoãn được việc đoàn Việt Nam sang Pháp thương thuyết, D’Argenlieu lại đề nghị mở cuộc hội nghị chuẩn bị tại Đà Lạt. Phía Việt Nam cũng đồng ý. Ngày 17-4-1946, khai mạc hội nghị tại trường Yersin, Đà Lạt, nhưng hội nghị lâm vào bế tắc khi phía Pháp từ chối thảo luận vấn đề Nam bộ, vì Pháp có dụng ý tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam, lập Chính phủ Nam kỳ tự trị.
Đó là điều mà phái đoàn Việt Nam không khi nào chấp nhận được. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, một thành viên của phái đoàn Việt Nam có uy tín đối với Pháp kết thúc hội nghị bằng cách nói lên một cách hết sức cảm động nguyện vọng sâu thẳm nhất của người dân Việt Nam: “Nam kỳ cần có hoà bình và phần đất này cần sơm trở lại trong lòng Tổ quốc Việt Nam”. Philippe Devillers, nhà báo Pháp có mặt trong những giây phút đó đã chú thích thêm: Phái đoàn Việt Nam không thể nén được sự xúc động của mình, nước mắt lưng tròng, mọi người bước ra khỏi phòng hội nghị .
Cuối cùng tướng Võ Nguyên Giáp kết luận: phía Pháp chưa muốn đoạn tuyệt với chế độ thực dân. Vào ngày 13-5-1946 tướng Võ Nguyên Giáp lên đường trở về Hà Nội (Philippe Devillers, Histoire du Vietnam, Paris 1982, t.266)
Về Hà Nội thủ đô
Vài ngày sau D’Argenlieu chưa chịu thua, lại muốn đến Hà Nội không để chào Hồ Chí Minh trước lúc Bác lên đường sang Pháp, nhưng để tiếp tục vận động Hồ Chí Minh hoãn lại việc đi Pháp. Phía Việt Nam tuy biết thế nhưng tìm cách làm sao để D’Argenlieu đến Hà Nội không phải để thực hiện ý định của mình, nhưng để chào Hồ Chủ Tịch, để biết tinh thần của nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch. Theo ý chúng tôi đây mới là cái nút chính các sự kiện xảy ra xung quanh ngày 19-5-1946 ở Hà Nội là nhằm lấy việc mừng sinh nhật Hồ Chí Minh làm bối cảnh cho việc tiếp đón Thiery D’Argenlieu. Có thật ngày 19-5 là ngày sinh nhật của  Hồ Chí Minh hay không là điều không quan trọng, nhưng dùng ngày ấy làm bối cảnh cho một hoạt động ngoại giao cần thiết, biến ngày sinh nhật thành một lợi khí ngoại giao có tầm lịch sử, mới thật là một sáng kiến tuyệt vời.
IV. Cuốn phim ngày 18,19 tháng 5 tại Bắc bộ phủ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp tường thuật bối cảnh như sau:
Ngày 18-5 các báo thủ đô lần đầu báo với đồng bào ngày sinh nhật của Hồ Chủ tịch … Với đầu đề “Cụ Hồ với dân tộc Việt Nam”, báo Cứu Quốc (tờ báo của Tổng bộ Việt Minh) ngày hôm đó viết:
Ngày 19-5 này, năm mươi sáu năm trước đây (1980) đã ra đời một người: Hồ Chí Minh bằng bàn tay khéo léo và quả quyết, chính ông đã khai sinh, đã nuôi nấng nhiều đoàn thể cách mạng Việt Nam. Tinh thần hoạt động của hầu hết nhiều chiến sĩ Việt Nam đều do bàn tay tài tình của ông đem đến.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết thêm: “Bài báo đã nói đến những cống hiến của Hồ Chủ Tịch đối với cách mạng Việt Nam và nêu ý nghĩa lớn của ngày 19-5”.
“Lần đầu tiên toàn dân tộc Việt Nam được biết ngày sinh của Hồ Chủ tịch”(Võ Nguyên Giáp, sđd, tr.279)
Thiery D’Argenlieu  đến thủ đô Hà Nội chúc mùng Hồ Chủ tịch
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể tiếp: 6 giờ chiều hôm đó 18-5-1946, D’Argenlieu cùng tướng Valluy và Grepin đến Bắc Bộ để chào Hồ Chủ tịch
Cụ Huỳnh, cụ Tô và một vài anh em chúng tôi cùng dự buổi tiếp khách với Bác. Khi nâng cốc chúc mừng ông Cao Uỷ, Bác nói: “Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà mới lấy làm sung sướng được đón tiếp người thay mặt nước Pháp. Sau cuộc hội thương tại vịnh Hạ Long, hội nghị trù bị diễn ra ở Đà Lạt và cuộc giao hảo của phái đoàn Quốc hội Việt Nam với Quốc hội Pháp tại Raris, hôm nay với việc ngài đến thăm Hà Nội, cuộc bang giao Việt Pháp chắc chắn sẽ có bước phát triển mới”
Mỗi chữ mỗi câu Bác dùng nói lên một lập trường, lời chào trở thành tuyên bố. D’Argenlieu không còn cách nào khác là đáp lễ lại: “Ngày mai là ngày sinh nhật của Hồ Chủ tịch, tôi xin chúc mừng Chủ tịch thượng thọ, và tôi tin rằng từ đây tình thân thiện của nước Pháp và nước Việt Nam sẽ càng ngày càng chặt chẽ thêm và càng thân mật hơn nữa” (Võ Nguyên Giáp, sđd, tr.280). Mục tiêu của việc tổ chức lễ sinh nhật đã đạt được, buổi gặp gỡ hôm đó đã biến thành buổi lễ mừng thọ Hồ Chủ tịch D’Argenlieu, trả lời, không thực hiện được ý định của mình.
Quang cảnh ngày sinh nhật: Cuộc thị uy của “chí nhân”, của “đại nghĩa”
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tả lại quang cảnh ngày 19-5-1946:
“Sáng ngày 19-5, các đồng chí trong Trung ương và trong Chính phủ tới chúc thọ Bác. Đây cũng là một dịp hiếm hoi mà chúng tôi được quây quần bên Bác đầy đủ đúng ngày sinh nhật của Người. Rồi những tiếng trống ếch rộn ràng trước cửa Bắc bộ phủ. Các cháu đã tới. Bác Hồ ra đón các cháu vào, hơn một chục em bé gái trai thay mặt cho toàn thể thiếu nhi ngoại thành đến chúc thọ Bác. Các em đua nhau gắn Huy hiệu Măng non thẳng lên áo Bác Hồ, tặng Bác những chứ “i”, “t” tượng trưng cho phong trào “bình dân học vụ”. Quà của Bác Hồ cho các cháu bé năm đó là một cây bách tán. Các em vui mừng hát một bài cảm ơn cảm ơn Bác. Khi các em vào khênh chậu cây bách tán đi ra thì một đoàn hơn 50 anh chị bước vào phòng. Các anh đều mặc áo kaki, các chị vận quần áo bà ba đen. Đây là những người thay mặt cho miền Nam đang chiến đấu tới chúc thọ Bác. Sau khi nghe lời chúc mừng của các anh chị, hai giọt lệ chảy trên gò má Bác, các anh chị Nam bộ đều rưng rưng nước mắt. Lát sau Ban vận động trung ương Đời sống mới vừa được thành lập đến chúc thọ Bác…”(Võ Nguyên Giáp, sđd, tr.280).
Cũng ngày hôm đó phóng viên các hãng thông tấn Pháp AFP phỏng vấn Bác và Bác đã tiếp. Và theo báo Cứu Quốc số 244 ra ngày 20-5-1946, thì sáng ngày 19-5 lực lượng thanh niên đã tuần hành thị uy chúc thọ Bác Hồ, việc đó làm cho các đại biểu đồng minh thấy rõ uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ có ý nghĩa lịch sử và tình cảm biết bao” (Trần Viết Hoàn, sđd, tr.10).
Các đại biểu đồng minh đó là ai, nếu không phải Thiery D’Argenlieu và phái đoàn Pháp đang ở Hà Nội. Lúc đó chưa có truyền hình trực tiếp, nhưng qua báo chí, đài, hãng thông tấn và cơ quan tình báo của Pháp, không có gì mà không tới tai mắt Thiery D’Argenlieu. Thiery D’Argenlieu còn ở lại Hà Nội đến 22 tháng 5, và thất vọng trở lại Sài Gòn.
V. 60 năm nhìn lại
Nhìn lại các sự kiện mấy ngày đó mới thấy hết ý nghĩa của ngày 19-5-1946. Ngày 13-5 hội nghị Đà Lạt kết thúc không đem lại kết quả gì vì đại biểu Pháp không thành thực. Mặc dù Thiery D’Argenlieu tìm cách cản trở nhưng Hồ Chủ tịch quyết định phải lên đường ngày 31 tháng 5 như đã dự kiến qua cuộc gặp gỡ tại vịnh Hạ Long. Thời gian quá gấp rút phải cho phía Pháp biết quyết tâm của Việt Nam. Chỉ trong hai ngày 16,17, Hồ Chí Minh đã nắm lại thế chủ động, quyết định lấy ngày sinh của mình làm phương tiện đấu tranh ngoại giao: Sáng ngày 18-5 cho báo chí loan tin ngày 19-5 là ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh. D’Argenlieu vừa chân ướt chân ráo trở lại Hải Phòng, được tin phía Việt Nam tổ chức ngày lễ sinh nhật Hồ Chí Minh, mà Hồ Chí Minh thừa biết theo truyền thống của Pháp, sinh nhật là một ngày quan trọng. Không biết cách xử trí nào hơn là D’Argenlieu lên Hà Nội chiều ngàu 18 cùng cả Đoàn đến mừng ngày sinh Hồ Chí Minh tại thủ đô Hà Nội và chứng kiến việc biểu dương sức mạnh của chính nghĩa, của lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Chỉ có Hồ Chí Minh mới ứng biến nhanh như thế, chỉ có thể chính từ sáng kiến đó, cách đối phó đặc biệt đó mà 12 ngày sau, trước lúc lên máy bay đi Pháp, Hồ Chí Minh đã đưa ra cho cụ Huỳnh Thúc Kháng một nguyên tắc làm việc (vì cụ Huỳnh rất lo lắng khi Cụ Hồ vắng thì làm sao mà đối phó được với thời cuộc). Nguyên tắc đó là: dĩ bất biến ứng vạn biến. Trong trường hợp này cái không thay đổi đó là độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, còn cách làm, cách đấu tranh có thể muôn hình vạn trạng.
Chỉ có Hồ Chí Minh, trong những lúc khó khăn như thế, mà vẫn giữ được những nguyên tắc và tính cách chân lý cơ bản trong cuộc sống cho cá nhân, cũng như toàn dân tộc. Đó là:
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân mà thay cường bạo”của Bình Ngô Đại Cáo.
Càng tìm hiểu càng thấy hai mẫu người, một người đại diện cho đại nghĩa, cho “chí nhân”; một người đại diện cho “hung tàn”, “cho “cường bạo”.
Hai con người, hai con đường
Thiery D’Argenlieu, dưới cái nhìn của Võ Nguyên Giáp, “Có cặp mắt nhỏ sác sảo, tinh ranh nằm dưới vầng trán đầy nếp nhăn, và đôi môi mỏng dính. Ngồi với y một lát đã thấy ngay y là một con người từng trải và xảo quyệt, tự phụ và nhỏ nhen, một con người như vậy chỉ có thể là con người của dĩ vãng, của chính sách thực dân” (Võ Nguyên Giáp, sđd, t. 272).
Còn Hồ Chí Minh dưới con mắt của Sainteney, người đại diện Pháp ký Hiệp định sơ bộ 6-3, thì: “Từ khi gặp ông Hồ Chí Minh lần đầu tiên, tôi đã cảm tưởng con người khổ hạnh đó mà nét mặt biểu lộ trí thông minh và nghị lực, lẫn mưu trí và tế nhị, là một người siêu đẳng… Kiến thức rộng rãi, trí thông minh cùng với sức hoạt động lạ lùng, khả năng chịu đựng mọi gian khổ và lòng vị tha không bờ bến của ông đã đem đến cho Ông uy tín và sức thuyết phục không ai có thể so sánh nổi. Thật đáng tiếc là nước Pháp đã đánh giá quá thấp con người ấy, đã không hiểu được giá trị và sức mạnh của bậc vĩ nhân ấy” (Vũ Kỳ, sđd, t. 34 – 35).
Quả thế, trong lúc Thiery D’Argenlieu tin tưởng vào sức mạnh vũ khí, của mưu mô, thì Hồ Chí Minh lại tin vào chính nghĩa, tin vào sức mạnh của nhân dân. Chính như thế Hồ Chí Minh dẫu có gặp gian lao khó khăn trong hoạt động thì vẫn đạt kết quả cuối cùng: Xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập với thủ đô Hà Nội, còn con đường Thiery D’Argenlieu dẫu có dùng biết bao nhiêu là tiền của, là khí giới, mà kết quả là dẫn đến Điện Biên Phủ năm 1954.
Ngày 19-5-1946 như thế không chỉ là ngày kỷ niệm mà là một ngày sinh nhật mới, đánh dấu một chặng đường mới trong quá trình đấu tranh thu hồi lại cho quê hương nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ đã bị đánh mất gần 80 năm.
60 năm rồi càng nhìn lại, càng tìm hiểu, càng thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của ngày 19-5-1946. Có nghĩa là còn có cả một kho tàng nơi con người và cuộc đời Hồ Chí Minh. Tha hồ mà khám phá./.
Paris tháng Năm, năm 2006
...............................
(*): Đây là bài viết của cố tiến sỹ- linh mục Nguyễn Đình Thi, nguyên Chủ tịch Hội Huynh đệ Á - Âu, Hội Huynh đệ Việt nam tại Pháp. Đương thời, ông là một người yêu nước, một nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa có nhiều đóng góp cho công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Ông đã được Nhà nước ta tặng Huân chương Độc lập.

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

Về nghị quyết của UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang bìa: Tập biên bản của Đại hội đồng UNESCO Khóa họp 24 tại Pa-ri, ngày 20-10 - 20-11-1987, Quyển 1: Nghị quyết.

Tại Nghị quyết quan trọng này, cùng với việc khẳng định những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, góp phần quan trọng vào việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc... Ðại Hội đồng UNESCO đã khuyến nghị các nước thành viên "cùng tham gia Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người", đồng thời đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO "triển khai các biện pháp thích hợp để Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam" (2).
Ðây là một văn kiện quan trọng của một tổ chức quốc tế lớn thuộc Liên hợp quốc, ghi nhận những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; là niềm tự hào chung của dân tộc Việt Nam và của cả bầu bạn quốc tế... Tuy nhiên, hơn 20 năm qua kể từ ngày Nghị quyết được thông qua, hầu hết chúng ta mới chỉ được biết đến nội dung của văn kiện quan trọng này qua bản dịch tiếng Việt đăng trên một số sách, báo, tạp chí, website... Ðã có rất nhiều bạn đọc trong và ngoài nước và khách tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh mong muốn được nhìn thấy văn bản gốc của Nghị quyết quan trọng này.
Thời gian qua, thực hiện nhiệm vụ chỉnh lý, bổ sung nhằm hoàn thiện nội dung trưng bày Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong quá trình chuẩn bị tài liệu, hiện vật trưng bày, chúng tôi đã tìm được văn bản gốc Nghị quyết của UNESCO về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là "Tập biên bản của Ðại Hội đồng Khóa họp lần thứ 24 tại Pa-ri, từ ngày 20-10 đến 20-11 năm 1987, Quyển 1: NGHỊ QUYẾT", bản in tiếng Pháp.
Ðây là một trong số các tập biên bản báo cáo của Ðại Hội đồng UNESCO(3), Khóa họp lần thứ 24, được UNESCO xuất bản đồng thời bằng 6 thứ tiếng (tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nga), được in và đóng quyển tại xưởng in của UNESCO, Pa-ri, vào năm 1988, trong đó có Nghị quyết số 18.65 về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh(4).
Thực hiện Nghị quyết của UNESCO về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1990 nhiều hoạt động cụ thể đã được tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới. Phát biểu tại Hội thảo quốc tế "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa lớn", tổ chức tại Hà Nội, tháng 3-1990, Tiến sĩ M.Át-mét (Modagat Ahmet) Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Ðại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc UNESCO, đã khẳng định "Hội nghị UNESCO phiên thứ 24, đã quyết định Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người vào năm 1990. Ðây là một cử chỉ tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập. UNESCO rất vui sướng được tham gia vào sự kiện đáng ghi nhớ này. Ðiều đó biểu hiện sự cam kết sâu sắc của tổ chức này trong việc duy trì các giá trị và công lao của các nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng". Tiến sĩ M.Át-mét coi việc được tham gia tổ chức các hoạt động kỷ niệm về Hồ Chí Minh "là một niềm vinh dự" và nhấn mạnh rằng: "Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này"(5)...
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy bản dịch tiếng Việt đã in trong một số sách, báo, tài liệu, website... có những câu chữ không thống nhất, như: Ðại hội đồng = Phiên họp toàn thể; Nhìn lại = nhắc lại; Nhà văn hóa kiệt xuất = Nhà văn hóa lớn; Biểu tượng kiệt xuất của sự khẳng định quyền dân tộc = Biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc; Yêu cầu = Ðề nghị... Sự khác nhau về câu chữ này, phải chăng là do cách dịch ra tiếng Việt từ các văn bản gốc tiếng Pháp và tiếng Anh có khác nhau cho  nên việc trích dẫn giới thiệu có những câu chữ khác nhau, không thống nhất?

Nghị quyết 24C/18.65 của UNESCO về Kỷ niệm 100 năm
Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (trích từ Tập biên bản
của Đại hội đồng Khóa họp 24 tại Pa-ri, ngày 20-10 - 20-11-1987,
do UNESCO xuất bản năm 1988. tr.144)

Ðể có một văn bản tiếng Việt chuẩn đưa ra trưng bày, giới thiệu cùng công chúng, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã đề nghị Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam giúp thẩm định lại từ bản gốc tiếng Pháp và tiếng Anh. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản dịch của Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
"18. 65 Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ðại hội đồng,
Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới,
Nhắc lại Nghị quyết số 18 C/4.351 thông qua tại Khóa 18 Ðại Hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,
Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm Kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch  Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam,
Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội,
Nhận thấy những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,  
1- Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người;
2- Ðề nghị Tổng Giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam".   
(1) Ðại Hội đồng UNESCO hai năm họp một lần. Khóa họp lần thứ 24 tại Paris (Pháp), từ ngày 20-10 đến 20-11-1987. Ðoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao kiêm Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam Nguyễn Dy Niên dẫn đầu.(2) Nghị quyết 24C/18.65 của UNESCO về  Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dẫn theo bản dịch mới của Bảo tàng Hồ Chí Minh và UNESCO Việt Nam, 7-2009. 
(3) Theo chú thích về tập biên bản của Ðại hội đồng cho biết các biên bản báo cáo của Ðại Hội đồng UNESCO, Khóa họp lần thứ 24, được in thành ba quyển: Quyển Nghị quyết bao gồm các nghị quyết được Ðại hội đồng thông qua và danh sách các thành viên của Văn phòng Ðại hội đồng và văn phòng các ban và ủy ban (quyển 1); Quyển Các báo cáo, bao gồm các bản báo cáo của các ủy ban từ I đến V, ban Hành chính và Ủy ban pháp luật (quyển 2); Quyển Biên bản thảo luận, bao gồm các biên bản ghi lại bên lề các phiên họp toàn thể, danh sách các thành viên tham gia và các tài liệu (quyển 3);
(4) Tại khóa họp lần thứ 24 này, cùng với việc vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, Ðại Hội đồng UNESCO còn ra các nghị quyết về việc Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Phya Anuma Rajadhon (nhà văn người Thái-lan), 500 năm Ngày sinh Thomas Munzer (nhà Cải cách ở Ðức và của cuộc cách mạng tư sản đầu tiên ở châu Âu), 100 năm Ngày sinh Anton Semionovitch Makarenko (nhà văn và nhà giáo dục lớn của Liên Xô), 100 năm Ngày sinh Jawaharlai Nehru (nguyên Thủ tướng Ấn Ðộ) và 400 năm Ngày mất của Sinan (kiến trúc sư người Thổ Nhĩ Kỳ).
 (5) UNESCO và UBKHXHVN: Hội thảo quốc tế "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn". Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr. 20, 22.
PHẠM KHẢI
(Bảo tàng Hồ Chí Minh)