Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

Mikhail Borodin: Người sếp cũ của Hồ Chí Minh

Mikhail Borodin: Người sếp cũ của Hồ Chí Minh


Đảng XH PhápBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionĐảng Xã hội Pháp mà Hồ Chí Minh là thành viên đã có cuộc bỏ phiếu năm 1920 để một phái tách ra lập đảng cộng sản

Sử sách ở Việt Nam khi viết về giai đoạn Hồ Chí Minh hoạt động tại Trung Quốc đều nhắc đến nhân vật Mikhail Borodin nhưng không nhiều.
Người ta thường chỉ nói ông Hồ từng làm phiên dịch cho người đại diện của Quốc tế Cộng sản ở Trung Quốc.
Nhưng Mikhail Borodin không phải là một đại diện bình thường mà đã đóng vai trò chính trị hàng đầu ở Trung Quốc trong thập niên 1920.
Ông là một trong số rất ít người từ châu Âu sang để chỉ huy cả hai lực lượng cộng sản và Quốc Dân Đảng nhằm thống nhất Trung Quốc.
Nhưng sau khi về nước, ông đã bị chế độ Stalin bỏ tù và giết chết.
Khi tìm tài liệu tiếng Ba Lan về các nhân vật cộng sản Đông Âu hoạt động tại châu Á, tôi đọc được một đoạn tin ngắn trên báo Dziennik Bydgoski từ năm 1927.
Bản tin đánh đi từ Moscow ngày 26/07 viết:
"Theo tin từ Vladivostok, cựu tổng tham mưu trưởng Quân đội Quảng Châu, đặc sứ Borodin đã về đến thành phố. Borodin trước đó đã chuyển giao quyền tư lệnh các lực lượng cộng sản ở Viễn Đông cho phe cộng sản trong ban lãnh đạo của Quốc Dân Đảng (TQ). Hoạt động của họ sẽ không chỉ giới hạn lại ở Trung Quốc mà sẽ lan rộng ra Đông Dương, Malakka, Polynesia và Indonesia."
Mấy dòng tin ngắn nhưng cũng nói đủ về quyền lực của Borodin, và nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc được giao chỉ đạo phong trào trên toàn khu vực.
Nó cũng đánh dấu thời điểm Mikhail Borodin bị Tưởng Giới Thạch đuổi khỏi Trung Hoa sau đổ vỡ Trung - Xô.

Mikhail BorodinBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột bức hình chụp Borodin ở Thượng Hải trước khi ông bị Tưởng Giới Thạch đuổi khỏi Trung Quốc giới thiệu người phiên dịch tiếng Trung của ông là Red Kwong

Borodin làm gì ở Trung Quốc?

Sang Trung Quốc năm 1923, Mikhail Borodin trở thành cố vấn tối cao của Tôn Trung Sơn để xây dựng liên minh Trung - Xô.
Ông đã làm ba việc:
  • Xây dựng lại Quốc Dân Đảng thành tổ chức theo mô hình Leninist;
  • Cùng tướng Nga, Vasily Blyukher và Tưởng Giới Thạch chuẩn bị cho chiến dịch Bắc Phạt (1926) nhằm thống nhất Trung Quốc;
  • Phát triển Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng thời đưa các nhân vật cộng sản vào nắm nhiều vị trí trong liên minh Quốc- Cộng.
Ông chuyển cho Trung Quốc khoản viện trợ khổng lồ của Liên Xô - 120 nghìn khẩu súng và 2 triệu đô la Mexico một năm - và cho lập ra Trường Võ bị Hoàng Phố.
Khi đó, giá một chiếc máy bay ném bom ở châu Âu chỉ có 20 nghìn đồng bạc Mexico, cho thấy khoản viện trợ của Liên Xô cho Trung Quốc lớn chừng nào.
Nhờ Liên Xô, quân đội Quảng Châu vươn lên thành thế lực đủ sức dẹp các sứ quân (warlord) trên toàn Trung Quốc.
Đổi lại, Tôn Trung Sơn đồng ý để những người cộng sản Trung Quốc "gia nhập Quốc Dân Đảng" với tư cách cá nhân.
Mao Trạch Đông thành chính ủy phụ trách tuyên truyền cho Quốc Dân Đảng, và Chu Ân Lai thành phó chính ủy Trường Võ bị Hoàng phố.
Nhưng Borodin đến Trung Quốc không phải là vì tình hữu nghị hai nước.
Chính sách của Liên Xô khi đó là thổi lên ngọn lửa cách mạng vô sản ở châu Á để hỗ trợ cho Moscow.
Là đại diện cao nhất của Lenin và Stalin ở Phương Đông, Mikhail Borodin thực hiện chính sách của Quốc tế Cộng sản, mà theo lời Leon Trotsky để "mở ra con đường đến Paris, London" qua Afghanistan, Punjab, Bengal và Trung Hoa.

Mikhail Borodin và Hồ Chí MinhBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMikhail Borodin và Hồ Chí Minh

Sau khi Ba Lan đánh bại cuộc tiến công của Nga năm 1921, một 'Vành đai Y tế' (cordon sanitaire) được lập ra ở châu Âu để chặn chủ nghĩa cộng sản lan sang.
Lenin đã quay về phía Đông, chọn cách Bolshevik hóa Trung Quốc và các nước châu Á để chống lại Phương Tây.
Theo Dan Jacobs trong một cuốn sách về Mikhail Borodin thì ông đã chiêu mộ M.N. Roy, nhà hoạt động Ấn Độ, và tuyển Hồ Chí Minh.
Ông cũng chọn Tưởng Giới Thạch làm Hiệu trưởng trường Võ bị Hoàng Phố và sau làm tư lệnh quân đội Quốc Dân.

Borodin và Hồ Chí Minh

Sinh năm 1884 ở vùng nay là Belarus, Mikhail Borodin theo phe Bolshevik từ năm 1903, là đồng sự của Lenin, và [được cử] sang Anh và Hoa Kỳ khi còn trẻ.
Ông ghi danh học ở Valparaiso University, Indiana và sau lập ra một trường cho người di dân ở Chicago.
Về Nga sau Cách mạng 1917, Borodin được cử sang Bắc Âu, Mexico, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và Scotland để hoạt động.
Mikhail Borodin đã đồng sáng lập ra Đảng Cộng sản Anh, và biến Đảng Xã hội Mỹ thành Đảng Cộng sản, theo kế hoạch của Liên Xô.
Tương tự như vậy, trước khi sang Trung Quốc, Hồ Chí Minh từng sống nhiều năm ở Pháp, có sang Anh, Mỹ và đi một số nước khác.
Ông cũng là người đồng sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp.
Theo A.J. Langguth trong cuốn "Our Vietnam, The War, 1954-1975", vào năm 1923, "Hồ Chí Minh đã dùng một hộ chiếu do Đại sứ quán Trung Hoa ở Paris cấp để vào Nga".
"Ông Hồ sang Nga sau khi thấy "Phái cộng sản Xô Viết đã củng cố quyền lực tại Nga, khiến Hồ thấy những gì họ hứa cho đất nước của ông nhiều hơn hẳn những gì đảng Xã hội Pháp có thể cho. Cũng vì thế ông đã chính thức gia nhập đảng Cộng sản Pháp", A.J. Langguth viết.
Một điểm giống nhau nữa là cả hai người đều làm nghề báo cho hoạt động cộng sản của họ.
Các tài liệu tiếng Anh nói khác nhau về vai trò của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc.
Có sách nói ông làm phiên dịch cho Mikhail Borodin, nhưng cũng có tài liệu nói Hồ Chí Minh là người cộng tác (co-worker) với Borodin, hàm ý ông có vai trò riêng.
Nhưng có thật là Hồ Chí Minh làm phiên dịch cho Borodin và hai người trao đổi với nhau bằng tiếng gì?
Theo Arthur Ransome, người gặp Borodin năm 1924 và viết về ông trong cuốn 'The Chinese Puzzle(1927), thì khi sang Trung Quốc, Borodin dùng tiếng Anh.
Borodin khi ở Moscow từng có nhiệm vụ theo dõi báo chí Mỹ để soạn briefing cho Lenin.
Trong số 40 cố vấn Liên Xô cạnh chính phủ Dân quốc, Borodin là người duy nhất giao tiếp với phía Trung Quốc bằng tiếng Anh.
Hồ Chí Minh sang Nga năm 1923, đến Trung Quốc năm 1925 nên khi gặp Borodin thì chưa thể đủ vốn tiếng Nga và Hoa để phiên dịch việc quan trọng.
Theo Sophie Quinn-Judge trong cuốn 'Ho Chi Minh: The Missing Years, 1919‑1941' thì ông Hồ chỉ dùng chức danh phiên dịch cho ROSTA News Ageny của Nga (tiền thân của TASS) để có thể làm việc tại Quảng Châu.
Bà Sophie Quinn-Judge nói khi sang Trung Quốc lần đầu rằng ông Hồ gửi các thư bằng tiếng Pháp và Anh về Moscow và nói ông cần thời gian để học tiếng Hoa.
Một bức hình chụp Borodin ở Thượng Hải trước khi ông rời Trung Quốc giới thiệu người phiên dịch tiếng Trung của ông là Red Kwong, chứ không phải Hồ Chí Minh.
Tài liệu về Hồ Chí Minh ở ĐH Columbia viết ông "sang Trung Quốc để cộng tác chặt chẽ với Mikhail Borodin, một đồng sự Comintern, nhằm thổi lên cách mạng XHCN ở Trung Quốc".
Các hoạt động của ông chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ cho các thanh niên Việt Nam sang Trung Quốc và đưa tài liệu cộng sản về Đông Dương.
Vì thế, ta có thể tin rằng chức danh 'phiên dịch cho Borodin' của Hồ Chí Minh chỉ là vỏ bọc cho hoạt động của ông chứ không phải là thật.
Và hai người nếu trao đổi công việc chắc chắn đã dùng tiếng Anh.
Tất nhiên, dù làm gì thì Hồ Chí Minh cũng chịu sự lãnh đạo của Borodin, đại diện cao nhất của Liên Xô và Quốc tế Cộng sản ở Trung Quốc, nhất là trong việc đưa thanh niên Việt Nam vào học Trường Võ bị Hoàng Phố.
Vì là Do Thái hay nạn nhân của đổ vỡ Trung - Xô?
Sinh ra trong gia đình Do Thái (họ Grunzenberg), thân với Leon Trotsky và Karl Radek, nhưng Borodin thoát hiểm trong đợi thanh trừng người Do Thái lần đầu của Stalin ngay sau khi Lenin qua đời năm 1924.
Nhưng đến năm 1949, trong đợt 'bài Do Thái' lần hai ở Liên Xô, ông đã bị bỏ ngục.

Trương Học Lương (trái) và Thống chế Tưởng Giới ThạchBản quyền hình ảnhHULTON ARCHIVE/GETTY IMAGES
Image captionTrương Học Lương (trái) và Thống chế Tưởng Giới Thạch trong ảnh chụp năm 1930. Vào năm 1929, quân của Trương đã tấn công Lãnh sự quán Liên Xô ở vùng Đông Bắc, gây ra mâu thuẫn Trung - Xô. Sang năm 1934, hai nước lại tiếp tục có chiến tranh ở Tân Cương.

Tuy thế, cũng có lời giải thích rằng Borodin trở thành 'dê tế thần' cho sự đổ vỡ Trung - Xô lần một.
Tôn Trung Sơn qua đời năm 1925 và Tưởng Giới Thạch, người trở về sau khóa học chủ nghĩa Lenin tại Moscow, đã đổi chính sách.
Thời gian ở Nga khiến Tưởng Giới Thạch chỉ thêm ghét chế độ Xô Viết.
Mâu thuẫn giữa Liên Xô và chính phủ Quốc Dân Đảng gia tăng tới mức vào tháng 4/1927, Stalin gửi thư cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, kêu gọi nổi dậy vũ trang.
Ngày 6/4/1927, Stalin tuyên bố Quân đội Quốc Dân Đảng là kẻ thù và Tưởng phải bị tiêu diệt.
Một tuần sau, quân Tưởng Giới Thạch tàn sát phe cộng sản ở Thượng Hải, Quảng Châu, Quý Châu, Hạ Môn.
Mùa hè năm 1927, Mikhail Borodin phải trao lại quyền cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và về Liên Xô.
Hồ Chí Minh cũng trở lại Liên Xô lánh nạn.
Trên chuyến tàu về Moscow năm 1927, đi cùng Borodin còn có một vị thượng khách của chính phủ Liên Xô: bà Tống Khánh Linh.
Là vợ góa của Tổng thống Tôn Trung Sơn, bà cũng là chị gái của Tống Mỹ Linh, phu nhân của Thống chế Tưởng Giới Thạch.
Thiên tả và thân cộng sản, Tống Khánh Linh trốn thoát khỏi Thượng Hải khi các vụ 'diệt Cộng' xảy ra.
Trong ba người 'tỵ nạn' này, Hồ Chí Minh lên chức vụ cao nhất, làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1949, bà Tống Khánh Linh về Bắc Kinh làm một trong sáu phó chủ tịch Chính phủ Trung ương đầu tiên, rồi làm Phó Chủ tịch nước Trung Quốc thời Mao.
Mikhail Borodin có kết thúc đen tối nhất.
Về Moscow, ông làm Bộ trưởng Lao động, rồi phụ trách hãng thông tấn TASS.
Từ 1932 ông làm chủ biên tờ Moscow Daily News bằng tiếng Anh.
Năm 1949, ông bị công an bắt cùng người thư ký, Anna Louise Strong.
Bà Anna, đảng viên cộng sản Mỹ, chỉ vì xử tù tội 'gián điệp' và trục xuất khỏi Liên Xô nhưng Borodin thì bỏ mạng trong tù.
Có nguồn nói ông bị tra tấn chết trong nhà ngục Lefortovo ở Moscow ngày 29/05/1951.
Nhưng theo Dan Jacobs thì Borodin chết ở Siberia, trong trại lao cải Yakutsk, bên sông Lena.
Đây cũng là con sông Vladimir Ilyich Ulyanov đã lấy làm họ, Lenin, để kỷ niệm thời gian tù đày dưới chế độ Sa hoàng.
Mikhail Borodin dù sao cũng 'sống lâu' hơn các nhân vật hàng đầu của cách mạng Boshevik Nga thời Lenin.
Ngay từ những năm 1936-39, Grigory Zinoviev, Lev Kamenev, Karl Radek, Yuri Piatakov Grigory Sokolnikov, Mikhail Tukhachevsky, Genrikh Yagoda và nhiều lãnh đạo, tướng tá đã bị Stalin xử bắn.
Tờ New York Times, khi giới thiệu cuốn 'Borodin, Stalin's Man in China' (1981) của Dan Jacobs, đã gọi Borodin là 'Anh hùng kiểu Liên Xô': A Hero, Soviet-Style.
Phải đợi đến dịp kỷ niệm 80 năm ngày sinh ông, vào năm 1964, tờ Moskovkaya Prav­da mới đăng bài phục hồi danh dự cho Borodin, người từng nắm chức vụ cao nhất tại Trung Quốc trong thời tao loạn nửa đầu thế kỷ 20.
Cuộc đời ông cũng là một bài học cho người Nga trong nhiều nỗ lực bất thành khi họ muốn nắm lấy nước Trung Quốc to lớn và phức tạp.

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

“Các đồng chí cứ làm cách mạng văn hóa đi, tôi làm cách mạng vũ hóa”

Trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh:

“Các đồng chí cứ làm cách mạng văn hóa đi, tôi làm cách mạng vũ hóa”

 - Ông Lê Duẩn là người có ý kiến độc lập, tự chủ, ông nhận thức ra được sự phụ thuộc vào nước bạn có hại thế nào, và cố gắng tách ra. Nhưng, sau này, ông lại quá cực đoan, chống Trung Quốc mạnh quá, và ngả hẳn sang Liên Xô.
Tuần Việt Nam giới thiệu tiếp với quý vị phần 2 cuộc trao đổi với GS-TS Vũ Dương Huân về trường phải ngoại giao Hồ Chí Minh.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, vai trò của ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện như thế nào để tận dụng được sự giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô và Trung Quốc, mặc dù hai nước đang có mâu thuẫn về đường lối từ năm 1963 và đỉnh điểm là xung đột quân sự ở biên giới năm 1969?
Ví dụ, khi Việt Nam bắt đầu đàm phán với Mỹ năm 67-68, Trung Quốc không hài lòng. Việc ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam mình có giảm, và gần như không có tiếp xúc giữa lãnh đạo hai nước. Việt Nam không có cơ hội để giải thích tại sao phải làm như vậy.
Bác Hồ mới cử đoàn của Trung ương Cục miền Nam, dẫn đầu là ông Bí thư Nguyễn Văn Linh, sang Trung Quốc để báo cáo với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc về tình hình kháng chiến của nhân dân miền Nam. Trung Quốc đành phải tiếp vì họ giương cao ngọn cờ chống Mỹ. Nhưng Bác Hồ rất khôn khéo, ông đã gài Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào đoàn, và ông Đồng có cơ hội giải thích, trao đổi với họ về việc tại sao Việt Nam tiến hành đàm phán với Mỹ.
Trung Quốc luôn đòi hỏi Việt Nam ủng hộ đường lối cách mạng của Trung Quốc, nhất là Cách mạng Văn hóa, và đề nghị Việt Nam tiếp bước làm cách mạng văn hóa. Bác Hồ, bảo rằng “các đồng chí cứ làm cách mạng văn hóa đi, tôi làm cách mạng vũ hóa”, cho nên Trung Quốc đành chịu.
Trong quan hệ với Trung Quốc, Bác Hồ đã làm gì để dần thoát khỏi sức ép Trung Quốc, như đối với đàm phán và ký Hiệp định Geneva, phân chia tại vĩ tuyến 17, hay cải cách ruộng đất?
Khi mâu thuẫn với Liên Xô, Trung Quốc luôn luôn đòi hỏi Việt Nam phải ủng hộ các quan điểm, đường lối của Trung Quốc. Nghị quyết Trung ương 9 tháng 12/1963 chống xét lại, nhưng thực chất Việt Nam theo quan điểm Trung Quốc nhiều hơn. Việt Nam theo quan điểm của Trung Quốc, từ áp dụng cải cách ruộng đất đến đàm phán và ký kết hiệp định Geneva. Trong quá trình đàm phán, Việt Nam bị Trung Quốc, và phần nào đó là Liên Xô, lèo lái, dẫn đến những hạn chế không nhỏ cho kết quả hiệp định. 
Từ Đại hội Đảng II (1951), Đảng Cộng sản đưa tư tưởng của Mao Trạch Đông làm tư tưởng chủ đạo. Về phía Bác Hồ, người chỉ nói đạo đức thôi.
Tháng 7/1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu (Nam Ninh, Trung Quốc), có Đại tướng Võ Nguyên Giáp tháp tòng. Ông Chu Ân Lai hỏi Tướng Giáp rằng, nếu đánh tiếp thì bao lâu thống nhất được đất nước, Tướng Giáp nói rằng “cần 3 năm chúng tôi sẽ giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước”.
Nhưng tại hội nghị Geneva, Việt Nam không hiểu tình hình nên đành nghe theo Trung Quốc và Liên Xô. Liên Xô muốn có hòa dịu trên thế giới, còn Trung Quốc, sau Chiến tranh Triều Tiên (đình chiến năm 1953) muốn thoát khỏi sự bao vây của Mỹ (Nam Triều Tiên, Đài Loan và Đông Dương) và đẩy Mỹ ra xa hơn. Họ muốn miền Bắc Việt Nam trở thành khu đệm. Ý đồ sâu xa của Trung Quốc, sau này mới được làm rõ, là chia Đông Dương thành những nước nhỏ để trị (Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam, Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia).
Ông Việt Phương, nguyên thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong buổi họp báo giới thiệu sách của các nhà ngoại giao, đã tiết lộ rằng khi đàm phán hiệp định Geneva (1954), Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Phạm Văn Đồng đã mắc một sai lầm cực kỳ nghiêm trọng là nhờ Trung Quốc chuyển các bức điện về nước, và Trung Quốc biết hết các sách lược của Việt Nam và sử dụng chúng để ép Việt Nam ký hiệp định, theo lợi ích của Trung Quốc. Ông có nghe chuyện đó không?
Một như anh vừa nói, vì đoàn đàm phám không mang theo điện đài, hai là trong đàm phán lại sử dụng phiên dịch Trung Quốc tên là Văn Trang, trước đây đã phiên dịch cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tiếp xúc với cố vấn Trung Quốc. Đoàn đàm phán nói gì, viết gì, báo cáo bất cứ điều gì về Trung ương, và xin chỉ thị, Trung Quốc biết trước và tìm cách ngăn lại. Ông Phạm Văn Đồng sau này cũng thú nhận là Việt Nam quá tin Trung Quốc.
Tại hội nghị ấy, ông Đồng chỉ chủ yếu tiếp xúc với đoàn Liên Xô và đoàn Trung Quốc, trong khi Anh là đồng chủ tịch, quan điểm lại khác với Pháp, đoàn ta lại không tranh thủ, không hề tiếp xúc với phái đoàn Anh. Đó không phải là trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, đoàn đàm phán Việt Nam, có hơn 30 người, mà không có một chuyên gia nghiên cứu phục vụ đoàn. Đến khi bị hù dọa rằng Mỹ sẽ can thiệp nếu Việt Nam tiếp tục cuộc chiến, chúng ta đã buộc phải nghe theo, vì thiếu thông tin. Và kết quả là chúng ta đã phải bỏ ra gấp 7 lần thời gian, với bao nhiêu xương máu, để thực hiện cái điều mà Tướng Giáp nói với ông Chu Ân Lai.
Theo ông, nếu Việt Nam tiếp tục cuộc chiến, liệu Mỹ có nhảy vào can thiệp không?
Không! Lúc đó chúng ta không có nhà nghiên cứu nên không biết, nhưng sau này chúng tôi mới nghiên cứu và kết luận rằng lúc đó Mỹ không nhảy vào.
Lý do thứ nhất là vì vừa kết thúc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), trong đó Mỹ thiệt hại mấy trăm nghìn quân đã ảnh hưởng rất nhiều tới dư luận và Quốc hội Mỹ, và Tổng thống Eisenhower đã vận động Quốc hội mấy lần về việc đem quân ra nước ngoài, nhưng Quốc hội bác hết. Lý do thứ hai là sau đó Chính phủ Eisenhower mới ra một chính sách quốc phòng mới là New Look, chỉ cho phép quân Mỹ sử dụng không quân và hải quân, chứ không được đưa lục quân, ra nước ngoài. Như vậy, rõ ràng Mỹ đã không có chính sách, và ý đồ can thiệp vào Đông Dương.
Nếu cứ theo ý Tướng Giáp đánh tiếp, chỉ 3 năm sau chúng ta đã giải phóng được đất nước. Khi đó, Mỹ có thay đổi chính sách cũng không kịp.
Chúng ta sợ lời đe dọa của bạn cũng do đánh giá sai tình hình. Hội nghị Trung ương 6 (15/7/1954) đã đánh giá lực lượng của ta và Pháp tương đương nhau, nên đánh nhau sẽ rất lâu, và quyết định đường lối đàm phán gửi cho Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng. Chúng ta quên mất rằng chúng ta vừa chiến thắng ở Điện Biên Phủ nên thế của ta vượt trội so với Pháp. Tình báo của ta đã phát hiện ra việc Pháp điện cho Bộ Chỉ huy ở Hà Nội nói rằng “đừng đề Hà Nội trở thành Điện Biên Phủ thứ hai”. Sau này, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai cũng thừa nhận bằng miệng rằng ép Việt Nam ký hiệp định chia cắt đất nước là sai.
Tướng Giáp là tướng thực địa ở Điện Biên Phủ, nên ông nói 3 năm là hoàn toàn có lý. Có điều Tướng Giáp đã không thuyết phục được Bác Hồ, và qua đó là Trung Quốc, Liên Xô.
Sau Hiệp định Geneva và cải cách ruộng đất, khi chúng ta nghe theo Trung Quốc, làm sao Việt Nam lấy lại thế bình đẳng tương đối với Trung Quốc?
Việt Nam, từ Đại hội II chấp nhận nhiều quan điểm của Trung Quốc, nhưng dần dần Việt Nam cũng nhận thức được rằng những thứ đó là không đúng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước chúng ta cũng rút kinh nghiệm từ Geneva, và rất thành công. Kinh nghiệm Geneva đã giúp chúng ta tiến hành chiến tranh thành công, nếu không rút kinh nghiệm từ đàm phán ở Geneva, chúng ta không thể đàm phán hiệp định Paris thành công được. Thứ nhất, chúng ta rút kinh nghiệm ở Paris là đàm phán trực tiếp, chứ không đa phương (9 bên) như ở Geneva, thứ hai, chúng ta tự quyết định đường lối, chính sách, không dựa vào ai cả.
Có phải trong nội bộ Đảng ta, Bí thư Thứ nhất BCH TƯ Lê Duẩn có vai trò quan trọng trong việc lấy lại tính độc lập tự chủ trong các quyết định của Đảng?
Ông Lê Duẩn là người có ý kiến độc lập, tự chủ, ông nhận thức ra được sự phụ thuộc vào Trung Quốc có hại thế nào, và cố gắng tách ra khỏi Trung Quốc. Nhưng, sau này, ông lại quá cực đoan, chống Trung Quốc mạnh quá, và ngả hẳn sang Liên Xô.
Trong thời kỳ chống Mỹ, sau khi Mao Trạch Đông gặp Tổng thống Nixon ở Thượng Hải, Thủ tướng Chu Ân Lai có sang Việt Nam để giải thích rằng Trung Quốc làm thế là vì Trung Quốc muốn thoát khỏi bị cô lập (kẻ thù của cả Liên Xô và Mỹ), và đưa Trung Quốc phát triển lên, chứ không phải phản bội lại Việt Nam. Ông Lê Duẩn không chấp nhận lời giải thích đó, và khi tiễn ông Chu Ân Lai về nước, ông không cho xe ra đưa ông Chu Ân Lai ra máy bay, buộc ông Chu Ân Lai và người phiên dịch phải đi bộ từ sảnh chờ ra cầu thang máy bay.
Tại sao khi Việt Nam đã dần lấy lại thế độc lập tự chủ mà Trung Quốc vẫn đổ tiền đồ của cho chúng ta?
Đó cũng do Việt Nam có chính sách ngoại giao khôn khéo. Trung Quốc cũng đang chống Mỹ, và Trung Quốc muốn dùng ngọn cờ của Việt Nam để nâng vị thế của mình, và tranh giành vị trí bá chủ của Liên Xô trong đối đầu với Mỹ. Lợi ích trùng hợp thì họ phải giúp mình thôi.
Trong cuộc chiến ở Gạc Ma tại sao công binh của mình không được trang bị vũ khí, ngoài mấy khẩu AK tầm thường? Và được lệnh không nổ súng trước?
Sai lầm của ta là không chuẩn bị các phương án. Một là phương án Trung Quốc ứng xử hòa bình, Việt Nam chỉ mang tàu công binh ra thôi, phương án hai là Trung Quốc ứng xử bằng vũ trang thì mình cũng phải chuẩn bị lực lượng vũ trang, Trung Quốc đưa pháo thì mình cũng phải đưa pháo ra chứ.
Bởi vì ta lúc đó chỉ nhăm nhăm muốn tạo môi trường hòa bình để bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc ngay trong nhiệm kỳ của mình (ông Nguyễn Văn Linh hứa chỉ làm Tổng Bí thư một nhiệm kỳ). Trang bị của công binh ở Gạc Ma mới như vậy.
Hôm 7/5/1988, sau khi Trung Quốc chiếm Gạc Ma, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh ra Trường Sa, phát biểu trước chiến sĩ hải quân rằng "tàu lạ" đã tấn công và Việt Nam mất 64 chiến sĩ.
Hôm 14/3/1988, Trung Quốc chiếm Gạc Ma, thì 16/3 Bộ Chính trị họp (vì 15/3 bận đám tang cố Thủ tướng Phạm Hùng). Vào cuộc họp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã hỏi luôn: "Ai ra lệnh cho bộ đội không được bắn?" Đại tướng Lê Đức Anh phản bác đầu tiên, rồi đến ông Nguyễn Văn Linh, ông Đào Duy Tùng cũng đế vào. Ý kiến của ông Nguyễn Cơ Thạch hóa ra lại là ý kiến thiểu số, bị gạt ra ngoài.
Vai trò của Bác Hồ trong đàm phán Paris là gì?
Ý kiến Bác Hồ chỉ là những tư tưởng lớn thôi, nhưng nó được thể hiện rõ ràng trong quá trình đám phán. Một là phải kiên trì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, hai là những quyền dân tộc cơ bản. Sau này, Bộ Chính trị đã nêu ra 4 điều kiện cơ bản mà đàm phán Paris phải đảm bảo. Hay chỉ đạo của Bác Hồ để giành thắng lợi từng bước : đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Bác Hồ nói "mình phải biết thắng đế quốc to như Mỹ không theo kiểu Liên Xô vật ngửa phát xít Đức đươc, mà phải đánh cho Mỹ rút". Hay Bác Hồ nói "trải thảm đỏ cho Mỹ rút", Mỹ rút 500 ngàn quân là cán cân lực lượng đã thay đổi, và chúng ta sẽ thắng.
Bốn chỉ đạo của Bộ Chính trị với đoàn đàm phán là gì?
Một là Mỹ tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, hai là Mỹ chấm dứt can thiệp vào Việt Nam, ba là Mỹ hàn gắn vết thương chiến tranh, và bốn là mình giữ được lực lượng ở miền Nam, điều quan trọng nhất.  
Biểu hiện đầu tiên của quan điểm vừa đánh vừa đàm là gì?
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trong khi tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Mông Cổ, ông nâng ly lên và nói rằng “nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, tôi sẽ nói chuyện với Mỹ”.
Vai trò ngoại giao của Hồ Chí Minh trong việc thoát khỏi bao vây cấm vận chính trị và bao vây về chính trị và cấm vận về kinh tế sau khi Việt Nam đưa quân vào Cămpuchia như thế nào?
Tư tưởng của Bác Hồ là ngoại giao phải rất năng động, phải kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại, đoàn kết quốc tế và hội nhập quốc tế.
Ngoại giao phải năng động tức là phải kiên trì nguyên tắc mềm dẻo, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè, tìm kiếm hỗ trợ quốc tế. Việt Nam vận dụng tốt những nguyên tắc này nên mới phá vây, phá cấm vận, bằng ngoại giao. Đây là thời kỳ ngoại giao vô cùng năng động, so với thời kỳ trước.
Ông nói về thế phá bao vây, từ việc đầu tiên là bắt tay với các nước ASEAN, đúng không?
Đầu tiên là tranh thủ các nước ASEAN, xong lại giải quyết vấn đề Campuchia, rồi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Cái chốt ở đây là phải giải quyết vấn đề Campuchia, bởi vì nó mà Việt Nam bị bao vây, cấm vận, bị cô lập hóa. Mình vực dậy lực lượng Campuchia, họ cứng cáp lên thì Việt Nam rút quân về, rút toàn bộ vào tháng 9/1989.
Điều thứ hai Việt Nam phải giải quyết vấn đề với Trung Quốc, vì Trung Quốc vừa là nước lớn, nước láng giềng, vừa là nước có vai trò quan trọng trong vấn đề Cămpuchia, và sau đó thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Với ASEAN, Việt Nam có làm trước đó có tiến hành JIM1 và JIM2, vừa để tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á, nhằm mục tiêu hội nhập ASEAN, vừa để giải quyết vấn đề Campuchia.  
Trong các bộ trưởng ngoại giao, theo ông người nào thấm nhuần quan điểm ngoại giao Hồ Chí Minh nhất, nói cách khác là thành công nhất?
Theo tôi có 2 bộ trưởng ngoại giao thành công nhất, thể hiện quan điểm ngoại giao Hồ Chí Minh nhiều và rõ nhất, đó là ông Nguyễn Duy Trinh và ông Nguyễn Cơ Thạch.
Ông Nguyễn Duy Trinh là người có đóng góp tốt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông chỉ đạo đàm phán Paris, ông chỉ đạo đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rồi tranh thủ dư luận, tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, hay nghiên cứu chiến lược, sách lược… đều hết sức thành công, hầu như không có thiếu sót.
Nhưng trong giai đoạn đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ (1977-1978) ông không thành công, khi không tham mưu được cho lãnh đạo cấp cao đừng đền bù chiến tranh là điều kiện tiên quyết, vì chuyện đền bù do Quốc hội Mỹ quyết định, chứ không phải Tổng thống. Hay từ chối bình thường hóa quan hệ với ASEAN. Hay trong Nghị quyết Hội nghị TW 4 (27/7/1978) đã đánh giá tình hình thế giới sai không chuẩn xác. Việt Nam hành động sai, bị Trung Quốc đánh và bị bao vây cấm vận suốt hơn một thập kỷ.
Có thể nhắc đến vai trò của TBT Lê Duẩn, hay ông Lê Đức Thọ trong chuyện này, nhưng người phụ trách đối ngoại Nguyễn Duy Trinh vẫn phải chịu trách nhiệm nào đó. Tất nhiên, tôi chưa kết luận vì không tiếp cận được biên bản ghi quá trình thảo luận để ra được nghị quyết ấy.
Ông Nguyễn Cơ Thạch là người có tư tưởng rất sáng, đánh giá tình hình thế giới rất chuẩn xác, nghiên cứu rất sâu, đánh giá rất là chuẩn xác, mà hành động rất năng động. Ví dụ, cái thời Việt Nam bị khốn đốn về vấn đề Campuchia là thời ngoại giao năng động nhất, luôn có những hoạt động ngoại giao lớn, khi thì chơi với anh này khi thì tập hợp với anh kia, để chống trả anh khác.
Người thấm nhuần nhất tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ông Nguyễn Cơ Thạch, người bảo vệ tốt nhất lợi ích của Việt Nam. 
Xin cám ơn ông Vũ Dương Huân đã dành thời gian cho Tuần Việt Nam.
Huỳnh Phan (thực hiện)

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Nhận thức về HỒ CHÍ MINH - dân tộc hay cộng sản?

Nhận thức về HỒ CHÍ MINH - dân tộc hay cộng sản?

28 Tháng Mười 2015 4:52 CH
NGUYỄN CHÍNH (Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM)

Bookmark and Share

Hình ảnh của Nhận thức về HỒ CHÍ MINH - dân tộc hay cộng sản?
Tôi là một nhà báo về hưu, 85 tuổi, mua dài hạn tạp chí Hồn Việt từ mấy năm nay. Tôi đọc Hồn Việt rất đều. Có mấy bài của Hồn Việt về Chủ tịch Hồ Chí Minh làm tôi đặc biệt chú ý: bài “Huyền thoại kép” Hồ Chí Minh: vinh quang và những hệ lụy của Ngô Trần Đức (Hồn Việt số 81, tháng 5-2014) và Nhận thức về Hồ Chí Minh - những năm tháng gian nan của đất nước của Lê Kỳ Sơn (Hồn Việt số 94 và 95, tháng 7, 8-2015) giúp bạn đọc hiểu thêm về mấy khúc gian nan của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mấy đoạn lịch sử còn chưa được làm rõ đối với quốc dân. Tôi làm báo gần 30 năm, phần lớn tác nghiệp trong lĩnh vực thời sự chính trị, và hồi đầu kháng chiến làm nhân viên văn phòng chủ tịch (không phải ở ngay chỗ ở của Bác) hơn 4 năm trên ATK, mà có chi tiết bây giờ mới biết, đọc đến giật mình. Tôi rất cảm ơn tòa soạn và các tác giả. Cũng mong Hồn Việt sẽ tiếp tục có những bài giá trị về các đề tài kiểu này. Bởi đây không chỉ là những điều ẩn khuất của lịch sử hiện đại Việt Nam, nhiều người tò mò muốn biết đích xác, vả lại mọi con dân nước Việt đều có quyền được biết, mà còn là vấn đề quan điểm, nhận thức về đường lối, chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam.
Tôi có một số ý kiến xin mạo muội đóng góp thêm với tòa soạn và các tác giả.
1. Về vụ Nguyễn Ái Quốc bị “đâm sau lưng”
Có thể nói như vậy về vụ các đồng chí Trần Phú, Hà Huy Tập và sau này là Trần Ngọc Danh đã “tố giác” với Quốc tế Cộng sản, với Stalin về các “tội” của Nguyễn Ái Quốc.
Tôi không oán trách gì về Trần Ngọc Danh. Hồi 1948-1949 tôi ở Việt Bắc, đã biết (do nghe hóng hớt và đọc tin, đọc báo chứ không phải được phổ biến chính thức) rằng anh Trần Ngọc Danh, đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris từ 1946 đến lúc đó, chiến tranh đã nổ ra, đại diện ta vẫn hoạt động ở thủ đô địch, nhưng đến một lúc Pháp định bắt anh Danh và dẹp cơ quan đại diện của ta. Anh Danh sợ bị bắt, đã tự ý đóng cửa cơ quan và đem cả vợ con chạy sang Tiệp. Hình như khi ở Tiệp, anh có phát biểu thắc mắc gì đối với Trung ương (tôi mang máng nhớ lúc ấy anh phản ứng về việc ta phát động toàn quốc kháng chiến, cho là hiếu chiến, gây chiến - như luận điệu của Pháp). Về nước, anh bị kỷ luật vì đào nhiệm chạy trốn. Sau đó anh ốm đau và chết. Vụ này tôi cho là bình thường. Anh Danh sai lầm, đã bị xử trí.
Còn ông anh của Trần Ngọc Danh và Hà Huy Tập thì khác. Trần Phú nhân danh ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản về triệu tập Đảng Cộng sản Việt Nam, bỏ các văn kiện thời hội nghị thành lập Đảng, làm đảo chính hạ Ban Chấp hành Trung ương cũ, và cử Ban Chấp hành mới do mình làm Tổng bí thư, rồi đưa ra nghị quyết mới, trong đó có bản cương lĩnh mà ngày nay được đặt lên bàn thờ, coi là bản cương lĩnh đầu tiên do Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thảo ra. Có hồi tham gia soạn thảo lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất, tôi đã nghiên cứu cương lĩnh này, thật ra đó là sự sao chép từ Quốc tế Cộng sản, đậm đặc đấu tranh giai cấp. Đây chính là ngọn đuốc soi đường cho Xô viết Nghệ Tĩnh và theo cá nhân tôi, “tro khói” của nó còn “ám” theo Đảng ta đến tận khởi nghĩa Nam Kỳ, mặc dù đã trải qua mấy năm Mặt trận Bình dân. Chuyện ấy cũng không tính cho hai vị Trần, Hà, bởi đó là lệnh áp đặt của Quốc tế Cộng sản và Stalin. Bên Trung Quốc hồi đó là Tổng bí thư Lý Lập Tam, người được Quốc tế 3 tin cậy, và ông này đã dẫn tới thất bại đẫm máu Xô viết (cũng Xô viết) Quảng Châu; rồi cuộc vây tiễu thứ 5 của Tưởng đánh vào Khu giải phóng Hoa Nam (rất rộng lớn), Đảng Cộng sản Trung Quốc phải bỏ Khu giải phóng, mở cuộc trường chinh thoát hiểm, và trên đường đi đã hạ bệ Lý Lập Tam, mở kỷ nguyên Mao Trạch Đông. Stalin ngậm bồ hòn.
Điều không thể chấp nhận đối với Trần Phú và Hà Huy Tập là các ông đã “kể tội” Nguyễn Ái Quốc bằng cách mật báo cho Moskva, không những nói cái “dân tộc chủ nghĩa” ở Nguyễn mà Stalin đã chú ý và thành kiến, mà còn gieo nghi ngờ rằng Nguyễn đã đầu hàng, chống Liên Xô. Tố giác vào ngay lúc ở Liên Xô đang có cao trào thanh trừng đẫm máu của Stalin, trong đó chính các đồng chí người Nga phụ trách hoặc đồng sự của Nguyễn ở Viện phương Đông và phái đoàn Borodin rồi cũng đều bị bắt, bị giết. Có nghĩa là Trần và Hà quyết đưa Nguyễn vào cửa tử, đúng lúc Nguyễn đang cảnh lao đao lại đâm đầu vào cửa tử đang mở rộng. Sao họ “đâm sau lưng” Nguyễn Ái Quốc như thế? Bởi ý thức bônsêvích hồi ấy? Bởi tư thù? Bởi động cơ địa vị? (không chắc, vì thời ấy Đảng ta - Việt Nam chưa mắc “bệnh” này nhiều, chức trong Đảng càng to thì càng gần máy chém. Vả lại Trần Phú đã là Tổng bí thư rồi kia mà!)…
Tôi thiết tưởng giới sử học ta phải tìm hiểu sâu chuyện này. Nếu bài báo của Hồn Việt phát hiện là đúng, thì phải yêu cầu Trung ương Đảng nói lại rõ ràng. Hai ông Trần, Hà đã hoạt động và kiên cường chống đế quốc thì ta cứ vinh danh như bao liệt sĩ cách mạng khác. Còn cái Cương lĩnh 90 Hàng Bông Nhuộm có giá trị đến đâu thì các sử gia, lý luận gia xem xét kỹ và thẩm định. Riêng việc tung hô các ông ấy là học trò xuất sắc của Bác Hồ thì xin cắn cỏ lạy các vị, nên chấm dứt đi vì nó quá lố bịch! Vinh danh quá đáng, mù quáng Trần Phú và Hà Huy Tập, thật “kính chẳng bõ phiền”!
2. Nhận thức về Hồ Chí Minh - dân tộc/ cộng sản?
Cùng tìm hiểu và phân tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những thời điểm gian khó khắc nghiệt nhất trong cuộc đời hoạt động chính trị của Người, nhưng “Huyền thoại kép...” bàn về tài năng, sự kiên định của Người khi vượt qua những cuộc chiến có khi tới mức “sinh tử” đó, còn “Nhận thức…” của Lê Kỳ Sơn lại có tham vọng đi tới một nhận thức dứt khoát về một huyền thoại của dân tộc bằng cách tìm một cái nhìn thật rộng, thật sâu vào bản chất của vĩ nhân Hồ Chí Minh. Tham vọng quả là quá lớn, e rằng còn rất lâu mới có thể tàm tạm thu lại các đầu mối, chứ chưa nói đến kết luận cuối cùng.
Tôi chỉ xin có một chút ý kiến nông nổi góp với bài báo, chứ không phải góp vào việc thảo luận vấn đề (là chuyện tôi không đủ sức).
Nói chung, tôi hoan nghênh bài “Nhận thức…” của Lê Kỳ Sơn nhưng chỉ đồng tình một nửa. Tôi đồng ý với ông rằng về bản chất Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động chính trị có căn cốt dân tộc chủ nghĩa từ đầu chí cuối - Stalin không nhận định sai mà Nguyễn Ái Quốc cũng đâu có chối. Tôi đinh ninh Bác Hồ của thế hệ chúng ta trước sau vẫn mang cốt cách và tâm hồn một ông đồ yêu nước, mà cụ thể hơn, là một ông đồ Nghệ chứ không phải xứ nào khác. Rõ ràng nhờ sự toàn tâm toàn ý với Tổ quốc Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam và những người cộng sản Việt Nam đến thắng lợi “cự thế vô song” như Chu Ân Lai thừa nhận. Nhìn rộng ra: cùng thời này, cũng nhờ vững vàng trên cái nền cách mạng dân tộc mà các đảng cộng sản (ĐCS) cũng đã thắng lợi ở Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba(*) (Triều Tiên không tự giải phóng cả 2 lần vào năm 1945 và 1950, nhưng họ đã đứng vững, một phần vì họ tự ái dân tộc rất ghê gớm, không cho ai sai khiến mình; còn Cuba của Fidel vô cùng oanh liệt và đã toàn thắng, một số lần đã cưỡng lại Liên Xô và thành công, có thời Cuba cũng thẳng tay vạch mặt Mao đi đêm với đế quốc Mỹ). Cũng thời ấy, sau thế chiến 2, một số cuộc cách mạng của phái tả nhưng theo lối cũ đã thất bại. Gần ta, cũng vũ trang, có ĐCS Mã Lai, ĐCS Miến Điện; bên trời Âu thì có ĐCS Hy Lạp (Tito vẫn tố chính Stalin phản bội, bỏ mặc cho phản động Hy Lạp được Anh - Mỹ viện trợ dẹp tan cuộc chiến đấu vũ trang của ĐCS Hy Lạp sau thế chiến 2, mặc dù trước đó, chống Hitler, cuộc kháng chiến của ĐCS Hy Lạp đã phát triển rất mạnh, khu giải phóng rộng lắm). ĐCS Pháp và ĐCS Ý trong chiến tranh du kích đóng góp rất anh dũng, gây được thế lực rất mạnh, thế mà sau chiến tranh cũng bị bọn phái hữu dựa thế Mỹ chèn lấn và hất văng khỏi địa vị chính trị vốn áp đảo của mình. Phải chăng vì các đảng ấy quá trung thành với Quốc tế đệ tam nên đã tự “gột sạch chủ nghĩa dân tộc”, rốt cuộc vốn liếng nội lực rỗng tuếch, kẻ địch chỉ đẩy một cái là đã lăn kềnh?
Ông Mao ở Trung Quốc là tay vận dụng “chủ nghĩa dân tộc” bậc thầy. Ông ta đưa ra luận thuyết ba thế giới, gom tất cả các thuộc địa, các nước đang phát triển thành một trong ba phe lớn của thế giới, để thiên hạ tôn ông là “giáo chủ” của phe ấy. Sự đầu tư của chủ nghĩa Mao vào chiêu bài dân tộc chủ nghĩa đã đem lại siêu lợi nhuận, đưa Trung Quốc lên thành siêu cường số 2 khi mà một thế giới trong ba đã bị đổ sập; bây giờ thì hậu duệ của ông ta đã có thể ngang nhiên cho thế giới thấy rõ: “Trung Quốc không bao giờ xưng , chỉ vì ta muốn xưng đế kia!”. Mỹ, Nga, Trung đều đang phát huy “chủ nghĩa dân tộc lớn”.
Dân tộc không chỉ là khái niệm, mà là thực thể trường tồn với lịch sử loài người. Từ chủng tộc, bộ tộc, sắc tộc đến dân tộc, phải thấy dân tộc tồn tại từ khi chưa có giai cấp. Và mãi sau này, không còn giai cấp đi nữa (nếu chủ nghĩa Mác là đúng) thì dân tộc vẫn còn. Bởi vậy trong hoạt động chính trị quốc gia và quốc tế, ai coi nhẹ và bất chấp vấn đề dân tộc sẽ bị thất bại, ai vận dụng tốt nó sẽ có lợi (kể cả Hitler, Hoàng đế Nhật Bản, Gandhi…), miễn đừng lạm dụng quá trớn, quá dại!
Nói đi cũng nên nói lại. Tôi nhớ sau thế chiến 2, có lúc chính Stalin đã nói khác về vấn đề này: Với các ĐCS nước thuộc địa hoặc đang phát triển, “Đảng cộng sản phải nắm lấy và giương cao ngọn cờ dân tộc, biến mình thành dân tộc” (!). Câu này, tôi nhớ đã đọc thấy trong cuốn sách nhỏ Một số vấn đề về kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm các bài viết, nói, thư trích của Stalin thời kỳ 1950-1954, nghĩa là không lâu trước khi đại lãnh tụ tạ thế. Tôi không còn giữ tập này, nhưng có lẽ cũng không quá khó kiếm, các vị tác giả bài báo có thể thử tìm xem. Trong tập này còn có một bài Stalin nói về ngôn ngữ học, sau được coi như “Thánh kinh” của ngôn ngữ học Xô viết. Trong đó ngài có phán: “ngôn ngữ không có tính giai cấp”, làm tôi (hồi ấy) vô cùng ngạc nhiên. Sau này trưởng thành hơn, mới biết là trên đời này có vô vàn những thứ không hề có tính giai cấp, mà người ta lại cứ hơi một tí là giở “tính giai cấp” ra, là để dọa anh em, lòe người đời.
Điều tôi bất đồng với tác giả Lê Kỳ Sơn là: bài “Nhận thức…” đã chia Hồ Chí Minh thành hai nửa: yêu nước - cộng sản, riêng biệt nhau, đối lập thậm chí loại trừ nhau. Trong đó phần yêu nước là gốc, là mục đích cao nhất, là tự nguyện, là thật hoàn toàn, còn cộng sản là ngọn, là phương tiện hoặc công cụ ngoại lai, là bề ngoài ngụy trang. Thiện chí của tác giả bài “Nhận thức…” là ở chỗ: tác giả đã giải thích và chứng minh cái thế mắc kẹt của Hồ Chí Minh trong những tình thế gian nan ấy, để mong người đọc sẽ thương cảm và thông cảm với người yêu nước Hồ Chí Minh, càng yêu mến và kính phục về những hy sinh, chịu đựng trùng trùng mà Hồ Chí Minh đã gánh chịu và vượt qua. Nhiệt tình đến mức: bài thơ về mất tự do trong tập Nhật ký trong tù với câu kết “Để người ta dắt tựa trâu bò”, bài thơ Hồ Chí Minh làm trong nhà tù Quốc dân đảng Trung Quốc năm 1943, đã được dẫn ra để vận vào sự nghiệp cả đời đầy “ràng buộc khắc nghiệt mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã không thể vượt qua”.
Tôi đã nói là chỉ dám phát biểu về bài báo, trong phạm vi ấy thôi. Thì thế này: Trước khi xác định Hồ Chí Minh-cộng sản là thật hay vờ, anh phải tìm xem: đối với Việt Nam, cộng sản có phải toàn là mặt tiêu cực không? Có những tác dụng tích cực gì? Hồ Chí Minh nếu không cộng sản thì sao? Anh sẽ thấy nếu thế thì đã không có Hồ Chí Minh và không có sự nghiệp cách mạng như ngày nay. Việt Nam đã từng có hàng ngàn hàng vạn ông đồ cực kỳ yêu nước, cực kỳ tận tụy hy sinh và không bị kẹt bởi chủ nghĩa nào cả, chỉ vướng cái “chi hồ giả dã” và triều đình ngu tối, chứ không bị giáo lý nào ràng buộc, nhưng chỉ thành nhân và hy vọng thành danh, chứ không ai thành công. Chỉ Nguyễn Ái Quốc thành công, ấy là vì sao, nếu không phải bởi Người đi con đường cộng sản? Mà đã đi con đường ấy một cách giả vờ thì làm sao thành công? Ta cứ ca tụng “dĩ bất biến ứng vạn biến”, ông tướng cộng sản vờ không có “bất biến” nào mà chỉ toàn “vạn biến” thật giỏi, thì cứ quay tít như con thò lò, hỏi rằng đánh đấm gì?!
Tôi không dẫn chứng gì vì không phải nhà khoa học, nhưng tôi tin chắc rằng chúng ta bàn luận trên báo phải rất kỹ lưỡng và tôn trọng các sự thật lịch sử bằng cách cố gắng thẩm định chúng cho đến nơi đến chốn.

_____
(*) ĐCS Indonesia cũng rất mạnh, đã ngấp nghé cầm quyền. Sau độc lập ĐCS Indonesia liên minh ủng hộ Sukarno và trở nên một đảng lớn, vị thế áp đảo. Nhưng năm 1965, phái hữu nổi dậy chống Sukarno, ĐCS Indonesia nghe Trung Quốc “xui dại”, làm một cuộc đảo chính non, thất bại, mất sạch.