Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

Số phận kỳ lạ của bản thảo tập thơ "Ngục trung nhật ký"

Số phận kỳ lạ của bản thảo tập thơ "Ngục trung nhật ký"

Thứ hai, ngày 23 Tháng 9 năm 2013 15:23



Cụ Hồ Chí Minh không chủ tâm làm văn chương, toàn bộ tâm trí của Cụ dành cho sự nghiệp đuổi giặc, cứu nước. Nhưng cũng như nhiều anh hùng dân tộc trong lịch sử, Hồ Chí Minh “trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ”. Nhật ký trong tù, tập hợp hơn 100 bài thơ do Cụ sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ trong nhà tù Quảng Tây, Trung Quốc là một minh chứng sinh động, thể hiện phẩm chất, tâm hồn của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một nghệ sĩ lớn, có tấm lòng nhân ái bao la.
     Anh bai So phan ky la cua ban thao Nguc trung nhat kySáng tác văn chương của Hồ Chí Minh rải ra từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX cho đến lúc Cụ qua đời. Có bài được viết bằng tiếng Pháp, có bài bằng tiếng Việt, có bài bằng chữ Hán, tất cả đều xoay quanh một chủ đề “cứu nước, giải phóng dân tộc”, song không có bài nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, chính nghĩa, cơm áo, hòa bình… là những nội dung chủ yếu của thơ văn Hồ Chí Minh.
     Trong những sáng tác văn chương đó, Ngục trung nhật kýcó một vị trí đặc biệt. Đó là những bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh oái oăm - hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt, nhiều khi ra đời chỉ như là kết quả của một ngẫu hứng nào đó nhằm ghi lại một cảnh sinh hoạt, một tâm tư trong tù. Thế mà sau khi được tập hợp và dịch ra, công bố rộng rãi với thế giới, những sản phẩm “thơ của một thời” ấy bỗng trở thành “thơ của muôn đời”, như lời một nhà xuất bản Pháp viết, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Đã có nhiều nhà nghiên cứu làm rõ những giá trị bất hủ này. Ở đây không bàn lại.
      Duy bản thảo tập thơ lại có một số phận kỳ lạ, kỳ lạ như chính cuộc đời của tác giả, nghĩa là đã trải qua một thời kỳ thất lạc hơn mười năm, tưởng như đã mất hút, không thể có mặt trên văn đàn! Lợi dụng điều này, đã có một vài tiếng nói lạc điệu, cố tình đổi trắng thay đen, tung ra luận điệu về “lai lịch bất minh của Ngục trung nhật ký” hòng thực hiện ý đồ: phủ nhận “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký”, nhằm chống lại sự tôn vinh của UNESCO đối với những cống hiến của Hồ Chí Minh vào kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại. Nếu đây là luận điệu của những người nặng đầu óc hận thù, chuyên nghề bồi bút thì không đáng chấp, nhưng trong số những người xuyên tạc này lại có người mang danh “giáo sư, tiến sĩ, học giả” nên có thể gây ra những hoài nghi nhất định trong một số đồng bào ta ở xa Tổ quốc. Vì vậy, nói lại một cách rõ ràng về “lai lịch” của tập thơ, để độc giả trong nước, nhất là đồng bào ở hải ngoại, có điều kiện hiểu đầy đủ và chính xác hơn về thi phẩm giá trị này là rất cần thiết.
Hoàn cảnh sáng tác, quá trình thất lạc của "Ngục trung nhật ký"
    1. Như chúng ta đã biết, tháng 8-1942, Hồ Chí Minh lên đường sang Trùng Khánh với mục đích “kiến yếu nhân” (Thế lộ nan)1, nghĩa là dự định thông qua sự giới thiệu của bà Tống Khánh Linh để tiếp kiến Tưởng Giới Thạch, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của Trung Quốc đối với tổ chức cách mạng và cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật của nhân dân Việt Nam.
    Lúc này, Nhật đã chiếm gần hết miền duyên hải phía đông của Trung Quốc và toàn bộ bán đảo Đông Dương, đặt ách thống trị lên Việt Nam. Hai dân tộc Hoa - Việt có một kẻ thù chung là bọn quân phiệt Nhật. Ở Trung Quốc, do đòi hỏi của tình hình, vì lợi ích chung của cả dân tộc, Tưởng Giới Thạch đã buộc phải hợp tác với Đảng Cộng sản để chống Nhật. Trên thế giới, Anh, Pháp, Mỹ cũng đã hợp tác với Liên Xô để chống lại phe phát xít Đức - Ý - Nhật. Việt Nam và Trung Hoa cần phải hợp tác với nhau chống kẻ thù chung, đó là đòi hỏi khách quan của tình hình và phù hợp với lợi ích chung của cả hai dân tộc. Nhu cầu đó buộc Hồ Chí Minh phải đích thân đi Trung Quốc, nhằm tiếp xúc với Tưởng Giới Thạch, nhằm cải thiện quan hệ giữa hai dân tộc, phối hợp đấu tranh chống kẻ thù chung. Nhưng khi Hồ Chí Minh vừa vượt biên giới, đến phố Túc Vinh, huyện Tĩnh Tây, thì Cụ bị lính của Trung tướng Trần Bảo Thương, Chủ nhiệm Cục Tình báo Trung ương Quốc dân Đảng, lúc đó đóng ở Tĩnh Tây, bắt giam, vì “tình nghi Cụ là gián điệp!”.
Tại sao Cụ Hồ bị giải tới, giải lui hàng năm trời mà không nơi nào chịu xét xử?
    Thực ra, một đơn vị quân tình báo (chuyên thu thập tin tức về quân đội Nhật ở Việt Nam) không có quyền ra lệnh bắt người, nhất là trên đất Quảng Tây, nơi có chính quyền riêng, tòa án riêng, vì vậy Trần Bảo Thương bắt người không được chính quyền Quảng Tây chấp nhận. Điều đó giải thích tại sao Cụ Hồ Chí Minh cứ bị giải tới giải lui hàng năm trời mà không có nơi nào chịu nhận xét xử.
   Chặng thứ nhất, họ giải Cụ Hồ từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính rồi tới Nam Ninh - nơi đóng các cơ quan đầu tỉnh. Nhưng tòa án Nam Ninh không nhận xử, vì vụ này không phải do chính quyền tỉnh Quảng Tây ra lệnh bắt giam. Vì thế, họ lại giải Cụ về Vũ Minh. Cụ đã nói lên nỗi bất bình của mình trong bài Giải đi Vũ Minh:
Đã giải đến Nam Ninh,
Lại giải về Vũ Minh;
Giải đi quanh quẹo mãi,
Kéo dài cả hành trình.
                               (Bất bình!)2
Do bắt một người nước ngoài, vu cho là gián điệp mà không có chứng cớ gì, không một tòa án nào dám xét xử; từ Nam Ninh họ lại giải Cụ đi tiếp qua Thiên Giang, Lai Tân đến Liễu Châu, nơi đặt bản doanh của Đệ tứ chiến khu do Trương Phát Khuê làm tư lệnh. Trong bài Đến Liễu Châu (9-12), Cụ viết:
Muôn cay ngàn đắng đâu vô hạn,
Mồng chín ta vừa đến Liễu Châu;
Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng,
Tỉnh ra, trên mặt vẫn vương sầu3.
Nhưng bộ tư lệnh quân khu đâu có phải là tòa án, vả lại việc bắt Hồ Chí Minh chẳng liên quan gì đến Bộ Tư lệnh Quân khu Quảng Tây, nên họ giam Cụ Hồ tại đây khá lâu, rồi lại giải Cụ đi tiếp lên Quế Lâm, định bàn giao cho Lý Tế Thâm, lúc đó là Chủ nhiệm hành dinh Quế Lâm, để xét xử. Nhưng Lý nói: “Ông Hồ Chí Minh là người Việt Nam, thì cứ đưa về Liễu Châu, ở đó có Hội Việt Nam Cách mệnh đồng minh của người Việt Nam, mà xét xử”. Thế là Hồ Chí Minh lại bị giải trở lại Liễu Châu. Nỗi bất bình của Người đã lên đến cao điểm:
Liễu Châu, Quế Lâm lại Liễu Châu,
Đá qua đá lại, bóng chuyền nhau;
Quảng Tây đi khắp, lòng oan ức,
Giải đến bao giờ, giải tới đâu?4.
Tại sao họ lại trả Hồ Chí Minh về Liễu Châu?
    Có thể, cuốn Độc lập đặc san do tổ chức cách mạng ở trong nước biên soạn và phát hành, đã được gửi tới các cơ quan trung ương của chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh và cả cơ quan đại diện Hãng thông tấn UPI của Mỹ ở đó. Trong lời giới thiệu, đặc san có viết rõ: “Hồ đại biểu là đại biểu của Hội quốc tế chống xâm lược - Phân hội Việt Nam. Mục đích của Hồ đại biểu là tới Trùng Khánh để gặp Tống Khánh Linh phu nhân, nhờ bà giới thiệu với Tưởng Ủy viên trưởng để thương lượng về việc hợp tác chống Nhật ở Việt Nam...”. Qua đó, họ biết Hồ Chí Minh là lãnh tụ phái tả của cách mạng Việt Nam, một nhân vật có uy tín, có thực lực. Điều này, giới lãnh đạo cao cấp Trung Hoa ở Trùng Khánh đã biết và qua tổ chức OSS, người Mỹ cũng biết. Họ thấy cần phải tranh thủ Hồ Chí Minh.
    Thời gian này, Trung Quốc đang bắt tay vào chuẩn bị kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” để khi Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương, hoặc chiến tranh thế giới kết thúc, họ có ngay một tổ chức chính trị của người Việt Nam lưu vong từ Trung Quốc về - dù là một mặt trận liên hiệp lỏng lẻo - cũng sẽ tạo một thuận lợi về chính trị cho họ khi đem quân vào Việt Nam. Vì thế, họ đã thay đổi thái độ đối với Hồ Chí Minh.
     Hồ Chí Minh về tới Liễu Châu vào thời điểm Hội Việt Nam Cách mạng đồng minh đang chuẩn bị họp đại hội toàn quốc. Họ muốn Hồ Chí Minh giúp họ tham gia cải tổ tổ chức này, nên lập tức Cụ Hồ được thăm hỏi, ưu đãi, được tặng sách, cấp quần áo rét, từng bước nới lỏng rồi dần dần trả tự do cho Cụ, mời Cụ tham gia Ban trù bị Đại hội, rồi lại được Đại hội bầu vào Ban Chấp hành của Đồng minh Hội!
     Ngục trung nhật ký ra đời trong bối cảnh đó (từ cuối năm 1942 đến cuối năm 1943). Trước hết nó là cuốn nhật ký ghi lại cuộc hành trình gian khổ “Quảng Tây giải khắp mười ba huyện/ Mười tám nhà lao đã ở qua”5, bị giải đi bốn, năm chục cây số một ngày, bị ăn đói, mặc rét, bị ghẻ lở, bệnh tật, chấy rận, muỗi rệp hoành hành, nhiều đêm “Không ngủ được”, phải “ngồi trên hố xí đợi ban mai”6.
     Ngục trung nhật ký cũng phản ảnh nhiều sự kiện chính trị thế giới, Trung Quốc và Việt Nam diễn ra trong thời kỳ 1942-1943, gắn liền với các địa danh của tỉnh Quảng Tây, với các nhân vật có họ tên, chức vụ cụ thể trong Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Quảng Tây (nghĩa là không có cái gì liên quan đến nhân vật và sự kiện ở Hồng Kông thời kỳ 1931-1933, như có người xưng là “học giả” đã bịa đặt!).
     Ngục trung nhật ký còn phản ánh tâm hồn đại trí, đại nhân, đại dũng của một nhà cách mạng đã vượt lên mọi sự đày ải của kẻ thù, giữ vững khí phách kiên cường, tinh thần lạc quan và lòng nhân ái bao la của một nhà cách mạng đối với nhân loại đau thương, bất kể họ là ai, nguồn gốc thế nào, hễ bị đau khổ là Cụ thương cảm.
     Bản thảo Ngục trung nhật ký ban đầu được viết bằng bút chì, trên mép trắng cắt ra từ những mảnh báo, khâu lại bằng sợi chỉ, bên ngoài đề là Ngục trung sinh hoạt cốt để không gây chú ý cho bọn gác ngục. Sau khi được trả tự do, rời khỏi Đệ tứ chiến khu, về sống ở trụ sở của Hội Việt Nam Cách mạng đồng minh trên đường Ngư Phong, thành phố Liễu Châu, Cụ Hồ mới có thời giờ xem lại, sửa chữa, hoàn thiện bản thảo vốn được ghi vội bằng bút chì trên các mẩu giấy báo, chép lại sạch sẽ bằng bút lông vào một cuốn sổ tay khổ 9,5 x 12,5 và đặt lại tên là Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù). Trong quá trình chép lại có sửa chữa vào cuốn sổ, người đọc nhận thấy có bài đã được tác giả đặt tên mà chưa kịp chép thơ và ngược lại, có hai bài đã chép thơ mà chưa kịp đặt tên, cho thấy tác giả vẫn đang còn tiếp tục cân nhắc.
      Như đã nói, Ngục trung nhật ký không chỉ ghi lại những cảnh sinh hoạt trong tù, mà khách quan còn có ý nghĩa tố cáo chế độ nhà tù vô nhân đạo của chính quyền Tưởng Giới Thạch, nên về thời gian sáng tác, ở đầu cuốn sổ, Hồ Chí Minh vẫn cẩn thận viết chệch đi 10 năm: 29-8-1932 - 10-9-19337; nhưng cuối tập thơ, trang 53, trên chữ “hoàn” (hết), Cụ vẫn đề rõ cùng một thứ chữ: 29-8-1942 - 10-9-1943.
      Một số nhà hoạt động cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc thời đó, như các ông Lê Tùng Sơn, Hồ Đức Thành... trong thời gian dự Đại hội các tổ chức cách mạng ở hải ngoại, tháng 3-1944 tại Liễu Châu, đã được tiếp xúc, trò chuyện với Cụ Hồ Chí Minh, trong lúc trà dư tửu hậu, đã được nghe Cụ đọc thơ hoặc cho xem bản thảo tập Ngục trung sinh hoạt, trong đó có một số câu, một số chữ có khác với chính bản đã được tác giả sửa chữa và công bố sau này.
     2. Sau Đại hội các tổ chức cách mạng ở hải ngoại, tháng 8-1944, Hồ Chí Minh được tướng Trương Phát Khuê cho về nước cùng với 18 thanh niên do Cụ lựa chọn. Trên đường về, Cụ dừng lại nghỉ ở làng Hạ Đống (thuộc huyện Long Châu). Rời Hạ Đống, “Người đã gửi lại một chiếc vali mây, trong đó có tấm chăn quân dụng và một số sách vở giấy tờ, nhờ gia đình Nông Kỳ Chấn giữ hộ” (Hoàng Tranh dẫn theo hồi ký của Nông Kỳ Chấn)8.
    Về nước, công việc chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 diễn ra rất khẩn trương, kẻ địch tăng cường lùng sục, Cụ Hồ phải liên tục chuyển địa điểm, nhiều lần phải tạm lánh sang các xã thuộc huyện Long Châu bên Trung Quốc, đồ đạc, giấy tờ, trong đó có cuốn sổ tay thơ, được gửi lại nhà nào, Cụ không còn nhớ nữa (nhưng không có chuyện giắt lên mái tranh như có người đã viết, bởi Cụ Hồ là người rất cẩn thận). Cuốn sổ tay thơ của Cụ bị thất lạc từ đó. Rồi công việc cách mạng khẩn trương đã cuốn Cụ đi, bởi công việc làm thơ đối với Cụ, nói như GS. Đặng Thai Mai, chẳng qua “chỉ là một cử chỉ đánh rớt vào thơ”, nên Cụ chẳng có thời giờ để nhớ đến nó.
    Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, theo ông Tạ Quang Chiến - một người giúp việc lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Văn phòng Chủ tịch nước, kể lại: Một hôm vào khoảng giữa năm 1955, ông đang ngồi nhận công văn do các nơi gửi đến, thì thấy trong đó có một phong bì dày cộm hơn các phong bì khác, trên phong bì không đề tên người gửi, mà chỉ có dòng chữ: Gửi Văn phòng Chủ tịch phủ để trình lên Bác Hồ. Mở phong bì ra, ông thấy có một cuốn sổ nhỏ viết bằng chữ Hán rất sạch sẽ, không có chỗ nào gạch xóa, ông đem trình lên Bác Hồ. Nhận cuốn sổ tay, xem qua một lượt, niềm vui hiện rõ trên nét mặt, Người nắm chặt tay ông Tạ Quang Chiến và nói: “Bác cảm ơn chú!” và dặn phải có thư cảm ơn và tặng thưởng cho người có công giữ gìn và chuyển lại cuốn sổ này9.
    Tháng 9-1955, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một cuộc triển lãm lớn về cải cách ruộng đất đã được tổ chức tại phố Bích Câu, Hà Nội. Ngày 6-9-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm triển lãm. Nói chuyện với cán bộ, nhân viên triển lãm, Cụ khen triển lãm công phu, gây được ảnh hưởng tốt trong nhân dân, và hứa sẽ có quà thưởng cho Ban tổ chức. Một cán bộ được cử lên Phủ Chủ tịch nhận quà. Quà là một cuốn sổ tay gáy bọc vải đen, bìa màu xanh đã nhạt và một tấm thẻ đại biểu (phù hiệu dự Đại hội các tổ chức cách mạng ở hải ngoại, họp tại Liễu Châu tháng 3-1944) cũng màu xanh lam, trên có ghi tên Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Người dặn: “Các chú có thể dùng để trưng bày, giới thiệu cho mọi người biết, trừ hai hàng chữ nhỏ viết dọc bìa sau và hai phần ghi chép phía sau cuốn sổ”10.
   Cuốn sổ và tấm phù hiệu đã được Ban tổ chức kịp thời đem ra trưng bày ngay trong Triển lãm cải cách ruộng đất. Báo Nhân dân số ra ngày 13-9-1955 đã có bài viết về sự kiện này của phóng viên Phan Quang: “Chúng tôi có được xem cuốn sổ tay Nhật ký trong tù của Hồ Chủ tịch ghi từ ngày 29-8-1942 đến 10-9-1943 trong khi Người từ Chiến khu Việt Bắc trở ra nước ngoài hoạt động và bị… giam giữ hơn một năm... Cuốn nhật ký khổ nhỏ, giấy bản màu vàng. Trang đầu có hình vẽ hai nắm tay rắn rỏi giơ lên phá tan xiềng xích...”.
    Như vậy, lần đầu tiên trong triển lãm này, đông đảo đồng bào ta đã tận mắt nhìn thấy cuốn sổ tay, bản thảo gốc của tác phẩm Nhật ký trong tù. Còn việc nghe nói đến hoặc nhìn thấy tập thơ thì có một vài người đã được biết từ sớm hơn. Báo Đồng Minh, tuần báo tuyên truyền của Hội Việt Nam Cách mạng đồng minh, xuất bản tại Hà Nội, số 43 ra ngày 16-6-1946, có đăng bài Quyển nhật ký thơ của Cụ Hồ của T.S11. Bài báo cho biết: “Nhân một bữa đến Liễu Châu để cổ động cho tờ báo trong các anh em Việt kiều ở đây, tôi đã được gặp Cụ Hồ Chí Minh. Cuộc đời tù hãm đã làm Cụ kém sắc nhiều, nhưng trong khi bắt tay Cụ, tôi thấy gân cốt Cụ còn rắn rỏi, mạnh mẽ. Cụ biết tôi viết ở báoĐồng Minh nên Cụ bảo: “Chú là người hay thơ vậy tôi có bài thơ này tặng chú”. Rồi Cụ ứng khẩu đọc luôn bài thơ Tặng cụ Đinh Chương Dương, Liễu Châu, 1943”. “Có ai ngờ Cụ là một người rất sính thơ. Mỗi một việc, mỗi một cử chỉ của đời sống hằng ngày là một đầu đề cho thơ của Cụ. Tất cả những bài thơ ấy, cụ chép trong một cuốn sổ nhỏ. Cuốn sổ ấy hầu như là quyển nhật ký của Cụ. Sau khi tặng tôi bài thơ trên, Cụ đưa tôi xem quyển thơ kia mà ít người được Cụ cho biết. Đó là một quyển sổ đóng bằng giấy bản hạng tốt, vừa to bằng bàn tay, nhan đề là Ngục trung nhật ký. Trang bìa ngoài vẽ hai bàn tay bị trói, do chính Cụ vẽ...”12.
     Sau này, trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch13, Trần Dân Tiên cho biết: trong thời gian bị nhà cầm quyền Quảng Tây bắt giam và giải đi khắp nơi, tuy gian khổ là vậy, “nhưng Cụ vẫn vui vẻ, vừa đi vừa ngâm nga. Thỉnh thoảng Cụ Hồ làm thơ”; song không thấy nói cụ thể gì hơn về tập thơ.
    Năm 1957, báo Nhân dân số ra ngày 19-5-1957 có bài viết về Quyển Nhật ký trong tù của Bác Hồ, của tác giả Nguyễn Tâm, đoạn mở đầu cho biết: “Tại phòng triển lãm14 những tài liệu cách mạng, có một quyển vở nhỏ bằng giấy bồi, ngoài bìa có bốn chữ Ngục trung nhật ký. Quyển nhật ký có hơn trăm bài thơ bằng chữ nho, ghi lại tình trạng Bác ở tù”. Bài báo kể lại tình trạng Cụ Hồ bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam hơn một năm, bị giải từ Tĩnh Tây lên Quế Lâm rồi lại đưa trở về Liễu Châu, với bao đày ải, gian nan, thiếu thốn, chỉ nghe nói lại đã thấy ghê người: đói rét, chấy, rận, rệp, muỗi, ghẻ lở... tù chính trị phải ở chung với kẻ giết người, cướp của... Tuy nhiên, Người vẫn vượt qua tất cả và tập nhật ký bằng thơ vẫn cứ tiếp tục...”.
     Lần đầu tiên, bài báo này đưa ra bản dịch bài thơ Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi) do Cụ Hồ làm sau khi ra tù, bản dịch tạm của tác giả bài báo như sau:
Mây ngoài mây, núi ngoài làn núi,
Lặng như gương, không bụi lòng sông.
Bốn bề phong cảnh mênh mông,
Nhìn về Tổ quốc, bận lòng cố nhân.
    Bài báo kết luận: “Quyển nhật ký ấy là một đoạn trong lịch sử hơn 40 năm đấu tranh gian khổ của Bác Hồ”. Tuy nhiên, đến thời điểm đó (1957), tập thơ vẫn chưa được dịch và giới thiệu với đông đảo người đọc.
    3. Theo lời kể của ông Trần Đắc Thọ (trong băng ghi âm gửi cho Bảo tàng Hồ Chí Minh): mãi đến năm 1959, ông Phạm Văn Bình, lúc đó là Trưởng ban Giáo vụ Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, một lần đến Kho lưu trữ của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, khi đó chưa khai trương, hiện vật cũng tạm lưu trữ ở phố Phan Bội Châu, để tìm tư liệu tham khảo về lịch sử Đảng, ông tình cờ thấy trong số tài liệu lưu trữ có một cuốn sổ gáy đen, bìa màu xanh nhạt, mở ra thấy bốn chữ Hán Ngục trung nhật ký, biết ngay là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đề nghị cho mượn về để dịch. Ông Văn Phụng - cán bộ phiên dịch của trường - dịch nghĩa, dựa vào đó ông Phạm Văn Bình (bút danh Văn Trực) dịch ra thơ và đã gửi đăng một số bài trên báo Văn nghệ số 84, tháng 5-1959. Xong việc, ông đem kết quả này báo cáo lên ông Trường Chinh và ông Tố Hữu. Một hội đồng dịch thuật tác phẩm Ngục trung nhật ký được thành lập, do ông Nam Trân, nhà thơ đồng thời là nhà Hán học uyên thâm, phụ trách với sự tham gia của ông Văn Trực và vài người khác nữa.
     Tháng 5-1960, bản dịch đầu tiên đã kịp ra mắt bạn đọc rộng rãi nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với số lượng in chưa từng có: hơn 10 vạn bản mà vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc.
    Vì nhiều lý do, bản dịch đầu tiên mới chỉ chọn dịch, đưa in có 114 bài trong tổng số 134 bài củaNgục trung nhật ký (không kể bài Mới ra tù tập leo núi vốn ở ngoài sổ tay nhật ký). Trong các lần xuất bản sau, bản dịch đã có sự chỉnh lý và dịch bổ sung thêm một số bài nữa, đến chuyên khảo Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1993) thì toàn bộ 134 bài của tập nhật ký đều đã được dịch, từ bài Đề từ, Khai quyển... đến bài Kết luận (thực ra, nếu tính cả bài Mới ra tù tập leo núi cũng chỉ là 134 bài vì bài Liễu Châu ngục (đánh số 100 trong nguyên cảo) có đầu đề nhưng tác giả chưa kịp chép bài thơ vào.

Đôi lời về những điều xuyên tạc vụng về, kém cỏi
    1. Đáng tiếc, người phủ nhận “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký”!20 lại mang danh một giáo sư, tiến sĩ, học giả!
    Học giả trước hết phải là người đi tìm sự thật. Sự thật ấy đã được ông Lê Hữu Mục thừa biết từ những năm ông còn ở trong nước, và ông đã không chỉ nghiên cứu rất kỹ mà tự mình còn có một bản dịch riêng tập thơ đó ra tiếng Việt - nếu không phải là thơ của Hồ Chí Minh và không yêu thích nó, chẳng ai bỏ công sức ra làm một việc dày công như thế (tuy nhiên, bản dịch của ông Mục cũng chẳng có gì hơn là sự thay đổi một số chữ, một vài vần so với bản dịch đã công bố của Viện Văn học). Nhưng đã muốn xuyên tạc thì phải bịa đặt, cho nên cuốn sách đó chỉ là một sự tập hợp những điều ngụy tạo, với những lập luận thô thiển, không phải là ngôn luận của một “học giả”, vì vậy cũng không đánh lừa được mấy ai.
   Tóm tắt mấy “luận điểm” chính của ông Lê Hữu Mục:
   Ông Lê Hữu Mục viết: Bản chụp bìa sách Ngục trung nhật ký đề niên đại rõ   ràng 29-8-1932 - 10-9-1933, mà “người ta” lại gán cho Hồ Chí Minh sáng tác vào những năm 1942-1943, là một điều không đúng sự thật! Theo ông ta, vào thời gian ấy (1932-1933) Hồ Chí Minh chưa đủ thành thạo chữ Hán để làm thơ! Thơ đó là của Già Lý, một tướng cướp già, giỏi chữ Hán, biết làm thơ, bị giam chung với Nguyễn Ái Quốc trong nhà tù Victoria ở Hồng Kông, thời kỳ 1931-1933 - vậy thơ đó là thơ của Già Lý! Hai người đã bút đàm, xướng họa với nhau (Một sự ngụy tạo vô lý vì luật pháp nước Anh không cho phép tù chính trị giam chung với một tên tướng cướp giết người nguy hiểm, nên không hề có cuộc “bút đàm”, “xướng họa” nào giữa hai người như ông Mục tưởng tượng và viết ra trong cuốn sách của mình, tr. 73-75).
    Sau niên đại, ông đi vào nội dung, từ ngữ, phong cách thơ nhật ký... để so sánh, đối chiếu. Ví dụ, ông ta lập luận:
    - Già Lý là người Hán nên mới viết: mình bị “hiềm nghi là Hán gian. Tết Song thập (10-10) là quốc khánh của người Trung Quốc, nên tác giả mới viết: Quốc khánh reo vui cả nước mừng!”.
   - Ngục trung nhật ký có nhiều bài thơ đề cao sức mạnh tinh thần, tâm linh, thượng giới, thuyết tuần hoàn, định mệnh, v.v.. Hồ Chí Minh là người duy vật nên đó không phải là thơ của một người cộng sản, mà là thơ của Già Lý!
   - Lại có một số bài sặc mùi phong kiến, quan lại khi ví mình với quan võ, khanh tướng, đại tướng anh hùng... Một số bài thể hiện quan điểm “siêu giai cấp”: tình thương lan rộng đến cả cây cỏ, loài vật như bài Phu làm đường, Nửa đêm... đó không phải là ngôn ngữ của người cộng sản, của nhà cách mạng lão thành! Nhiều bài thơ nói đến gia đình, Hồ Chí Minh có gia đình đâu mà nhớ!...
   - Về phong cách thơ, Lê Hữu Mục bịa ra câu chuyện “bút đàm”, “xướng họa” trong tù giữa Hồ Chí Minh và Già Lý. Quả là muốn bịa đặt phải có trí tưởng tượng phong phú! Nhưng cái khó cho Lê Hữu Mục là ở chỗ: trong Ngục trung nhật ký lại có một vài chỗ nhà thơ tự xưng mình là người Việt Nam, nói đến đất Việt, một số từ được viết bằng chữ quốc ngữ: Oa...! Oa...! Oa...!, bọn quỷ Nadi (trong nguyên văn), v.v. như những câu:
Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm…
“Ngoại cảm” trời Hoa cơn nóng lạnh,
“Nội thương” đất Việt cảnh lầm than...21.
     Do đó, từ chỗ khẳng định “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký”, ông Lê Hữu Mục tự lâm vào mâu thuẫn: thừa nhận Ngục trung nhật ký có hai tác giả: một Hoa, một Việt! Theo ông ta, thơ Ngục trung nhật ký có hai loại. Những bài Đường thi trữ tình, sâu sắc, đẹp, có giá trị là thơ của Già Lý. Nhân vật này lại tự coi mình là anh hùng, oai phong như quan võ, lẫm liệt như khanh tướng, thường ví mình như một con rồng, “mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới”... Đó là một tay giang hồ phóng túng, thích ngao du vào buổi sáng, thưởng thức hơi ấm bao la của vũ trụ. Địa bàn hoạt động của anh ta là rừng xanh, núi đỏ, có chim rừng về tổ, em gái xay ngô, có tiếng chuông chùa đổ chiều hôm, có tiếng sáo trẻ dắt trâu về...22. Số bài thơ trữ tình Đường thi này chiếm 3/4 tập thơ, đó là thơ của Già Lý! Phần còn lại, toàn thơ tự sự, đó là thơ của Hồ Chí Minh! Vườn thơ Hồ Chí Minh là ngôi vườn nhỏ, toàn thơ tứ tuyệt; khác với thất ngôn bát cú thiên về bộc lộ nội tâm, thơ tứ tuyệt chú trọng miêu tả ngoại cảnh, không hồi tưởng, không hoài niệm..., toàn ghi lại những sự việc hết sức bình thường, không chải chuốt, không có tính nghệ thuật!
     Lê Hữu Mục đối lập máy móc tự sự với trữ tình, coi đó là hai phong cách tách rời nhau, như không bao giờ kết hợp với nhau để cố tình gò ép vào lập luận áp đặt của ông ta: đó là thơ của hai người, hai phong cách!
      Bằng những lý giải vừa thô thiển vừa tự mâu thuẫn kiểu đó, ông ta nâng lên thành một nghi án văn chương, rồi lại còn dùng thủ đoạn trích dẫn cắt xén, bóp méo, giải thích xuyên tạc bài viết của các nhà nghiên cứu tên tuổi trong nước như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Lê Trí Viễn... để trắng trợn nói rằng các vị đó cũng hoài nghi, thắc mắc như tâm địa của ông ta!
     2. Ông Lê Hữu Mục tự xưng là nhà văn bản học, đã dùng phương pháp văn bản học để xác định xem ai là tác giả Ngục trung nhật ký. Vậy phương pháp văn bản học đòi hỏi gì?
     - Phải đối chiếu văn bản, bút tích (nét chữ của hai tác giả) để xác định tác phẩm là của ai.
    - Phải so sánh nội dung tác phẩm về không gian, thời gian, nhân vật, sự kiện... được đề cập đến trong thơ của hai người, để xác định được viết ở đâu, vào lúc nào.
    - Phải so sánh về tư tưởng, ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật, v.v. để tìm ra đặc trưng thi pháp của mỗi người.
    Như vậy, muốn bênh vực Ngục trung nhật ký là của Già Lý bằng phương pháp so sánh văn bản học, ông Lê Hữu Mục phải trả lời bằng cách so sánh, chứng minh dựa theo các yếu tố như đã nói ở trên:
    Phải đưa ra được văn bản gốc để chứng minh
   Theo ông Lê Hữu Mục, Già Lý cũng là một nhà thơ, từng có tác phẩm đã được công bố, nhưng bị thất lạc; thơ đó có nội dung, phong cách gần giống với Ngục trung nhật ký, có người đương thời nào đó đã từng đọc và xác nhận điều này. Như vậy, điều kiện cần là phải có văn bản, bút tích kèm theo để so sánh, đối chiếu nhằm đi tới kết luận như ông Lê Hữu Mục mong muốn.
    Nhưng ông ta không thể đưa ra một tài liệu gốc nào cả, mà chỉ dựa vào một chi tiết lấy từ Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, trong đó có kể rằng ở nhà ngục Victoria, nơi ông Nguyễn bị giam tại Hồng Kông, có một tướng cướp già họ Lý, giỏi chữ Trung Quốc, làm được thơ, có một cô con gái nuôi là Bành Hương…, thế là ông Lê Hữu Mục vội vơ lấy để khẳng định Già Lý biết làm thơ và thơ đó là thơ của Già Lý, rồi lớn tiếng kêu gọi: “Bành Hương hãy làm chứng cho cha”!!!
    Rõ ràng, việc không đưa ra được một cơ sở cứ liệu nào đã cho thấy ông Lê Hữu Mục không phải là một người biết về văn bản học mà chỉ là một người xuyên tạc tầm thường.
    Phải so sánh về nội dung tác phẩm
   Ông Lê Hữu Mục cho rằng Ngục trung nhật ký ra đời từ năm 1932-1933, do Già Lý viết ở Hồng Kông, trong ngục Victoria, chứ không phải ở Quảng Tây; thế nhưng toàn bộ nội dung của Ngục trung nhật ký lại xảy ra tại Quảng Tây, vào thời gian 1942-1943:
   Mọi địa danh trong tác phẩm đều thuộc Quảng Tây (không có một phố nào ở Hồng Kông cả): Túc Vinh, Tĩnh Tây, Long Tuyền, Điền Đông, Thiên Bảo, Quả Đức, Đồng Chính, Long An, Nam Ninh, Liễu Châu, Quế Lâm… đúng như câu thơ Hồ Chí Minh viết: Quảng Tây đi khắp mười ba huyện, còn ở Hồng Kông, ông Nguyễn chỉ bị giam một nơi trong ngục mà thôi, không có chuyện “ngao du” rừng xanh, núi đỏ như ông Mục viết.
   Thời gian ghi ở bìa đầu sách được tác giả viết lùi lại 10 năm, như đã nói ở trên, là do nội dung tập thơ khách quan có tác dụng lên án chế độ nhà tù vô nhân đạo của chính quyền Tưởng Giới Thạch nên phải lùi lại để tránh phiền hà, nếu lính canh phát hiện ra, nhưng ở trang 53, cuối tập thơ, tác giả vẫn đề rõ cũng một thứ chữ: 29-8-1942 - 10-9-1943 (xem bản chụp).
    Thời gian Hồ Chí Minh bị bắt giam ở Quảng Tây là gần 13 tháng, còn ở Hồng Kông, ông Nguyễn bị giam mất gần 19 tháng (6-1931 - 12-1932); còn khi ông Nguyễn vào ngục Victoria, Lý đã bị giam gần 7 năm, sau vụ giết tên cai ngục người Anh, lại lãnh thêm án tù 7 năm nữa! Vì vậy, những con số 29-8-1932 - 10-9-1933 chẳng có liên quan gì đến những năm tháng bị tù (và chưa được tha) của Già Lý cả!
   Bị bắt giam vô cớ vào lúc “lịch sử đang trên đầu ngọn thác”, Cụ Hồ “tiếc ngày giờ”, Người đếm thời gian từng canh:
   “Một canh... hai canh... lại ba canh” (Không ngủ được); đếm từng ngày: “Ngoảnh lại, hơn trăm ngày ác mộng” (Đến Liễu Châu); đếm từng tháng: “Sống khác loài người vừa bốn tháng” (Bốn tháng rồi), “Trời xanh cố ý hãm anh hùng/ Cùm xích tiêu ma tám tháng ròng” (Tiếc ngày giờ); đếm bằng năm: “Ở tù năm trọn thân vô tội/ Hòa lệ thành thơ tả nỗi này” (Đêm thu).
   Già Lý ở tù đã 7 năm, vì giết viên cai ngục lại bị lĩnh thêm án 7 năm nữa, Lý có việc gì mà phải đếm thời gian?
   Toàn bộ sự kiện được đề cập trong tập thơ đều xảy ra trong thời gian 1942-1943. Ví dụ: sự kiện báo chí Trung Hoa đưa tin hoan nghênh W. Willkie, đại biểu Mỹ đến Trùng Khánh; hai bài thơ gửi Nehru; bài Việt Nam có bạo động... Tin trên báo Ung Ninh ngày 14-11; câu thơ “Hoàn cầu lửa bốc rực trời xanh”23 (cho biết Chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra ác liệt); “Trung Hoa kháng chiến 6 năm chầy”24 (tính từ vụ Lư Cầu Kiều 7-7-1937 đến 1943 là 6 năm); “Bọn quỷ Nadi tội đứng đầu”25(lên án tội ác Đức quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai), v.v..
  - Về nhân vật, Ngục trung nhật ký có nhắc đến tên của nhiều nhân vật lúc bấy giờ: Willkie, Nehru, Dương Đào, ông Mạc, ông Quách, Hoàng Khoa Viên, Trần Khoa Viên, Trung tướng Lương Hoa Thịnh, Thiếu tướng Hầu Chí Minh... (cần nói thêm: trong phần phụ lục cuốn sách của ông Mục - phần tự dịch thơ - Lê Hữu Mục biết đây là điểm yếu, bất lợi cho mình nên đã cố tình lờ đi, không dám đưa ra các bài dịch có nhắc đến Việt Nam, hoặc có tên các nhân vật đương thời, nhất là hai bài thơ gửi cho J.Nehru!).
   Phải so sánh về tư tưởng, phong cách tư duy và nghệ thuật
     Ông Lê Hữu Mục khẳng định Ngục trung nhật ký là của Già Lý, nhưng ông ta không chứng minh được những tư tưởng, phong cách tư duy của Già Lý thể hiện trong tác phẩm này. Chúng ta đều biết tư tưởng của vĩ nhân là một hệ thống nhất quán, dù thể hiện ở hình thức diễn đạt nào (nghị luận hay trữ tình) thì sự nhất quán đó vẫn cứ bộc lộ ra. Không khó khăn gì để nhận ra những suy nghĩ dưới đây là cùng một phong cách tư duy:
    Nói về vai trò chiến sĩ của người nghệ sĩ cách mạng, Ngục trung nhật ký viết:
Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
                 (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”)26.
     Trong thư gửi các họa sĩ nhân triển lãm hội họa 1951, Cụ Hồ viết: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”27.
    Cùng một ý chí sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, Ngục trung nhật ký viết:
Thà chết chẳng cam nô lệ mãi,
Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền.
           (Việt Nam có bạo động)28.
     Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Cụ Hồ viết: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ !”29.
     Cùng khẳng định một chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (1967), năm 1942 trong Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh đã viết:
Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,
Cay đắng chi bằng mất tự do?
Mỗi việc mỗi lời không tự chủ,
Để cho người dắt tựa trâu bò!
(Cảnh binh khiêng lợn cùng đi, bài II)30.
      Một tên tướng cướp giết người có thể có ngôn luận như vậy không?
     Còn có thể dẫn ra nhiều chi tiết nữa để nói lên sự nhất quán về tư tưởng, phong cách tư duy và ngôn ngữ giữa Ngục trung nhật ký với những sáng tác khác của Cụ Hồ. Nếu như chỉ dựa vào hai phương thức biểu hiện là tự sự và trữ tình để phân biệt phong cách nghệ thuật của một nhà thơ thì thật không gì thô thiển hơn. Ai cũng biết: một nghệ sĩ đa tài thường vẫn là đa phong cách và cũng rất phong phú về cách thức biểu hiện. Đa dạng mà vẫn nhất quán. Cái nhất quán trong phong cách nghệ thuật thơ văn Hồ Chí Minh - như các nhà bình luận văn học của thế giới đã chỉ ra, đó là chân thực, giản dị, tự nhiên, hấp dẫn mà không hào nhoáng, mộc mạc mà không tầm thường. Đó cũng là những chuẩn mực về cái đẹp thường thấy ở những tài năng đã vượt qua khỏi “cái đỉnh cao nhất của kỹ xảo điêu luyện để trở thành một nghệ thuật hầu như tự nhiên”.
     Thiên chức của nhà khoa học có lương tâm bao giờ cũng hướng về chân lý, chính nghĩa, truy tìm sự thật, chứ không mượn danh khoa học để lừa dối người đọc bằng những điều ngụy tạo. Hoàn cảnh đã buộc một người có học vấn như ông Lê Hữu Mục phải làm cái việc đổi trắng, thay đen, trái với thâm tâm mình, đó là điều đáng buồn cho ông. Tuy câu chuyện đã cũ và nay ông Mục cũng đã không còn, việc phải trình bày lại một cách rành rọt là bất đắc dĩ đối với người viết, không phải để nhằm vào người đã khuất mà chỉ muốn góp phần giúp đồng bào ta đang sống ở trong nước hay hải ngoại tránh được những ngộ nhận do một số người còn nặng lòng hận thù, hiện vẫn đang lợi dụng những điều ngụy tạo do ông Lê Hữu Mục bịa ra để tiếp tục xuyên tạc về tác giả một thi phẩm lớn của văn hóa dân tộc, đã được cả loài người tiến bộ hết lời ca ngợi.
***
     Ngay trong năm 1960, Trung Quốc đã chọn in 100 bài (nhất bách thủ) trong nguyên cảo của tác giả, xuất bản để chào mừng kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Nhật ký trong tù đã lần lượt được dịch và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới: Nga (Mátxcơva, 1960), Mông Cổ (Ulan Bato, 1962), Ba Lan (Warsaw, 1962), Pháp (Paris, 1963), Hunggari (Budapest, 1969), Đan Mạch (Copenhaghen, 1970), Mỹ (1971), Tiệp Khắc (Praha, 1973), Nam Tư (Zagreb, 1975), Cộng hòa dân chủ Đức (Berlin, 1976), Anh (xuất bản hai lần, 1962 và 1972), ngoài ra tập thơ cũng đã được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Ảrập, tiếng Espéranto, và có lẽ còn nhiều thứ tiếng khác nữa mà chúng tôi chưa được biết.
    Tập thơ ra đời đã gây tiếng vang lớn trên văn đàn quốc tế. Nhà thơ lớn Trung Quốc Quách Mạt Nhược viết: “Một trăm bài thơ hầu hết bài nào cũng đều toát ra hết sức sinh động hình ảnh một nhà cách mạng lão thành, thanh thoát, tài trí, ung dung, giản dị, kiên cường - ấy là đồng chí Hồ Chí Minh. Thật là, “thi ư kỳ nhân” - thơ như người vậy... Có một số bài rất hay, nếu như đặt lẫn vào một tập thơ của các thi nhân Đường - Tống thì cũng khó phân biệt”15.
    Nhà thơ Nga Pavel Antokolski - người dịch Nhật ký trong tù sang tiếng Nga - đã viết về tính chân thực của tập thơ như sau: “Trước mắt chúng ta là hơn một trăm bài thơ tứ tuyệt có sức thuyết phục lớn lao đối với lòng người và có sức mạnh nghệ thuật ghê gớm. Sự chân thành của tác giả, tính chân thật, chất phác của Người đã chinh phục được người đọc... Tác giả đã kể về những đau khổ, bất hạnh của mình một cách đơn giản, mộc mạc, bình thản và chính xác, không cường điệu, không úp mở, không nói bóng gió... Người muốn vẽ lên những bộ mặt của con người và những mối liên hệ qua lại - cảm hứng chủ đạo nghệ thuật của tác giả chính là ở đó”16.
    G.Boudarel cho rằng: “tất cả những bài thơ ngẫu hứng ấy... đều thấm nhuần tư tưởng nhân văn là cái tạo nên sự thống nhất của nhà thơ... Dù là ghi chép những chi tiết một cách thô sơ gặp trên đường hay miêu tả tỉ mỉ phong cảnh như một nhà phong cảnh học, dù là thể thơ châm biếm sâu cay hay là thể thơ hài hước hiền hòa, dù đó là thơ cổ điển hay thơ hiện đại, Cụ Hồ Chí Minh đều sử dụng chúng một cách thành thạo”17.
     Jean Lacouture cũng viết: “Tính đôn hậu nhân văn có một không hai toát lên ở hầu khắp các bài thơ... Có một cái gì tự hào và dịu dàng xuyên qua các câu chữ, trong đó tính nhạy cảm châu Á và tính lãng mạn Pháp hòa hợp với nhau. Nhân cách, học vấn và số phận kỳ lạ của Cụ Hồ được thể hiện một cách khác thường trong các bài thơ ấy...”18.
     Tiến sĩ Phêcanxơ Xơilaghi, Tổng Biên tập tạp chí văn học của Thụy Điển Lăng kính phương Bắc,đọc xong Nhật ký trong tù, rút ra kết luận: “Đây là một cuốn sách mà tất cả mọi người yêu thơ đều nên đọc, vô luận người đọc ấy mang chính kiến như thế nào”19.
    Sở dĩ phải dẫn ra dài dòng về quá trình sáng tác, thất lạc, tìm lại, rồi được dịch ra và giới thiệu với đông đảo bạn đọc trong nước và thế giới cùng với tiếng vang của nó trong lòng bạn đọc... là để bác lại ý kiến về cái gọi là “lai lịch bất minh của Ngục trung nhật ký”, nhằm tiếp tay cho những người âm mưu chống lại Nghị quyết của UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

GS. SONG THÀNH
Nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh
và các lãnh tụ của Đảng
***
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 21, 23, 24, 25, 26, 28, 30. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.3, tr.309, 340, 411, 423, 424, 393, 311-319, 370, 385, 385, 451, 391, 366.
7. Xem Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, mục Biên niên sự kiện, tr.279, 282.
8. Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, 1990, tr. 189 và chú thích số 185 cuối sách.
9. Theo Hồng Khanh: Niềm vui của Bác Hồ khi nhận lại bản thảo Nhật ký trong tù, viết theo lời kể của ông Tạ Quang Chiến, báo Nhân dân, số ra ngày 17-5-2003.
10. Theo lời kể của ông Hà Văn Kỉnh, cán bộ Ban tổ chức triển lãm, người trực tiếp lên nhận quà, hồi ký, hiện lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
11. T.S. có thể là bút danh của Lê Tùng Sơn, một nhà cách mạng hoạt động lâu năm ở Trung Quốc, phụ trách báo Đồng Minh. Xem số ra ngày 16-6-1946, hiện lưu tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội.
12. Nguyễn Hữu Viêm: Bài báo đầu tiên giới thiệu “Nhật ký trong tù”, báo Lao động, số 13, ngày 29-3-1990. Xem thêm bộ sưu tập báo Đồng Minh lưu tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội.
13.Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn nghệ, Hà Nội, 1955, tr.95.
14. Ý nói triển lãm cải cách ruộng đất, tháng 4-1955.
15. Quách Mạt Nhược: Nay ở trong thơ nên có thép (Cảm tưởng sau khi đọc tập thơ Nhật ký trong tù), báo Nhân dân, ngày 13-11-1960.
16. Pavel Antokolski: Gặp tác giả Nhật ký trong tù, trích trong tập Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1981, tr.500-501.
17. G. Boudarel: Lời giới thiệu “Nhật ký trong tù”, in trong sách Ho của D.Halberstam, Paris, 1971.
18. J. Lacouture: Ho Chi Minh, Seuil, Paris, 1967, p.62-63.
19. Báo Thống nhất, ngày 7-11-1969.
20, 22. Hồ Chí Minh không phải là tác giả “Ngục trung nhật ký”, Nghị luận của Lê Hữu Mục, Văn bút Việt Nam Hải ngoại xuất bản, tháng 11-1990, Làng Văn (Canađa) ấn loát và tổng phát hành.
27. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, 246.
29. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm và bức tượng Bác Hồ năm 1946

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm và bức tượng Bác Hồ năm 1946





------

Cố họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000) là sinh viên khóa II của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Năm 1931, ông tốt nghiệp ngành điêu khắc với kết quả xuất sắc và sau đó được nhận học bổng tu nghiệp tại Bảo tàng Louvre. Ông sang Pháp cùng với các họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Lê Thị Lựu.

Vũ Cao Đàm (giữa) cùng Lê Phổ, Mai Trung Thứ tại Pháp
Ngày 31-5-1946, Bác Hồ bắt đầu thực hiện chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị Fontainebleau. Chiều ngày 22-6-1946, Bác đặt chân xuống sân bay Bourget với tư cách là thượng khách của nước Pháp, làm lễ chào cờ và duyệt đội tiêu binh. 
Những ngày tiếp theo, kiều bào ta ở Pháp hân hoan tổ chức chào đón Phái đoàn và vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Các đại biểu trí thức đều mong được tiếp xúc với Bác và tìm hiểu thêm về tình hình đất nước.
Ngày 1-7-1946, họa sĩ Vũ Cao Đàm đến thăm Bác và xin phép được chụp ảnh và nặn tượng Bác. Trong cuộc gặp ấy, Bác Hồ đã tặng họa sĩ và một tấm huy hiệu của Người.
Tấm huy hiệu đó đã nhanh chóng được họa sĩ nhân ra thành những bức phù điêu đồng có đường kính 6,8cm, dày 3mm. Sau đó, những bức phù điêu này lại được họa sĩ trao lại cho Phái đoàn để dùng làm quà tặng chính thức trong thời gian công cán ở Pháp.

Phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh 1946, đúc đồng, 68mm, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh

Ngoài  phù điêu này còn có tấm ảnh chân dung do họa sĩ Vũ Cao Đàm chụp Bác năm 1946, mặt sau có dòng chữ do chính tay Bác ký tặng: “Tặng vợ chồng chú Đàm và các cháu - Thân ái. Hồ Chí Minh”. Tấm ảnh này cũng được họa sĩ gửi tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh thông qua người em trai ông là dược sĩ Vũ Công Thuyết vào năm 1976.
Cũng trong thời gian Bác ở Pháp, họa sĩ còn thực hiện một bức tượng chân dung Người bằng chất liệu thạch cao.  
Năm 1950, khi phải dời chỗ ở  xuống miền Nam nước Pháp, nơi có khí hậu phù hợp với việc điều trị bệnh phổi, họa sĩ đã nhờ gia đình một nông dân Pháp, ở thành phố Béziers, tỉnh Hérault, cất giữ bức tượng. Mười bẩy năm sau, khi vợ chồng họa sĩ  trở lại tìm bức tượng, người nông dân Pháp kia, bây giờ đã già yếu và gần như mất trí nhớ, nhưng vẫn chỉ ra được nơi cất giấu bức tượng.
Năm 1996, để lưu giữ được lâu dài tác phẩm đặc biệt này, con gái họa sĩ là Yanick Vũ đã đưa bức tượng sang Tây Ban Nha để thực hiện việc chuyển thể chất liệu bức tượng từ thạch cao sang chất liệu đồng đỏ. Tổng thể, bức tượng nặng 35 kg, trong đó phần chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được làm bằng đồng, cao 45,7 cm, và phần bệ bằng đá màu ghi đen, cao 11, 8cm.
Bức tượng này được giới nghiên cứu mỹ thuật đánh giá là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện được phong thái của vị lãnh tụ kính yêu trong thời điểm vận nước hết sức khó khăn cách đây vừa đúng 70 năm.
Chân dung Hồ Chí Minh 1946, tượng đồng, tác giả Vũ Cao Đàm
Năm 1998, gia đình họa sĩ Vũ Cao Đàm đã gửi bức tượng về trao tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đây là tác phẩm điêu khắc đầu tiên và duy nhất của một nghệ sĩ Việt kiều thực hiện tượng chân dung Bác trong chuyến Người thăm Pháp năm 1946.

Bức tượng Bác Hồ năm 1946 của họa sĩ - nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm là một minh chứng cho tình yêu quê hương đất nước và tấm lòng của hàng triệu kiều bào ở nước ngoài hướng về Tổ quốc.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Nhớ lại kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhớ lại kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sau năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng năm đều đến Trung Quốc nghỉ dưỡng. Trong một lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm khu suối nước nóng ở Tòng Hóa, Quảng Châu, phóng viên nhiếp ảnh của "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn đã chụp ảnh chân dung cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, bức ảnh này cũng là bức chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện vẫn treo trang trọng tại các trụ sở cơ quan của Việt Nam. Sau đây là trích bài hồi ký của phóng viên nhiếp ảnh "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn về những kỷ niệm chụp ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đó là tấm ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngưng tụ tình hữu nghị chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Trung – Việt, mỗi khi nhìn thấy tấm ảnh này, đều khiến tôi nhớ lại những ngày ở bên Người và chụp ảnh cho Người. Hồ Chủ tịch đồng cam cộng khổ, cùng hoạn nạn với nhân dân Trung Quốc, sát cánh cùng nhân dân Trung Quốc tiến hành hoạt động cách mạng trong thời gian dài. Mấy chục năm qua, Hồ Chủ tịch có tình cảm hết sức thân thiết và tình đồng chí cách mạng với Trung Quốc, Người thường nói "Mối tình hữu nghị Việt – Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em". Người còn nói với Thủ tướng Chu Ân Lai rằng: "Tôi đến Trung Quốc như về nhà mình vậy". Trong những năm cuối đời, nhằm tránh để nhân dân Việt Nam tổ chức mừng sinh nhật cho mình, vào những ngày sát sinh nhật, Người thường đến khu suối nước nóng Tòng Hóa ở Quảng Đông, Trung Quốc nghỉ dưỡng, khu suối nước này núi đồi bao bọc, tùng bách xanh tươi, chim hót hoa thơm, phong cảnh tươi đẹp, từ năm 1963 đến năm 1966, Hồ Chủ tịch từng bốn lần đến đây nghỉ dưỡng. Trong thời gian Hồ Chủ tịch nghỉ dưỡng ở đây, tổ chức cử tôi đi theo, chụp ảnh sinh hoạt cho Người. Một ngày trong tháng 5/1964, Thư ký của Hồ Chủ tịch nói với tôi rằng: "Trung ương Đảng Việt Nam mong chụp một bức chân dung mới cho Hồ Chủ tịch". Khi nhận được nhiệm vụ này, tôi thấy vừa vinh dự, vừa nặng nề, tinh thần trách nhiệm cách mạng khiến tôi hạ quyết tâm, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ vì tình hữu nghị giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Trung – Việt. Tôi tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, học thêm lý luận và kỹ thuật nhiếp ảnh, nâng cao hơn nữa kiến thức và trình độ chụp ảnh chân dung.
Ảnh chụp chân dung, trước tiên phải làm sao toát lên được cái hồn của nhân vật, vừa cần thể hiện đặc điểm ngoại hình, lại phải diễn đạt được cảm xúc nội tâm. Làm nổi bật cá tính, đặc trưng của nhân vật, ảnh chân dung của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại là để cho hàng triệu người dân sắc tộc khác nhau, đến từ các nước khác nhau và có tiếng nói khau chiêm ngưỡng, yêu cầu sẽ cao hơn và nghiêm khắc hơn.
Trong thời gian nghỉ dưỡng ở Trung Quốc, Hồ Chủ tịch sống cùng chúng tôi, hàng ngày tản bộ, leo núi, đôi lúc ra ngoài tham quan, làm việc, tiếp khách, v.v., khi nghỉ ngơi, Người thường kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện đấu tranh cách mạng, Người như ở nhà mình vậy, tính tình còn hết sức khôi hài, đã tổ chức các nhân viên công tác bên Người thành một đoàn hợp xướng nhỏ, đích thân Người làm "trưởng đoàn", bài hát đầu tiên mà Người chọn cho chúng tôi là "Đội ca du kích" của đồng chí Hạ Lục Thinh, Người đảm nhiệm chỉ huy, thường vừa đánh nhịp nhẹ nhàng, vừa tập hát rất nghiêm túc cùng mọi người, đối xử với chúng tôi thân thiết như với con cái mình vậy. Hồ Chủ tịch và các nhân viên công tác đã kết lên tình hữu nghị chân thành thắm thiết, như vậy đã tạo điều kiện có lợi cho tôi thực hiện tốt nhiệm vụ chụp ảnh chân dung cho Người.
Phóng viên nhiếp ảnh Lục Văn Tuấn
Hồ Chủ tịch quan tâm quần chúng, chan hòa gần gũi, luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, giản dị chất phác, nhiệt tình, ngay thẳng, điềm đạm, hiền hậu, nét mặt hồng hào, hòa nhã dễ gần, Hồ Chủ tịch ăn mặc giản dị, áo khoác chính thức của Người là một chiếc áo kaki kiểu Trung Sơn màu vàng nhạt, rất hợp với gam màu sáng. Bởi vì màu sáng có thể thể hiện sự cao cả, thuần khiết và cái đẹp trong tâm hồn nhất, cộng thêm cả cuộc đời Hồ Chủ tịch lặn lội gió sương trong cuộc đấu tranh cách mạng, mái tóc và chòm râu bạc trắng như cước có thể làm nổi bật sự hiền hậu, anh minh và vĩ đại của Người. Tôi biết chụp ảnh màu sáng được quyết định bởi ba nhân tố: Một là, người được chụp phải mặc áo màu nhạt, Người mặc áo kaki kiểu Trung Sơn màu vàng nhạt vừa vặn ăn khớp với yêu cầu này; hai là, sắc tố của môi trường, tức bối cảnh cũng phải là màu đơn sắc, thế là tôi chọn địa điểm chụp ảnh là một góc trong phòng Người dùng cơm, màu sắc của bức tường là màu ngà nhạt, cũng phù hợp yêu cầu; ba là, sử dụng nguồn sáng chính và nguồn sáng phụ, chọn góc chụp thuận sáng. Nguồn sáng hoàn toàn có thể tự do điều chỉnh. Ý tưởng của tôi tương đối khả thi, cũng dễ thực hiện, như vậy đã tăng cường lòng tin của tôi khi chụp ảnh cho Người.
Thời gian chụp ảnh, tôi chọn 5 giờ chiều, đồng thời điều chỉnh tốt góc độ của máy ảnh khi chụp thử, để ống kính máy ảnh ở độ cao ngang với tầm mắt của người được chụp, giữ tỷ lệ tự nhiên của khuôn mặt người được chụp trong giữa bức ảnh, để có được một tấm ảnh tự nhiên và sống động, khi chụp ảnh, tôi không những cần nói chuyện với Hồ Chủ tịch, mà còn mời đồng chí phiên dịch Văn Trang, Thư ký và đồng chí Tiểu Dung, nhân viên phục vụ bên Người cùng phối hợp với tôi nói chuyện với Hồ Chủ tịch. Mặc dù tôi cùng chuyện trò vui vẻ với mọi người, nhưng thực ra tôi vừa bận rộn vừa căng thẳng, hết sức chăm chú theo dõi ánh mắt và hình dáng đôi môi của Hồ Chủ tịch. Trung Quốc có câu tục ngữ rằng: "Đôi mắt toát lên thần thái", sau đó là đôi môi. Khi nét mặt tinh thần và đặc trưng tính cách nội tại của Hồ Chủ tịch biểu lộ một cách rõ nét, tôi liền bấm máy. Để tránh bị chụp hỏng, tôi chụp liền 7 tấm, chỉ mất chưa đến 10 phút. Ngoài một tấm thần thái không được lý tưởng ra, 6 tấm khác đều đạt yêu cầu dự kiến. Hồ Chủ tịch rất hài lòng khi xem các tấm ảnh này. Người rất vui và nói câu cám ơn dí dỏm với tôi bằng tiếng Thượng Hải. Sau đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định lấy tấm ảnh hơi nghiêng người sang trái và tấm chụp chính diện làm tấm chân dung tiêu chuẩn, lưu truyền trên khắp Việt Nam và các nơi trên thế giới. Lúc đó, Hồ Chủ tịch đã ký tên trên hai tấm ảnh, một bức tặng tôi, bức còn lại tặng cho đồng chí Văn Trang.
Về sau, trước khi trở về Việt Nam, Hồ Chủ tịch chép một quyển "Nhật ký trong tù" và thơ của Người tặng tôi, và đề chữ trên cuốn sách rằng "Bác Hồ thân tặng". Ngoài ra còn nhờ tôi gửi quà tặng cho vợ tôi, đó là món đồ thêu thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó có khăn tay thêu dòng chữ "Tình hữu nghị Việt – Trung muôn năm", kim gài áo, v.v., còn có cả bánh kẹo cho con cái tôi, Người suy nghĩ rất chu đáo, tình cảm của Người suốt đời tôi không bao giờ quên.
                                                                                         
       
Tấm ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh này vẫn được sử dụng phổ biến trong các ấn phẩm Việt Nam
Trên đây là trích đoạn bài hồi ký của phóng viên nhiếp ảnh "Báo ảnh Quảng Châu" Lục Văn Tuấn nhớ về kỷ niệm chụp ảnh chân dung cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài viết vừa rồi có nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh có tặng một bức ảnh chân dung cho đồng chí Văn Trang, phiên dịch trong đoàn cố vấn. Ông Văn Trang về sau là giáo sư của trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, cũng nhắc đến kỷ niệm này trong cuốn sách của ông mang tên "Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ký ức sâu thẳm của tôi", rằng: Duyệt xong các tấm ảnh, Hồ Chủ tịch gật đầu bày tỏ hài lòng. Hồi trẻ, Bác Hồ từng làm việc tại một tiệm chụp ảnh ở Pa-ri, tinh thông nhiếp ảnh. Muốn chụp được một tấm ảnh khiến Người hài lòng không hề dễ dàng. Thư ký của Người nói với tôi rằng, ở Hà Nội đâu có cơ hội như vậy để chụp ảnh cho Người. Sau đó, Bác Hồ ký tên trên hai tấm ảnh bằng tiếng Trung, gửi tặng đồng chí Lục Văn Tuấn, cũng tặng tôi một tấm. Tôi đã cất giữ tấm ảnh gốc có chữ ký của Bác Hồ này trong 43 năm, sau cân nhắc kỹ lưỡng mới tặng cho Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam, để càng nhiều bạn bè Việt Nam có thể chiêm ngưỡng bút tích tiếng Trung của Hồ Chủ tịch.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Giáo sư Văn Trang

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, 60 năm nhìn lại*


  •   NGUYỄN ĐÌNH THI
  • Thứ ba, 08 Tháng 7 2014 06:11
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Kể từ năm 1946 tới nay, ngày 19-5 được công nhận là ngày Kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng thực sự Cụ Hồ sinh ngày nào, năm nào? Và tại sao có ngày 19-5-1946?

 I.Năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Căn cứ theo lá thư người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh) tại Marseille ngày 15-9-1919 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris, thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành; Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc (theo William J.Duiker, Hồ Chí Minh, New York 2000, bản dịch tiếng việt khổ A4, tr.31).
Còn theo tài liệu của Ông Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp, thì lại khác. Tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chủ tịch lại  khai là sinh ngày 15.01.1894
Còn người anh trai Nguyễn Sinh Khiêm và người chị gái Nguyễn Thị Thanh, khi bị cảnh sát Trung kỳ hỏi cung vào năm 1920, thì người anh cho biết Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1891, còn người chị gái lại khai vào khoảng 1893.
Còn giấy khai sinh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894 (theo Daniel Hemery, Hồ Chí Minh, Từ Đông Dương đến Việt Nam, Lê Toàn dịch, NXB Phụ nữ 2004, tr.90-91)
Như thế, chúng ta có 4 năm sinh khác nhau: 1891, 1892, 1893,1894. Đây cũng là điều dễ hiểu. Ở thôn quê Nghệ Tĩnh ngày đó và mãi cho đến sau này thường không có giấy khai sinh chính thức. Người ta thường chỉ nhớ tuổi theo thứ tự chu kỳ 10 can (Giáp, Ất, Bính, Đinh…) và 12 chi (Tý, Sửu, Dần, Mão…), như Giáp Thân (1884), Ất Dậu (1885), Bính Tuất (1886), hay có khi chỉ nhớ qua một sự kiện nào đó: chẳng hạn “năm đó lụt lớn”, hay “năm đó đói”. Khi đi học chữ Hán thường thì không ai bắt phải khai ngày sinh, tháng đẻ. Còn khi đi học trường Pháp – Việt thì thường cứ khai như mình ngĩ (có khi khai là hai anh e ruột mà chỉ có sinh cách nhau 5,6 tháng!). Vì thế trường hợp năm sinh của Hồ Chí Minh, mỗi nguồn mỗi khác, cũng là chuyện bình thường.
Năm 1946, Hồ Chủ tịch công nhận năm 1890 là năm sinh
 Cuối cùng, bốn năm đó (1891, 1892, 1893, 1894) đều bị phủ nhận, và năm 1890 được Hồ Chí Minh công nhận chính thức là năm sinh của mình khi đồng ý cho tổ chức lần đầu tiên lễ sinh nhật của mình vào ngày 19-5-1946. Đây là một sự kiện mới. Và từ năm 1946 trở đi, các tài liệu về Hồ Chí Minh cho biết Hồ Chí Minh đã lấy năm đó để tính tuổi của mình. Đặc biệt, hình như hàng năm đến ngày 19-5, Cụ thường làm một bài thơ, vừa hóm hỉnh, vừa lạc quan.
Sinh nhật năm 1949 (1890-1949), Hồ Chí Minh làm bài thơ “Không đề”
Vì nước chưa nên ngĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta
(TS Trần Viết Hoàn, Nhớ mừng ngày sinh Bác Hồ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nộih 2005, tr.16).
Năm 1950, Bác Hồ 60 tuổi, lúc đó ở thác Dẫng (Tuyên Quang)
Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên
Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ
Trần mà như thế kiếm gì tiên!
(Trần Viết Hoàn, sdd, t.18)
Sau đây bài thơ “Thất cửu” Bác viết năm 1953, lúc 63 tuổi
Chưa năm mươi đã kêu già
Sáu ba mình vẫn nghĩ là đương trai
Sống quen thanh đạm, nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung
(Trần Viết Hoàn, sdd, t27)
Năm 1968, 78 tuổi, Hồ Chủ tịch làm bài thơ:
Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước! ta cùng con em ta!
(Trần Viết Hoàn, sdd, t. 69)
II.Ngày sinh của Hồ Chủ tịch
Nhưng tại sao là ngày 19 tháng 5 chứ không phải ngày 15-01-1894 như Nguyễn Tất Thành đã khai tại Ty cảnh sát Paris năm 1920?  Trả lời câu hỏi đó, ông Hémery đã đưa ra giả thuyết:
Sở dĩ lấy ngày 19-5 là để kỷ niệm ngày thành lập Việt Minh 19-5-1941 (D. Hémery, sdd, t.90). Thiết nghĩ rằng giả thuyết đó không đúng vì ngày thành lập Mặt trận Việt Minh là một biến cố quan trọng thực, nhưng không phải là lý do chính. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tập hồi ký “Chiến đấu vòng vây” cũng công nhận “Ngày thành lập Việt Minh 19-5-1941 trùng với ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là một sự “trùng hợp” chứ không phải lấy ngày thành lập Việt Minh làm ngày sinh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn thêm: “Ngày sinh Hồ Chủ tịch được công bố lân đầu tiên vào năm 1946” (Võ Nguyên Giáp, tổng hợp hồi ký, NXB Quân Đội Nhân dân, Hà Nội 2006, t.378)
Nếu cần lấy một ngày sinh nhật chung thì theo Hồ Chủ tịch trong lá thư ngày 19-5-1948 gửi Quốc Hội và Chính phủ, các đoàn thể, bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài để cám ơn, Hồ Chí Minh đề nghị lấy một ngày khác. Hồ Chủ tịch viết:
“Tôi thiết ngĩ rằng tuy tuổi tác chúng ta có kẻ nhiều, người ít, nhưng tôi và toàn thể đồng bào có một ngày sinh nhật chung: ấy là ngày cách mạng giải phóng thành công tháng tám năm 1945”(TS. Trần Viết Hoàn, sdd, t.13)
Trong khi chờ đợi một giải thích khác của các nhà sử học chuyên môn về Hồ Chí Minh hay của các bậc lão thành cách mạng (hoặc đã có rồi mà chúng tôi chưa rõ), chúng ta thử tìm hiểu lai lịch ngày đó.
Phong tục Việt Nam không ăn mừng sinh nhật
Trước tiên, cần phải gạt ra một bên giả thuyết là chính Hồ Chí Minh công khai hoá ngày đó để làm một dịp đề cao cá nhân mình. Thiết tưởng đó không là phong cách cố hữu của Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch là người “vì nhân dân quên mình”, “là người không muốn nói về mình, không muốn người ta đề cao mình,chú trọng mình”. Chính vì thế khi biết ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, nhân dân và đồng chí đến chúc mừng. Trong những dịp này, Hồ Chủ Tịch luôn tỏ ra không đồng ý mấy. Chẳng hạn năm 1965, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của Bác, ông Trường Chinh thay mặt Đảng, Quốc hội, Chính phủ đến chúc mừng, Hồ Chủ Tịch đã thẳng thắn trả lời: “Bác cám ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại tổ chức chúc thọ một cá nhân là không nên” (Trần Viết Hoàn, sdd, t.56).
Chính vì thế, cứ đến gần ngày 19-5, Bác thường tìm cách vắng mặt. 19-5-1958, Bác đi thăm chùa Hương; 17-5-1960, Bác đi thăm không chính thức Nam Ninh (Trung Quốc); 16-5-1961, Bác đi thăm Quế Lâm (Quảng Tây); 18-5-1962 lại đi Nam Ninh; 19-5-1964, đi Côn Minh, Quảng Châu; 14-5-1966, lại đi thăm Trung Quốc. Năm 1968, Hồ Chí Minh “trốn” lên Hồ Tây, việc “bị lộ”, Bộ Chính Trị, Trung ương Đảng lên mừng Bác. Bác buộc lòng phải trở về nhà sàn. Để đơn giản việc chúc mừng, Bác đề nghị chỉ có Thủ tướng Phạm Văn Đồng ở lại dùng cơm chiều với Bác (Trần Viết Hoàn, sdd, t.68).
Đó là việc hầu như không có gì khác lạ vì thỉnh thoảng Bác Hồ vẫn dùng cơm chung với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bữa cơm của hai người sống độc thân chứ không phải bữa cơm mừng sinh nhật. Cho đến mấy tuần lễ trước lúc Bác ra đi vĩnh viễn, Bác vẫn giữ thái độ khiêm tốn khi nói đến ngày sinh nhật của mình. Ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác kể lại sự kiện đó như sau: Mấy tuần lễ trước lúc Bác mất, một uỷ viên Bộ Chính trị vào thăm Bác và báo cáo cho Bác biết quyết định tổ chức bốn ngày lễ lớn năm 1970: 40 năm thành lập Đảng, 90 năm ngày sinh của Lê Nin, 25 năm thành lập nước và 80 năm ngày sinh của Hồ Chủ tịch. Nằm trên giường bệnh, Bác bảo: “Các chú nên bàn lại cho kỹ, còn ý kiến của Bác, Bác chỉ đồng ý ¾ nghị quyết, Bác không đồng ý về việc đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm 1970. Hiện nay các cháu học sinh sắp bước vào năm học mới… Với nữa tiền bạc dùng để tuyên truyền ngày sinh nhật của Bác, thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, chớ lãng phí” (Vũ Kỳ, sđd, t.479-480).
Bác Hồ không có chủ trương ăn mừng sinh nhật của mình và phong tục của người Việt Nam cũng không ăn mừng ngày sinh nhật.
Chắc chắn chính Hồ Chí Minh cũng biết rõ phong tục Việt Nam không có mừng sinh nhật mà có lễ chúc thọ, nhưng phần nhiều chỉ chúc thọ khi người đó ít nhất được 60 tuổi. Nên khi đáp lại lễ mừng sinh nhật lần đầu tiên 19-5-1946, Hồ Chủ tịch viết: “Tôi chưa xứng đáng với sự săn sóc của đồng bào vì tôi hãy đã còn là một thanh niên, tuổi có 56 (1890-1946), chưa đáng để đồng bào chúc thọ”. (Cũng nên nhắc lại rằng, chỉ cho đến gần đây, giới trẻ thành thị mới bắt chước Tây phương mừng ngày sinh nhật của mình chứ trước đây ít có ai làm).
Hơn ai hết thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò bậc nhất của Hồ Chí Minh, nói lên sự quý trọng truyền thống của Thầy mình như sau: “Hồ Chí Minh đặc biệt thích thú và quý trọng truyền thống xa xưa của dân tộc, thể hiện một cách giàu đẹp trong lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán, tình làng nghĩa xóm, việc nước gắn với việc nhà” (Trịnh Quang Phú, Đường Bác Hồ đi cứu nước, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, tr.14)
Chính sống theo tinh thần cổ truyền của dân tộc, Hồ Chí Minh cho đến năm 1946, không mừng sinh nhật và từ năm 1946 trở đi cho đến lúc qua đời, Bác không bao giờ làm rầm rộ ngày đó. Ngay cả những lần “trốn” Việt Nam sang Trung Quốc, Bác cũng dặn bạn bè trước: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước, vì vậy tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây” (Trần Viết Hoàn, sđd tr.57).
Không bao giờ muốn đề cao cá nhân mình, không bao giờ đi ngược lại truyền thống dân tộc, tại sao lại có tổ chức lễ sinh nhật ngày 19-5-1946?
Việc tiết lộ ngày sinh và tổ chức mừng sinh nhật lần đầu tiên ngày 19-5-1946 chắc phải có những lý do khác.
Muốn biết lai lịch ngày 19-5, thiết tưởng chúng ta phải trở về bối cảnh lịch sử lúc đó.
III. Bối cảnh ngày 19-5-1946
Hơn ai hết ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ, trong một bức thư đề ngày 10-5-1970 gửi cho một đồng chí ở Miền Nam, nói về bối cảnh đó như sau:
“Đồng chí Nam, đồng chí còn nhớ bối cảnh ngày 19-5 đầu tiên không nhỉ? Ngày 19-5-1946.
Hồi ấy vừa dành được quyền độc lập, nhưng khó khăn còn rất nhiều. Nạn lụt, nạn đói, nạn ngoại xâm…, quan quân của Tưởng và bọn tay sai của Việt Nam Quốc dân Đảng quấy rồi ở miền bắc. Bọn thực dân núp sau quân Anh, Ấn gây hấn ở Miền Nam, rồi khiêu khích ở miên Bắc.
Hồi đó cùng Trung ương Đảng, Bác lo lắng công việc suốt ngày đêm, người gầy đi. Bác Hồ của chúng ta dồn hết tâm sức vào việc chèo chống con thuyền Việt Nam qua thác ghềnh, sóng gió. Đúng vào lúc bề bồn công việc ấy, bỗng có tin nhân dân Thủ đô biểu tình tuần hành biểu dương lực lượng để chúc mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh 56 tuổi vào ngày 19-5-1946.
Ngày 19-5 từ đó bắt đầu đi vào lịch sử” (Vũ Kỳ,sđd,tr.294)
Nhưng ông Vũ Kỳ không nói tại sao lại có ngày đó.
Sau Hiệp định 6-3, tình trạng đối nghịch giữa Việt Nam và đại diện Pháp
Các sự kiện đã xảy ra có thể tóm lược lại như sau:
Hiệp định Sơ bộ 6-3 giữa Việt Nam với Pháp vừa ký xong, dư luận xôn xao tin 15.000 quân Pháp sẽ tới miền Bắc có phần đột ngột. Phe đối lập tung tin: Hồ Chí Minh nhượng bộ Pháp. Một số đồng bào phân vân vì không hiểu rõ hết tình thế phức tạp và hiểm nghèo của đất nước vào lúc đó.
Để cắt nghĩa cho nhân dân biết tại sao lại thương lượng với Pháp, tại sao lại ký Hiệp định 6-3, ngay chiều ngày 7-3, một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức tại Nhà hát lớn Hà Nội. Hồ Chủ tịch xuất hiện nói với đồng bào: “Nước ta đã tuyên bố độc lập từ tháng Tám năm 1945, nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Điều đình với Pháp là chứng tỏ sự khôn ngoan về chính trị của ta” (Võ Nguyên Giáp, sđd, tr. 242). Đối với Hồ Chí Minh, cần phải đi từng bước, trước tiên Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do. Một khi quyền tự do đã giành được, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, giành độc lập hoàn toàn. Còn về việc toàn vẹn lãnh thổ, Chính phủ Pháp muốn chiếm giữ Nam bộ nhưng cuối cùng Pháp phải chịu mở một cuộc trưng cầu ý dân về thống nhất ba kỳ và cam đoan sẽ thừa nhận kết quả của nó. Chúng ta đặt lòng tin vững chắc vào nhân dân và Nam bộ nhất định sẽ trở về trong lòng Tổ quốc (Võ Nguyên Giáp, sđd, tr. 242). Con đường đó đi từ tự do đến độc lập, từ độc lập đi đến thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, và sức mạnh của Việt Nam không phải là sức mạnh khí giới như Pháp, mà là lòng yêu nước. Tất cả dựa vào sức mạnh của nhân dân, bằng thương thuyết, bằng đấu tranh chính trị, nhất là ngoại giao.
Phía Việt Nam thì như thế, phía Pháp lại khác.
Phía Việt Nam sẵn sàng thực hiện Hiệp định Sơ bộ, phía Pháp tìm cách phá Hiệp định. Ngày 7-3, một ngày sau khi ký Hiệp định, Việt Nam tổ chức mít tinh để phổ biến tình thần Hiệp định, thì cùng ngày đó D’Argenlieu giao cho Léon Pignon, lại là một người phụ tá của Sainteney, phải tìm cách phá Hiệp định 6-3. D’Argenlieu nói với Pignon: “Những nhượng bộ mà Pháp đã ký trong hiệp định, Pháp sẽ dùng phương pháp khác để giành lại” (TDT,sđd, tr.140).
Hạ Long: Thương thuyết bằng thị uy
Một trong những phương pháp đó là D’Argenlieu muốn nói chuyện trực tiếp với Hồ Chí Minh, chứng tỏ mình mới là tiếng nói chính thức của chính phủ Pháp chứ không phải là Sainteney. Nhưng nơi gặp gỡ, D’Argenlieu đề nghị là ở Vịnh Hạ Long, chứ không phải Hà Nội. Ai cũng thừa biết rằng D’Argenlieu rất tính toán trong đường đi nước bước, nếu tới Hà Nội tức gián tiếp đề cao Hồ Chí Minh, đề cao Hà Nội. Tuy thế, nhưng vì quyền lợi đất nước, được mời đi Hạ Long, Hồ Chí Minh vẫn nhận lợi và ngày 24-3 lên chiếc thuỷ phi cơ Pháp tại Gia Lâm đi Hạ Long. “Cuộc đón tiếp diễn ra thật long trọng, 21 phát đại bác chào khi Hồ Chủ tịch đến, 21 phát đại bác chào khi đi. D’Argenlieu mời Chủ tịch duyệt binh. Chiếc chiến hạm chạy lướt trước những con tàu những khẩu pháo lớn ghếch cao nòng, đứng sắp hàng dài trên mặt biển” (Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr 259).
Tất cả là để thị uy, nhưng Hồ Chí Minh không sợ những sự như thế. “Trên máy bay trở về Hà Nội, Hồ Chủ tịch đã nói với Salan, một người cộng sự của D Argenlieu: “Nếu đô đốc muốn đem tàu đó ra để làm lung lay tôi, thì ông đã lầm to, những tàu đó không thể nào đi ngược dòng sông của chúng tôi” (Võ Nguyễn Giáp, sđd, tr.216)
Mặc dầu không phải là ý định của D’Argenlieu nhưng cuộc gặp gỡ cũng đem lại nhiều ý định cho phía Việt Nam: Vào cuối tháng 5-1946 “sẽ có một đoàn đại biểu Việt Nam đi Paris, để điều đình những mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp, đồng thời Hồ Chủ tịch sẽ là thượng khách của chính phủ Pháp” (TDT, sđd, t.191)
Đà Lạt: Biển không xong, lên núi
Không thành công  ở ngày gặp gỡ Hạ Long trong việc nhằm trì hoãn được việc đoàn Việt Nam sang Pháp thương thuyết, D’Argenlieu lại đề nghị mở cuộc hội nghị chuẩn bị tại Đà Lạt. Phía Việt Nam cũng đồng ý. Ngày 17-4-1946, khai mạc hội nghị tại trường Yersin, Đà Lạt, nhưng hội nghị lâm vào bế tắc khi phía Pháp từ chối thảo luận vấn đề Nam bộ, vì Pháp có dụng ý tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam, lập Chính phủ Nam kỳ tự trị.
Đó là điều mà phái đoàn Việt Nam không khi nào chấp nhận được. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, một thành viên của phái đoàn Việt Nam có uy tín đối với Pháp kết thúc hội nghị bằng cách nói lên một cách hết sức cảm động nguyện vọng sâu thẳm nhất của người dân Việt Nam: “Nam kỳ cần có hoà bình và phần đất này cần sơm trở lại trong lòng Tổ quốc Việt Nam”. Philippe Devillers, nhà báo Pháp có mặt trong những giây phút đó đã chú thích thêm: Phái đoàn Việt Nam không thể nén được sự xúc động của mình, nước mắt lưng tròng, mọi người bước ra khỏi phòng hội nghị .
Cuối cùng tướng Võ Nguyên Giáp kết luận: phía Pháp chưa muốn đoạn tuyệt với chế độ thực dân. Vào ngày 13-5-1946 tướng Võ Nguyên Giáp lên đường trở về Hà Nội (Philippe Devillers, Histoire du Vietnam, Paris 1982, t.266)
Về Hà Nội thủ đô
Vài ngày sau D’Argenlieu chưa chịu thua, lại muốn đến Hà Nội không để chào Hồ Chí Minh trước lúc Bác lên đường sang Pháp, nhưng để tiếp tục vận động Hồ Chí Minh hoãn lại việc đi Pháp. Phía Việt Nam tuy biết thế nhưng tìm cách làm sao để D’Argenlieu đến Hà Nội không phải để thực hiện ý định của mình, nhưng để chào Hồ Chủ Tịch, để biết tinh thần của nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch. Theo ý chúng tôi đây mới là cái nút chính các sự kiện xảy ra xung quanh ngày 19-5-1946 ở Hà Nội là nhằm lấy việc mừng sinh nhật Hồ Chí Minh làm bối cảnh cho việc tiếp đón Thiery D’Argenlieu. Có thật ngày 19-5 là ngày sinh nhật của  Hồ Chí Minh hay không là điều không quan trọng, nhưng dùng ngày ấy làm bối cảnh cho một hoạt động ngoại giao cần thiết, biến ngày sinh nhật thành một lợi khí ngoại giao có tầm lịch sử, mới thật là một sáng kiến tuyệt vời.
IV. Cuốn phim ngày 18,19 tháng 5 tại Bắc bộ phủ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp tường thuật bối cảnh như sau:
Ngày 18-5 các báo thủ đô lần đầu báo với đồng bào ngày sinh nhật của Hồ Chủ tịch … Với đầu đề “Cụ Hồ với dân tộc Việt Nam”, báo Cứu Quốc (tờ báo của Tổng bộ Việt Minh) ngày hôm đó viết:
Ngày 19-5 này, năm mươi sáu năm trước đây (1980) đã ra đời một người: Hồ Chí Minh bằng bàn tay khéo léo và quả quyết, chính ông đã khai sinh, đã nuôi nấng nhiều đoàn thể cách mạng Việt Nam. Tinh thần hoạt động của hầu hết nhiều chiến sĩ Việt Nam đều do bàn tay tài tình của ông đem đến.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết thêm: “Bài báo đã nói đến những cống hiến của Hồ Chủ Tịch đối với cách mạng Việt Nam và nêu ý nghĩa lớn của ngày 19-5”.
“Lần đầu tiên toàn dân tộc Việt Nam được biết ngày sinh của Hồ Chủ tịch”(Võ Nguyên Giáp, sđd, tr.279)
Thiery D’Argenlieu  đến thủ đô Hà Nội chúc mùng Hồ Chủ tịch
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể tiếp: 6 giờ chiều hôm đó 18-5-1946, D’Argenlieu cùng tướng Valluy và Grepin đến Bắc Bộ để chào Hồ Chủ tịch
Cụ Huỳnh, cụ Tô và một vài anh em chúng tôi cùng dự buổi tiếp khách với Bác. Khi nâng cốc chúc mừng ông Cao Uỷ, Bác nói: “Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà mới lấy làm sung sướng được đón tiếp người thay mặt nước Pháp. Sau cuộc hội thương tại vịnh Hạ Long, hội nghị trù bị diễn ra ở Đà Lạt và cuộc giao hảo của phái đoàn Quốc hội Việt Nam với Quốc hội Pháp tại Raris, hôm nay với việc ngài đến thăm Hà Nội, cuộc bang giao Việt Pháp chắc chắn sẽ có bước phát triển mới”
Mỗi chữ mỗi câu Bác dùng nói lên một lập trường, lời chào trở thành tuyên bố. D’Argenlieu không còn cách nào khác là đáp lễ lại: “Ngày mai là ngày sinh nhật của Hồ Chủ tịch, tôi xin chúc mừng Chủ tịch thượng thọ, và tôi tin rằng từ đây tình thân thiện của nước Pháp và nước Việt Nam sẽ càng ngày càng chặt chẽ thêm và càng thân mật hơn nữa” (Võ Nguyên Giáp, sđd, tr.280). Mục tiêu của việc tổ chức lễ sinh nhật đã đạt được, buổi gặp gỡ hôm đó đã biến thành buổi lễ mừng thọ Hồ Chủ tịch D’Argenlieu, trả lời, không thực hiện được ý định của mình.
Quang cảnh ngày sinh nhật: Cuộc thị uy của “chí nhân”, của “đại nghĩa”
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tả lại quang cảnh ngày 19-5-1946:
“Sáng ngày 19-5, các đồng chí trong Trung ương và trong Chính phủ tới chúc thọ Bác. Đây cũng là một dịp hiếm hoi mà chúng tôi được quây quần bên Bác đầy đủ đúng ngày sinh nhật của Người. Rồi những tiếng trống ếch rộn ràng trước cửa Bắc bộ phủ. Các cháu đã tới. Bác Hồ ra đón các cháu vào, hơn một chục em bé gái trai thay mặt cho toàn thể thiếu nhi ngoại thành đến chúc thọ Bác. Các em đua nhau gắn Huy hiệu Măng non thẳng lên áo Bác Hồ, tặng Bác những chứ “i”, “t” tượng trưng cho phong trào “bình dân học vụ”. Quà của Bác Hồ cho các cháu bé năm đó là một cây bách tán. Các em vui mừng hát một bài cảm ơn cảm ơn Bác. Khi các em vào khênh chậu cây bách tán đi ra thì một đoàn hơn 50 anh chị bước vào phòng. Các anh đều mặc áo kaki, các chị vận quần áo bà ba đen. Đây là những người thay mặt cho miền Nam đang chiến đấu tới chúc thọ Bác. Sau khi nghe lời chúc mừng của các anh chị, hai giọt lệ chảy trên gò má Bác, các anh chị Nam bộ đều rưng rưng nước mắt. Lát sau Ban vận động trung ương Đời sống mới vừa được thành lập đến chúc thọ Bác…”(Võ Nguyên Giáp, sđd, tr.280).
Cũng ngày hôm đó phóng viên các hãng thông tấn Pháp AFP phỏng vấn Bác và Bác đã tiếp. Và theo báo Cứu Quốc số 244 ra ngày 20-5-1946, thì sáng ngày 19-5 lực lượng thanh niên đã tuần hành thị uy chúc thọ Bác Hồ, việc đó làm cho các đại biểu đồng minh thấy rõ uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ có ý nghĩa lịch sử và tình cảm biết bao” (Trần Viết Hoàn, sđd, tr.10).
Các đại biểu đồng minh đó là ai, nếu không phải Thiery D’Argenlieu và phái đoàn Pháp đang ở Hà Nội. Lúc đó chưa có truyền hình trực tiếp, nhưng qua báo chí, đài, hãng thông tấn và cơ quan tình báo của Pháp, không có gì mà không tới tai mắt Thiery D’Argenlieu. Thiery D’Argenlieu còn ở lại Hà Nội đến 22 tháng 5, và thất vọng trở lại Sài Gòn.
V. 60 năm nhìn lại
Nhìn lại các sự kiện mấy ngày đó mới thấy hết ý nghĩa của ngày 19-5-1946. Ngày 13-5 hội nghị Đà Lạt kết thúc không đem lại kết quả gì vì đại biểu Pháp không thành thực. Mặc dù Thiery D’Argenlieu tìm cách cản trở nhưng Hồ Chủ tịch quyết định phải lên đường ngày 31 tháng 5 như đã dự kiến qua cuộc gặp gỡ tại vịnh Hạ Long. Thời gian quá gấp rút phải cho phía Pháp biết quyết tâm của Việt Nam. Chỉ trong hai ngày 16,17, Hồ Chí Minh đã nắm lại thế chủ động, quyết định lấy ngày sinh của mình làm phương tiện đấu tranh ngoại giao: Sáng ngày 18-5 cho báo chí loan tin ngày 19-5 là ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh. D’Argenlieu vừa chân ướt chân ráo trở lại Hải Phòng, được tin phía Việt Nam tổ chức ngày lễ sinh nhật Hồ Chí Minh, mà Hồ Chí Minh thừa biết theo truyền thống của Pháp, sinh nhật là một ngày quan trọng. Không biết cách xử trí nào hơn là D’Argenlieu lên Hà Nội chiều ngàu 18 cùng cả Đoàn đến mừng ngày sinh Hồ Chí Minh tại thủ đô Hà Nội và chứng kiến việc biểu dương sức mạnh của chính nghĩa, của lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Chỉ có Hồ Chí Minh mới ứng biến nhanh như thế, chỉ có thể chính từ sáng kiến đó, cách đối phó đặc biệt đó mà 12 ngày sau, trước lúc lên máy bay đi Pháp, Hồ Chí Minh đã đưa ra cho cụ Huỳnh Thúc Kháng một nguyên tắc làm việc (vì cụ Huỳnh rất lo lắng khi Cụ Hồ vắng thì làm sao mà đối phó được với thời cuộc). Nguyên tắc đó là: dĩ bất biến ứng vạn biến. Trong trường hợp này cái không thay đổi đó là độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, còn cách làm, cách đấu tranh có thể muôn hình vạn trạng.
Chỉ có Hồ Chí Minh, trong những lúc khó khăn như thế, mà vẫn giữ được những nguyên tắc và tính cách chân lý cơ bản trong cuộc sống cho cá nhân, cũng như toàn dân tộc. Đó là:
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân mà thay cường bạo”của Bình Ngô Đại Cáo.
Càng tìm hiểu càng thấy hai mẫu người, một người đại diện cho đại nghĩa, cho “chí nhân”; một người đại diện cho “hung tàn”, “cho “cường bạo”.
Hai con người, hai con đường
Thiery D’Argenlieu, dưới cái nhìn của Võ Nguyên Giáp, “Có cặp mắt nhỏ sác sảo, tinh ranh nằm dưới vầng trán đầy nếp nhăn, và đôi môi mỏng dính. Ngồi với y một lát đã thấy ngay y là một con người từng trải và xảo quyệt, tự phụ và nhỏ nhen, một con người như vậy chỉ có thể là con người của dĩ vãng, của chính sách thực dân” (Võ Nguyên Giáp, sđd, t. 272).
Còn Hồ Chí Minh dưới con mắt của Sainteney, người đại diện Pháp ký Hiệp định sơ bộ 6-3, thì: “Từ khi gặp ông Hồ Chí Minh lần đầu tiên, tôi đã cảm tưởng con người khổ hạnh đó mà nét mặt biểu lộ trí thông minh và nghị lực, lẫn mưu trí và tế nhị, là một người siêu đẳng… Kiến thức rộng rãi, trí thông minh cùng với sức hoạt động lạ lùng, khả năng chịu đựng mọi gian khổ và lòng vị tha không bờ bến của ông đã đem đến cho Ông uy tín và sức thuyết phục không ai có thể so sánh nổi. Thật đáng tiếc là nước Pháp đã đánh giá quá thấp con người ấy, đã không hiểu được giá trị và sức mạnh của bậc vĩ nhân ấy” (Vũ Kỳ, sđd, t. 34 – 35).
Quả thế, trong lúc Thiery D’Argenlieu tin tưởng vào sức mạnh vũ khí, của mưu mô, thì Hồ Chí Minh lại tin vào chính nghĩa, tin vào sức mạnh của nhân dân. Chính như thế Hồ Chí Minh dẫu có gặp gian lao khó khăn trong hoạt động thì vẫn đạt kết quả cuối cùng: Xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập với thủ đô Hà Nội, còn con đường Thiery D’Argenlieu dẫu có dùng biết bao nhiêu là tiền của, là khí giới, mà kết quả là dẫn đến Điện Biên Phủ năm 1954.
Ngày 19-5-1946 như thế không chỉ là ngày kỷ niệm mà là một ngày sinh nhật mới, đánh dấu một chặng đường mới trong quá trình đấu tranh thu hồi lại cho quê hương nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ đã bị đánh mất gần 80 năm.
60 năm rồi càng nhìn lại, càng tìm hiểu, càng thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của ngày 19-5-1946. Có nghĩa là còn có cả một kho tàng nơi con người và cuộc đời Hồ Chí Minh. Tha hồ mà khám phá./.
Paris tháng Năm, năm 2006
...............................
(*): Đây là bài viết của cố tiến sỹ- linh mục Nguyễn Đình Thi, nguyên Chủ tịch Hội Huynh đệ Á - Âu, Hội Huynh đệ Việt nam tại Pháp. Đương thời, ông là một người yêu nước, một nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa có nhiều đóng góp cho công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Ông đã được Nhà nước ta tặng Huân chương Độc lập.