Thứ Ba, 18 tháng 8, 2020

LỜI TÂM SỰ CỦA MỘT NHÂN CHỨNG - Vũ Thư Hiên

 LỜI TÂM SỰ CỦA MỘT NHÂN CHỨNG

Nói chuyện với các nhà văn Đức
tại thành phố Nuremberg.
2.2000

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố độc lập năm 1945 khi đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc. Cùng với sự tuyên xưng độc lập, chế độ kiểm duyệt thời thuộc Pháp chính thức bị bãi bỏ.
Nhưng chẳng bao lâu sau, những tờ báo thuộc các xu hướng không làm vừa lòng nhà cầm quyền mới lần lượt bị đóng cửa bằng nhiều cách, kể cả những cách hoàn toàn không dân chủ chút nào - phong toả trụ sở, tịch thu báo, cấm bán, cấm tồn trữ…
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chỉ có vài tờ báo ở chiến khu làm nhiệm vụ tuyên truyền cổ động nhân dân đánh giặc. Thiếu giấy, thiếu phương tiện in, nhưng chúng đã làm tốt nhiệm vụ của mình. Trong kháng chiến, việc kiểm duyệt không được đặt ra.
Sau năm 1954, khi Hà Nội trở về tay những người chiến thắng, số tờ báo còn lại trong vùng quân đội Pháp chiếm đóng được phép tồn tại èo uột thêm một thời gian ngắn. Sau, chúng bị chuyển thành những tờ báo của các tổ chức công quyền. Năm 1956, tờ báo tư nhân cuối cùng là tờ Nhân Văn, vừa mới ra liền bị đóng cửa, nhiều người làm văn làm báo bị đưa ra toà, bị đi tù hoặc đi cải tạo lao động. Có thể nói, đó là năm cuối cùng của cái gọi là “tự do báo chí”, kể cả tự do ở trên giấy.
Năm 1967, tôi chính thức bước vào nghề báo, làm phóng viên kiêm biên tập viên cho một tờ báo tên là Báo Ảnh Việt Nam. Tờ báo này trực thuộc Uỷ ban Đối ngoại Trung ương. Tờ báo này chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là giới thiệu, tuyên truyền cho nước Việt Nam cộng sản. Vào thập niên 60, thế giới cộng sản chia làm hai phe: phe theo đường lối của Liên Xô (cũ) gọi là phe “xét lại”; phe theo đường lối Trung Quốc gọi là phe “giáo điều” (theo cách người trong hai phe gọi nhau). Do chức năng của nó, những người làm báo ảnh sống khá yên ổn. Báo in ảnh nhiều, chữ ít, bài vở được duyệt cẩn thận, trước hết là ở phòng, ban, sau đến thư ký toà soạn, chủ nhiệm, nên hiện tượng “mất lập trường”, sai “quan điểm” hầu như không có. Tuy nhiên, trong phong trào “chống chủ nghĩa xét lại hiện đại” dâng cao, thỉnh thoảng lại có sự phát động những cuộc rà soát từng câu từng chữ trong các bài đã in để “phát hiện” những “phần tử xét lại” trong hàng ngũ. Nói khá yên ổn chỉ có nghĩa như vậy. Kể lại những tình tiết trong các vụ rà soát này cần phải có nhiều thời gian. Người nghe kể thể nào cũng nghi ngờ tính chân thực của câu chuyện – nó giống chuyện tiếu lâm. Người trong cuộc thì không có cơ hội để cười - ai cũng có thừa cơ hội để lo lắng. Người bị nghi ngờ là “phần tử xét lại”, hoặc “có tư tưởng xét lại” chắc chắn sẽ phải chịu những hình phạt mà không ai có thể đoán trước nó sẽ là thế nào. Nhẹ thì bị đưa ra khỏi biên chế, tức là đuổi việc, nặng thì có thể bị đưa đến những nơi không ai muốn đến.
Tôi không may mắn bị bị rơi vào số người bị nghi ngờ, trước hết là do những phát biểu của mình trong những cuộc họp tôi đã không ca ngợi tư tưởng Mao Trạch Đông như những người khác. Ấy là chưa kể tôi còn có những lời châm biếm “người cầm lái vĩ đại”. Việc ca ngợi Mao Trạch Đông trong thời kỳ này được coi như lời khẳng định lập trường mác xít - lê-nin-nít chân chính trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống “chủ nghĩa xét lại”.
Cộng vào đấy, tôi là kẻ có tì vết. Một truyện ngắn của tôi được đăng trên tờ Văn Học mấy năm trước bị vị lãnh tụ văn nghệ lên án trong bài viết “Nâng cao lập trường tính đảng, chống chủ nghĩa xét lại trong văn nghệ” của ông ta. Ai đã sống qua thời ấy mới hiểu tầm quan trọng của bài phê bình ấy, chỉ cần đọc cái đầu đề. Tôi lại có quan hệ bè bạn với những người bị coi là “phần tử xét lại”, có tên trong “sổ đen”. “Sổ đen” tuy nằm trong két sắt của các cơ quan trấn áp, nhưng nó là một thứ secret de Polichinelle, ai cũng biết. Cuộc “đấu tranh tư tưởng” kéo dài nhiều năm, trong bầu không khí nặng nề, đầy đe doạ. Ở nước láng giềng phương Bắc những kẻ như tôi chắc đã ở trong tù, hoặc tệ hơn, đã mất mạng.
Tôi ngây thơ nghĩ rằng ở nước tôi tình hình không đến nỗi như thế. Nhưng tôi đã lầm.
Cuối năm 1967, một cuộc bắt bớ rộng rãi, “một mẻ lưới” theo cách gọi của đảng cầm quyền, được thực hiện.
Tôi bị bắt cóc giữa đường và đưa thẳng vào nhà tù, nơi cha tôi đã ở qua nhiều lần trong cuộc đời hoạt động giành độc lập cho đất nước của ông. Gần nửa năm sau vợ tôi mới được cơ quan thông báo tôi đã bị bắt. Trước đó, gia đình tôi chỉ biết tôi đã mất tích. Trong đợt càn quét này số cán bộ ở các cơ quan trung ương bị bắt khoảng gần 40 người, theo tôi tính nhẩm. Con số chính thức chỉ có công an biết. Ở các tỉnh, trong phong trào thi đua “chống chủ nghĩa xét lại hiện đại”, số người bị bắt nghe nói còn đông hơn, trong đó có nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng gần đây “Chuyện Kể Năm 2000”. Tất cả những người bị bắt giam trong “vụ án của tôi” đều là những người lương thiện. Họ chỉ có một cái tội, ấy là dám nghĩ bằng cái đầu của mình, dám nói ra những ý nghĩ của mình.
Sự bắt bớ tràn lan trong cơn lên đồng tập thể này còn thâu tóm vào nó rất nhiều người không vì một lý do chính đáng nào. Trong tù, tôi gặp mấy dị bản “xét lại” kỳ quặc. Một sinh viên đi học ở Hungary, anh ta rơi vào tù vì yêu một cô gái Hung. Hungari là một nước “xét lại”, cô ta ắt cũng là “xét lại”, yêu cô ta thì cũng là “xét lại”. Một tên “xét lại” khác, một trí thức đi tù vì biết tiếng Anh, nhờ biết tiếng Anh, anh ta quen mấynhà ngoại giao Ai Cập và Nam Dương mời tới nhà uống rượu. Những người Ai Cập và Nam Dương hiển nhiên nằm trong phe cái gọi là “phe đế quốc”.
Cùng với cuộc bắt bớ này, cái “vô sản chuyên chính” của những lãnh tụ hoàn toàn được khẳng định. Mặt nạ dân chủ không còn cần thiết nữa, không cần dùng tới nữa. Thay vào đó là cái khác mang tên “dân chủ tập trung”cho đến nay vẫn còn làm tốn rất nhiều giấy mực. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã lột xác hoàn toàn để khoác áo mới “cách mạng vô sản”.
Tôi đã ở qua bốn nhà tù, trong số đó có ba nhà tù tôi bị giam trong xà lim một người. Đó là một căn phòng ẩm ướt, thiếu ánh sáng và không khí, đủ chỗ cho bốn cái quan tài. Tôi không được phép đọc dù chỉ một mẩu giấy có chữ in – người ta đã bóc hết giấy bọc quà của gia đình được phép gửi cho thân nhân bị tù.
Lần đầu tiên tôi sau bốn năm tù tôi đọc mấy mẩu báo đã hết thời gian tính dùng để gói thức ăn của thân nhân tù gửi cho người nhà trong trại. Ấy là khi tôi đã được đưa từ xà lim ra trại chung, nơi tù chính trị và hình sự ở lẫn với nhau để làm lao động. Sau khi ra tù tôi có đặt câu hỏi với những người tù cùng một vụ với tôi vốn đã bị thực dân Pháp giam giữ trong thời thuộc Pháp vì tội hoạt động cách mạng: nhà tù nào khắc nghiệt hơn? Câu trả lời là: nhà tù Việt Nam cộng sản khắc nghiệt hơn.
Đói, rét, là chuyện bình thường. Cái tệ hại hơn cả là người ta tìm cách huỷ diệt chí khí và trí não của người tù bằng cách bắt người tù ngồi đấy suốt năm này sang năm khác trong bốn bức tường, không được đọc, không được viết, không có tiếp xúc với nhân quần, không được biết ngày trở về.
Trong tù tôi luôn hỏi các cán bộ chấp pháp: bao giờ họ hỏi cung xong để đưa chúng tôi ra toà? Không có một câu trả lời. Tới năm thứ sáu thì họ bảo: tội của tôi không đáng đưa ra xử, kể từ nay tôi sẽ bị tập trung cải tạo. Điều đó có nghĩa là cuộc hỏi cung tôi kéo dài tới 6 năm, và tôi sẽ còn ở tù lâu, cứ 3 năm sẽ có một lệnh mới, cho đến khi người ta cho rằng tôi đã “cải tạo tốt”. Trong các nhà tù mà tôi đi qua tôi đã gặp nhiều người bị oan ức, có người chỉ vì một câu nói phạm thượng trong lúc say rượu mà ở tù cả chục năm. Tôi đã thấy một người vì đói quá mà ăn mỗi ngày hai tờ báo Nhân Dân xin được của những người có tiếp tế. Vỏ khoai luộc là thứ dạ dày không tiêu hoá được, nhưng nhiều người tù vẫn nhặt ở dưới đất lên để ăn.
Sau khi được thả, người ta cho tôi ký một hợp đồng tạm tuyển làm công nhân bốc vác, sau đó tôi làm nhiều nghề khác nhau nữa để kiếm sống. Trừ nghề viết. Không có một lệnh nào bằng văn bản quy định như thế, nhưng ở mọi tờ báo, ở mọi nhà xuất bản, đã nhận được lệnh miệng, thứ lệnh có hiệu lực hơn bất cứ văn bản nào. Mười năm sau, cho tới thời kỳ gọi là “đổi mới”, tôi mới được phép viết trở lại. Cũng không có lệnh giải toả nào hết. Và cũng không có cả lệnh miệng. Là nhờ một giám đốc một nhà xuất bản dũng cảm dám in bừa, in đại. Cuốn sách của tôi được giải thưởng cao nhất trong một kỳ chọn sách hay cho trẻ em. Như một phép màu.
Trong suốt mười năm ấy, tôi phải sắm vai một công dân ngoan ngoãn, nhưng tôi biết cơ quan mật vụ vẫn theo dõi tôi từng bước. Ý nghĩ về một cuốn sách miêu tả cái xã hội quái gở mà tôi buộc phải sống trong đó không lúc nào rời bỏ tôi. Nhờ biết thông thạo tiếng Nga, tôi được đi theo một đoàn thương mại đến Liên Xô với tư cách phiên dịch, rồi sau đó, nhờ ký được mấy hợp đồng, tôi được ở lại làm đại diện cho một công ty. Cuốn Đêm Giữa Ban Ngày được viết ra trong thời kỳ này. Do bất cẩn, việc tôi viết một cuốn sách chắc chắn là phản động đến tai nhà cầm quyền. Người ta đã tạo ra một vụ trấn lột để cướp bản thảo, tôi bị đâm, bị cướp sạch những gì tôi có. Tôi chạy qua Warszawa, rồi từ đó, khi biết người ta vẫn lần theo dấu vết của mình, tôi nhớ tới lời khuyên của một đại tá KGB (cũ) điều tra vụ trấn lột tôi và biết rõ kẻ trấn lột là ai, tôi tìm đường sang Pháp. Nước Pháp cho tôi quy chế tị nạn chính trị, và tôi hoàn tất cuốn sách bị cướp ở Paris.
Tôi đã không sai lầm khi chọn cuộc sống lưu vong.
Nó không phải cuộc sống tự nguyện, nhưng nó cho tôi điều kiện để viết xong cuốn sách ấp ủ. Tôi coi nó là món nợ phải trả. Đồng bào tôi phải được biết về mặt trái của cái xã hội được coi là đoạn đầu của con đường đi tới miền hạnh phúc viên miễn. Nền tuyên truyền dối trá, như một thứ thuốc lú, đã làm cho nhiều người mê mẩn, không phân biệt chân giả, quên mất mình là con người có quyền được sống như một con người, chứ không phải một robot chỉ biết tuân lệnh các lãnh tụ tự xưng “vô cùng sáng suốt” và “duy nhất đúng đắn”
Tôi cảm ơn nước Pháp đã cho tôi tá túc. Tôi cảm ơn hai tổ chức International Parliament of Writers và Intrenational PEN đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi làm công việc mà tôi muốn được làm là đóng góp vào cuộc đấu tranh chung vì dân chủ hoá xã hội Việt Nam. Công việc ấy chiếm toàn bộ thời gian còn lại của tôi.
Tôi sẽ không quên lòng tốt của những người bạn ở các thành phố mà tôi đã được sống qua: Paris, Strassbourg, Bern, Nuremberg. Nhờ các bạn tôi được hiểu biết thêm rất nhiều về các dị bản của xã hội dân chủ, những mặt mạnh cũng như những chỗ yếu của nó. Kinh nghiệm của những xã hội ấy chắc chắn có ích cho đất nước tôi vào ngày mà nó thoát khỏi vũng lầy phi nhân tính của chế độ độc tài.
Tôi đặc biệt yêu mến Nuremberg, một trong những cái nôi của nền văn hoá Đức. Nhờ nó mà cả nước Đức trở thành gần gụi với tôi. Nhờ nó mà hôm nay tôi không bỡ ngỡ khi được có mặt ở đây giữa các bạn, như giữa những người thân thuộc.
Có vẻ tôi đã nói nhiều về chính trị hơn là cần thiết.
Tôi nghĩ: ở nước tôi hiện nay không thiếu các nhà văn, lại là những nhà văn rất tài hoa nữa, nhưng còn thiếu nhiều công dân ý thức được trách nhiệm của mình. Vì sự thiếu ấy, tôi chọn vị trí công dân.
Xin cảm ơn các bạn đã bỏ thời giờ nghe lời tâm sự của tôi.

Vũ Thư Hiên

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

90 năm công tác tuyên giáo - nhìn lại và suy ngẫm

 90 năm công tác tuyên giáo - nhìn lại và suy ngẫm

Vũ Ngọc Hoàng

 

Công tác tuyên giáo đã trải qua 90 năm, nay nhìn lại và mong muốn đổi mới, xin nêu một số ý kiến để bạn đọc tham khảo.
1/ Có thể phân chia ra 2 giai đoạn là trước và sau 1975, mỗi giai đoạn có thời gian bằng nhau là 45 năm. Giai đoạn đầu chủ yếu là chiến đấu giành độc lập dân tộc, kháng chiến vệ quốc và đấu tranh cho thống nhất nước nhà; giai đoạn sau chủ yếu là xây dựng đất nước trong hòa bình. So sánh giữa hai giai đoạn, thì giai đoạn đầu có ưu điểm nổi trội hơn, đã tập họp và phát huy được sức mạnh của toàn dân và của nền văn hóa dân tộc, còn giai đoạn sau thì yếu kém và lủng củng hơn, mặc dù cũng làm được một số việc cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Sau năm 1975 đáng lẽ tuyên giáo phải đóng góp nhiều hơn cho công cuộc khai hóa văn minh của dân tộc để nhanh chóng tiến lên, nhưng trên thực tế thì chưa làm được như vậy mà còn góp phần gây nên sự thụ động của tập thể Đảng, của tầng lớp trí thức và của cả cộng đồng nhân dân. Trước đây tôi đã nói một số lần về điều này khi còn đương chức và đã nhắc lại hôm chia tay đồng nghiệp để nghỉ hưu. Giữa chính trị và tuyên giáo có quan hệ mật thiết, đúng sai trong chủ trương và thực hiện nhiệm vụ chính trị đã tác động rất lớn đến ưu khuyết điểm của công tác tuyên giáo. Tất nhiên về phần mình thì tuyên giáo cũng tác động trở lại chính trị, nhưng đó là mặt thứ hai của mối quan hệ này. Mà nhìn lại lịch sử của dân tộc ta mỗi khi qua những khúc quanh, đất nước bị xâm lăng hoặc sau khi chiến thắng, lúc hưng thịnh và lúc suy vong, chắc lọc trong ấy ra, ta có thể thấy mặt mạnh nổi trội của văn hóa Việt Nam là văn hóa trong giữ nước, còn mặt yếu cũng nổi rõ là văn hóa trong phát triển. Đối với phần yếu kém về văn hóa phát triển thì cơ bản chúng ta chưa làm tốt công cuộc khai sáng để tiến lên. Đây là điểm yếu lớn nhất.
2/ Tuyên giáo để làm gì và quan hệ của nó với nhiệm vụ chính trị chủ yếu ra sao? Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của công tác tuyên giáo là nhằm tham gia khai hóa văn minh cho cộng đồng dân tộc và thực hiện nhiệm vụ chính trị, vừa là sự nghiệp lâu dài vừa là trước mắt, vừa có tính chất khoa học vừa mang tính chính trị. Trong thực tế không ít trường hợp không tránh khỏi sự mâu thuẫn giữa tính khoa học và tính chính trị. Nên giải quyết thế nào? Phải dựa vào khoa học để làm căn cứ xác định và điều chỉnh các yêu cầu chính trị, chứ không phải ngược lại là lấy chính trị để bắt khoa học phải tuân theo, vì nếu vậy thì khoa học không còn là khoa học, và do đó các căn cứ để quyết định nhiệm vụ chính trị không còn đứng vững và chính trị chắc chắn sẽ bị chông chênh. Lối suy nghĩ “chính trị là thống sói” như trước đây đã có thời kỳ hiểu và nói như vậy là cách tư duy sai lầm, bị lộn ngược, xuất phát và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Phương Bắc. Chính vì lẽ đó mà nhiều việc trong đời sống xã hội đã bị chính trị hóa, kể cả khoa học và tư tưởng, ngôn luận. Mặt khác, cái lâu dài và cái trước mắt không phải lúc nào cũng thuận chiều nhau, khoa học định hướng cho lâu dài, nhưng chính trị nhiều lúc phải giải quyết yêu cầu bức xúc trước mắt. Trong trường hợp đó mục đích lâu dài phải được phân kỳ, có quá trình, có bước đi phù hợp hoàn cảnh thực tế. Chỉ có điều sự phân kỳ đó có giới hạn và không trái ngược với khoa học, có vậy chính trị mới có thể thành công bền vững. Trường hợp khác, nếu bất chấp khoa học, thì chính trị sẽ mất tính khách quan, không còn sức sống tự nó, bị xơ cứng và giảm tính thuyết phục, giảm lòng tin, từ đó mà hỏng nền tảng. Ngay cả quan niệm chính trị cũng không nên khuôn lại trong giới hạn của vấn đề quyền lực và xử lý tình huống, mà phải có cách tiếp cận của khoa học chính trị, không áp đặt kiểu cai trị ngày xưa mà thuyết phục bằng cơ sở khoa học trong môi trường dân chủ xã hội. Khai hóa văn minh mới là sự dẫn dắt thật sự có ý nghĩa với tiến trình lịch sử. Khi nào các cơ quan lãnh đạo cao nhất lấy sự nghiệp khai hóa văn minh làm nhiệm cụ chính trị hàng đầu, mục tiêu cao nhất thì các mâu thuẫn giữa chính trị và khoa học sẽ không còn nhiều, thậm chí rất ít, chỉ là chuyện kỹ thuật.
Lâu nay nhiệm vụ chính trị quy định công tác tuyên giáo, còn công tác tuyên giáo thì tập trung phục vụ chính trị, nặng về tuyên truyền, quán triệt. Ngay cả lý luận đáng lý là một khoa học thì cũng do chính trị quy định, yêu cầu phải thế này và thế kia, không được khác. Không ít lý lẽ được sinh ra từ yêu cầu chính trị trước mắt, từ suy nghĩ chủ quan của người lãnh đạo nhưng sau đó lại trở thành “cơ sở khoa học” cho lý luận. Tôi không nói công tác tuyên giáo độc lập hoàn toàn với chính trị. Nó đồng hành và phục vụ nhiệm vụ chính trị là lẽ đương nhiên, nhất là khi nó do một đảng chính trị cầm quyền lập ra để thực hiện công việc theo chủ trương của đảng. Nhưng công tác tuyên giáo là tư duy và ngôn luận. Tư duy không thể không có tự do và theo đó ngôn luận cũng vậy. Nếu công tác tuyên giáo hoàn toàn lệ thuộc, bị thụ động một chiều, mất đi tính tự do và sáng tạo, cũng có nghĩa là mất đi sức sống và tính thuyết phục, do vậy mà trở nên xơ cứng, từ đó không đạt được kết quả như mong muốn. Trong thực tế, rất nhiều trường hợp, ưu và khuyết điểm của nhiệm vụ chính trị là sự tác động, bắt nguồn, dẫn đến ưu khuyết điểm của công tác tuyên giáo. Theo lý thuyết thì tuyên giáo có quyền đề xuất những vấn đề khác với chủ trương của chính trị, thậm chí là ngược lại, và như vậy sẽ góp phần làm cho chính trị đúng đắn hơn. Nhưng đó là lý thuyết, còn trên thực tế có mấy ai dám làm, có mấy việc được làm đâu. Điều này có một phần thuộc về trách nhiệm của người làm tuyên giáo, nhưng phần lớn hơn, phần chủ yếu thuộc về trách nhiệm của các nhà lãnh đạo chính trị chủ chốt.
3/ Mục tiêu dân tộc và dân chủ là chủ trương hợp lòng dân, có ý nghĩa và sức mạnh cổ vũ lớn lao nhất, tạo động lực bền vững. Nhờ đâu mà Việt Nam đã thành công trong Cách Mạng tháng 8.1945 giành lại độc lập và các cuộc kháng chiến chống xâm lược sau đó, kể cả phương Tây và phương Bắc mạnh hơn ta gấp nhiều lần? Đó là sức mạnh của cả dân tộc! Tất nhiên có vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều đó thì không thể phủ nhận. Mặt khác lại phải thấy rằng, ngày xưa trước khi có Đảng, dân tộc ta cũng đã rất nhiều lần đánh thắng quân xâm lược từ phương Bắc. Trong đó có những chiến công vô cùng vang dội chẳng kém gì thời đại HCM. Vậy là trong dòng máu của dân tộc này đã có truyền thống yêu nước, văn hóa giữ nước hun đúc từ bao đời. Cái giỏi của những người lãnh đạo là đã biết phát huy tinh thần dân tộc, sức mạnh vô cùng lớn lao từ nhân dân. Ngày đó, mục tiêu và khẩu hiệu lớn nêu ra là “Dân tộc, dân chủ”. Nhiệm vụ chính trị đó phù hợp lòng dân, là mong muốn chính đáng và bức xúc của cả dân tộc. Nên tự nó, nhiệm vụ chính trị đã có sức mạnh hiệu triệu muôn người. Trong trường hợp ấy, bản thân chính trị đã có sức cảm hóa thuyết phục, đã là tuyên giáo rồi. Còn công tác tuyên giáo thì đã biết nhân lên sức mạnh của chính trị chân chính. Tôi nghĩ nếu không có sức mạnh bởi mục tiêu dân tộc và dân chủ thì có lẽ chúng ta không có được chiến thắng như đã có. Cho đến nay, đã 90 năm từ ngày lập Đảng, nhưng mục tiêu dân tộc và dân chủ vẫn chưa thực hiện xong, vẫn còn nguyên đó, tất nhiên đã có một bước tiến rất đáng kể. Với tình hình Biển Đông và âm mưu của giới cầm quyền Trung Quốc, cộng với sự phụ thuộc không ít về kinh tế và ảnh hưởng về tư tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc của VN ta vẫn còn nặng nề, gian khó, giải quyết không đơn giản. Và lần này nếu để mất biển đảo thì uy tín lãnh đạo cũng sẽ mất theo.
Còn mục tiêu dân chủ? Ngày chưa giành được chính quyền ta hiểu vấn đề dân chủ tuy không sai nhưng chưa đầy đủ và quá đơn giản. Lúc đó, dân chủ được hiểu là lật đổ chế độ quân chủ của vua, xóa bỏ phong kiến và lập ra nhà nước dân chủ của nhân dân. Nếu chỉ có như vậy thì sau cuộc Cách mạng tháng 1945 về cơ bản đã giải quyết xong rồi. Nhưng trên thực tế thì vấn đề dân chủ còn rất nhiều việc chưa được giải quyết, thậm chí có những nội dung rất cơ bản thuộc về nền tảng vẫn chưa giải quyết được. Bác Hồ có nói một câu nổi tiếng là, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chưa có nghĩa lý gì. Như vậy, theo tư duy của Người, độc lập là để cho nhân dân được tự do và hạnh phúc, tự do và hạnh phúc là mục đích của độc lập, chưa đạt được điều đó thì mục đích của độc lập vẫn chưa xong. Mà để có một xã hội thật sự dân chủ và nhân dân ai cũng được hạnh phúc thì còn rất gian nan. Việc xây dựng một nhà nước dân chủ thì ta đã nói từ 1945, vậy mà mãi đến nay vẫn còn quá nhiều việc chưa làm. Giữa lời nói và việc làm có khoảng cách xa như vậy đó. Từ 1945 đến nay đã 75 năm, đã có những tiến bộ đáng kể trên tiến trình dân chủ, nhưng công bằng mà nói hãy còn ít và con đường vẫn còn rất xa, thậm chí có mặt còn thụt lùi so với thời kỳ Bác Hồ đang sống và lãnh đạo đất nước. Tất nhiên nói khoảng cách xa gần ở đây là nói trong tư duy chậm đổi mới, chứ thực ra chỉ cần thay đổi cách suy nghĩ thì lập tức có thể tạo ra những bước tiến mang dấu ấn sâu sắc trong lịch sử phát triển của dân tộc. Mục tiêu dân tộc và dân chủ đã từng là sức mạnh của cả một dân tộc, hiện nay vẫn thế và lâu dài cũng vậy. Nếu một lúc nào đó bị sao nhảng, lơ là đối với mục tiêu này, không thường xuyên lo nghĩ và phấn đấu cho nó, thì sẽ mất sức mạnh bắt nguồn cội rễ từ lòng dân. Dân chủ đến bao nhiêu là thể hiện trình độ văn minh và tính nhân văn của xã hội. Dân chủ là bản chất tốt đẹp của xã hội tiến bộ. CNXH nhất quyết phải là một chế độ dân chủ thật sự, chứ không phải là toàn trị. Có vậy mới đáng để mà phấn đấu. Không như vậy thì chắc chắn không phải CNXH chân chính. Nếu không giải quyết tốt vấn đề dân chủ thì chẳng bao giờ có được CNXH. Còn mất dân chủ là đi ngược với tiến trình đúng hướng của lịch sử, là sự kìm hảm tiến bộ văn minh. Đảng CSVN phải chống lại xu hướng bảo thủ lạc hậu này để không rời bỏ mục tiêu tốt đẹp của cuộc cách mạng và xứng đáng là lực lượng tiên phong, không để đảng tự chuyển thành một lực lượng cản trở, chống lại nhân dân. Trong điều kiện chỉ có một đảng thì đảng ấy càng phải dân chủ, càng phải xứng đáng là người đại diện cho nguyện vọng và ý chí của nhân dân.
4/ Phải đổi mới căn bản nhận thức và tư duy về CNXH và con đường đi tới đó. Suốt trong thế kỷ 20 và cho đến nay, trên thế giới đã và vẫn còn nhiều kiểu CNXH rất khác nhau, kể cả giả danh, giả mạo, lừa mị và xấu độc. Qua thực tiễn nếu phân tích kỹ sẽ thấy có nhiều vấn đề trước đây ta đã nhận thức không đúng, nhưng cứ giữ “kiên định” mà thực chất là bảo thủ, giáo điều. Mặt khác, thế giới ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với trước đây, đang thay đổi rất nhanh và sẽ còn tiếp tục thay đổi nhiều nữa. Do vậy, Đảng phải khác trước, phải tự thay đổi mình, phải chủ động và tích cực đổi mới tư duy của mình nếu không muốn lạc hậu, lỗi thời và trở thành lực cản đối với quá trình phát triển của dân tộc. Kiên định trước tiên là kiên định tính chất vì “nhân dân quên mình” chứ không phải là một sự bảo thủ giáo điều duy ý chí.
Trong đó, cần hiểu và diễn đạt cho đúng về CNXH và con đường đi đến đó là công việc quan trọng hàng đầu của tuyên giáo. CNXH phải thể hiện ở bản chất chứ không phải nặng khẩu hiệu và tên gọi. CNXH như thế nào đó thì đáng ủng hộ, và như thế nào khác thì không đáng ủng hộ. Lâu nay ta hiểu cũng không nhất quán, đã có những điều chỉnh quan trọng, nhưng cho đến nay đã 90 năm rồi mà vẫn còn không ít tính mập mờ, mơ hồ, chưa rõ về CNXH. Ta nêu mục tiêu XHCN nhưng lại chưa rõ về nó và chính điều ấy đã làm mất lòng tin, chập choạng trong từng bước đi. Ngay cả lý luận của K.Marx, Lenin cũng không phải đã rõ hoàn toàn, và giữa hai ông cũng khác nhau khá nhiều, kể cả cách tiếp cận và con đường đi tới đó. Hội nghị các đảng Cộng Sản và Công Nhân đang cầm quyền ở các nước XHCN tại Mat-x-cơ-va 1957 nói về các đặc trưng của CNXH cũng có những nội dung không đúng, ta lại cứ thế tự giác đi theo một thời gian khá dài. Tại VN trong thời kỳ đầu của cách mạng cũng có nói đến mục tiêu XHCN, nhưng là mới nói thoáng qua, không rõ như mục tiêu dân tộc và dân chủ, nhưng trong nhân dân ngày ấy (và sau này) đã hiểu khái quát rằng đó là một xã hội tốt đẹp. Như vậy, cái XHCN mà nhân dân ta ủng hộ ngày ấy tức là một xã hội tốt đẹp, phải tốt đẹp. Và theo nghĩa đó, khi nào đạt được sự tốt đẹp thì mới là XHCN, còn xây dựng CNXH là phải tạo ra cái tốt đẹp. Dần dần về sau sự diễn đạt cụ thể hơn, nhưng khi nói cụ thể thì có những nội dung người ta chưa thấy nó tốt đẹp như lời nói, và do đó lại mơ hồ, lại phân vân. Mặt khác, trong cách diễn đạt của ta nhiều lúc nhầm lẫn giữa tương lai và hiện tại, giữa lý tưởng và hiện thực (việc vừa phải phấn đấu lâu dài để đạt tới, vừa như đã có rồi phải ra sức bảo vệ giữ nguyên) cũng góp phần làm cho câu chuyện bị mập mờ lẫn lộn.
Có một số vấn đề trong nhận thức (trước đây và cho đến nay) mà theo tôi có thể là do không hiểu đúng, không hiểu hết ý Marx, hoặc Marx không đúng, hoặc trước đây đúng mà nay không còn phù hợp, cần được trao đổi cho rõ. Ta đối lập CNXH với CNTB, coi chúng khác nhau về bản chất, đối lập nhau, là đối thủ không khoan nhượng, thù địch đến mức phải chỉa súng vào nhau (trong khi thực chất khoa học chỉ là sự khác nhau chủ yếu về giai đoạn phát triển, mà CNXH phải cao hơn, và khi có thay đổi nhiều về lượng sẽ dẫn đến thay đổi về chất). Ta coi đó là hai con đường đi riêng, khác nhau hoàn toàn (trong khi tư duy của K.Marx không phải là như thế, mà là một sự tiếp nối). Ta coi CNXH phải loại bỏ sở hữu tư nhân và lấy công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu làm nền tảng. Quan điểm này có tả khuynh hay không? Trong khi đó chính sở hữu tư nhân và lợi ích cá nhân là động lực, là bản năng của con người. Quan điểm về công và tư hữu này K.Marx và Engghen viết trong Tuyên ngôn Cộng Sản lúc mới 29 và 27 tuổi, sau này nhiều tuổi hơn, nghiên cứu nhiều hơn, chín hơn, đã có lần Marx nhấn mạnh kinh tế cổ phần và sở hữu xã hội sẽ chi phối xã hội tương lai, coi đó là con đường thay đổi của kinh tế tư nhân. Có thời kỳ ta hiểu chuyên chính vô sản như giải pháp thay thế những mặt còn thiếu trong trình độ phát triển để đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển của CNTB mà thực chất là duy ý chí. Tất nhiên không chuyện gì phải đi trở lại từ đầu cái thời kỳ CNTB hoang dã mà các nước tư bản cũng đã bỏ qua. Đồng thời với đó ta lại hiểu đấu tranh giai cấp sẽ quyết định sự phát triển của lịch sử - đây cũng là ý kiến tả khuynh, mặc dù trong lịch sử của nhân loại cũng có những cuộc đấu tranh giai cấp dẫn đến bước nhảy vọt tiến lên, nhưng không phải đại diện cho tất cả lịch sử. Chính Marx và Lenin đã từng nhất quán trong tư duy rằng chỉ có công cụ lao động được cải tiến và năng suất lao động xã hội cao hơn mới là yếu tố quyết định đối với con đường tiến lên. Trước đây đã có một thời kỳ ta hiểu kinh tế Kế hoạch hóa tập trung là CNXH, ai nói đến kinh tế thị trường bị coi là xét lại và sai lầm chệch hướng, sau đó qua thực tế của Liên-xô và cả phe XHCN bất ổn và sụp đổ nên ta đã đổi lại tư duy, coi kinh tế thị trường mới có thể tiến lên và đó là cuộc cải cách và đổi mới cho đến ngày nay. Chọn kinh tế thị trường để đi lên CNXH là đúng rồi, không cần cứ nhất thiết phải có cái đuôi định hướng XHCN mới yên tâm là không chệch hướng. Kinh tế thị trường là vấn đề khách quan và nền kinh tế nào rồi cũng phải có vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước chứ không phải thị trường tư do hoàn toàn như các trường phái nào đó ở phương tây thường nhấn mạnh. Đừng để ý kiến chủ quan duy ý chí của người lãnh đạo, quản lý vĩ mô chi phối vào kinh tế thị trường để nó không còn là nó như sự khách quan vốn có, mà trở nên biến dạng, biến chứng, dẫn đến chệch hướng đi. Đừng để cái đuôi “định hướng XHCN” ấy không giúp cho ta giữ đúng hướng khách quan như mong muốn mà ngược lại sẽ làm cho chệch hướng XHCN vì nó tác động trái với quy luật tự nhiên.
5/ Về nền tảng tư tưởng: Đảng CSVN lâu nay nhất quán lấy Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Tư tưởng HCM thì có sự nhất trí cao của cán bộ, đảng viên và nhân dân, ít ai có ý kiến vào ra. Nhưng Chủ nghĩa Mac-Lenin thì còn không ít ý kiến khác nhau, nói ra nói vào, và ngày càng không ít trí thức không đồng tình. Tôi biết trong số đó cũng có người cực đoan, một chiều, tất nhiên rồi, nhưng mặt khác lại không phải hoàn toàn như vậy. Đây là vấn đề khoa học. Đáng lẽ ta nên lắng nghe và thảo luận, tranh luận bình đẳng để làm rõ các giá trị khoa học và nhân văn đang nằm ở đâu, nhưng ta lại hành xử bằng sự quy chụp những người có ý kiến khác ấy là chệch hướng, là phản động xét lại. Một vấn đề khoa học đã bị chính trị hóa và điều này lại làm mất lòng tin trong một bộ phận không ít trí thức. Tôi cho rằng loại bỏ hoàn toàn hay tuyệt đối hóa tư tưởng Marx-Lenin đều là cực đoan, không khoa học. Cách đúng là lựa chọn tinh hoa - các giá trị nhân văn và giá trị khoa học, chính cái đó mới tồn tại khách quan và lâu bền, chứ không phải duy ý chí, càng không nên chính trị hóa vấn đề khoa học. K.Marx đã mất lâu rồi, không còn sống để trực tiếp bảo vệ chính kiến của mình và lúc đương thời ông cũng không có khi nào nắm quyền lực nhà nước, vậy mà đến nay thế giới vẫn còn nhắc lại các quan điểm của ông, giảng dạy về tư tưởng học thuyết của ông ở các giảng đường đại học, kể cả ở các nước Phương Tây và Phương Đông, theo xu hướng XHCN và TBCN. Ngôi mộ của ông ở nước Anh, gần Luân-Đôn, cách đây không lâu chúng tôi có đến và chứng kiến người ta đã đặt hoa tươi lên đó nhiều nhất so với các ngôi mộ khác trong nghĩa trang quý tộc này. Thế là ông vẫn “sống”, vẫn trường tồn đấy thôi. Nói điều ấy để chứng tỏ rằng trong tư tưởng của Marx có những giá trị văn hóa nhất định vẫn trường tồn. Hãy để cho các giá trị ấy tồn tại một cách khách quan bình đẳng với các tư tưởng của các trường phái khác mà không cần bất kỳ một sự ưu tiên chính trị nào.
Ở bất kỳ một nhà khoa học nào về lĩnh vực khoa học xã hội, dù là vĩ nhân, dù có uyên bác và thông thái đến đâu, cũng không có ai nói bất cứ điều gì cũng đều đúng cả khi thời gian và lịch sử đã đi qua. Nếu cứ suy nghĩ vậy thì không phải duy vật và biện chứng mà là duy tâm và siêu hình. Vậy nên, không thể lấy tất cả ý kiến của bất kỳ ai để làm nền tảng tư tưởng, mà chỉ có thể lấy phần tinh hoa trong tư tưởng của họ. Thế phần nào là tinh hoa, còn phần nào không phải là tinh hoa? Muốn biết đâu là tinh hoa thì chỉ có cách thực hiện phản biện khoa học - loại hoạt động thường xuyên của các nhà khoa học để làm rõ vấn đề. Nếu độc tôn một lý thuyết nào rồi không cho ai phản biện, cứ chấp nhận đó là chân lý mãi mãi, học thuộc lòng và cứ thế mà thực hiện, thì đến một lúc nào đó sự thất bại là không tránh khỏi. Kiên định về tư tưởng là sự kiên định với các giá trị khoa học và nhân văn của tư tưởng ấy. Như thế mới đúng tư duy biện chứng của K.Marx. Đương thời, Marx không nhận mình là người Mac-xit, ông nói ông không viết chủ nghĩa mà chỉ dự báo khoa học, đời sau cần tiếp tục thảo luận để bổ sung, phát triển. Với tư duy đó, ông khoa học hơn nhiều so với các đồ đệ của ông. Nền tảng tư tưởng của một tổ chức cách mạng thật sự nên là (phải là) tinh hoa văn hóa của dân tộc, nhân loại và tri thức thời đại. Trong đó, có phần tinh hoa văn hóa của Marx, Lenin, và đặc biệt là của Hồ Chí Minh.
6/ Phát triển phải là mục tiêu quan trọng nhất trong thời bình. Không có mục tiêu nào có thể quan trọng hơn mục tiêu phát triển. Trước đây nước ta nhiều lần bị xâm lăng, nhiều nhất là từ Phương Bắc, nguyên nhân chủ yếu không phải do ta thiếu anh hùng mà là do ta không phát triển, bị lạc hậu so với thiên hạ. Mất nước rồi thì người Việt Nam bằng sự anh hùng đã chiến đấu lấy lại nước. Lấy lại được nước rồi, nhưng lại tiếp tục không phát triển được, nguyên nhân mất nước vẫn chưa được giải quyết, và lại mất nước lần nữa. Cứ thế, lịch sử đã lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy. Cho nên, muốn giữ được nước nhất định phải phát triển. Ngày nay thế giới đã khác xưa, nếu lạc hậu thì sẽ mất độc lập dân tộc, cũng là mất nước, có thể bằng một cách khác, không hẳn là phải có sự thắng thua của một cuộc chiến tranh như ngày xưa, mà có khi chỉ bằng con đường hòa bình, không tốn súng đạn, không cần đổ máu, mà chỉ bằng cạnh tranh kinh tế. Lệ thuộc kinh tế rồi dần dần lệ thuộc chính trị, bởi chính trị là sự tập trung của kinh tế.
Muốn có CNXH thì cũng chỉ có phát triển mới đạt được. Lạc hậu không bao giờ đến được CNXH. CNXH là kết quả tất yếu của một sự phát triển ở trình độ cao chứ không phải là ý muốn chủ quan của bất kỳ ai. Có ý kiến rằng, phát triển mà sai đường thì sẽ chệch hướng XHCN, sẽ tự phát đi tới CNTB. Nhưng thế nào là đúng hướng và sai hưởng? Đúng sai là khách quan, được thực tế cuộc sống kiểm nghiệm, chứ không phải ý chí chủ quan của bất kỳ ai. Tiêu chuẩn quan trọng nhất để nói đúng hướng hay sai hướng là sự phát triển trên thực tế. Các nhà kinh điển nhiều lần đã nhấn mạnh thực tiễn kiểm nghiệm chân lý. Theo đó, sự phát triển bền vững là minh chứng cho một đường lối đúng đắn, còn không phát triển được, bị tụt hậu so với thiên hạ chính là sự chệch hướng.
Đối với mục tiêu phát triển thì quan trọng nhất là sự phát triển của con người. Các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị, ngoại giao…đều do con người thực hiện, là sản phẩm của con người. Khi con người phát triển thì mọi thứ sẽ phát triển theo. Khi con người chậm phát triển thì mọi thứ cũng sẽ tụt hậu. Tất nhiên sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế xã hội cũng sẽ tác động trở lại đối với sự phát triển của con người, nhưng đó là mặt thứ 2 của mối quan hệ con người và công việc. Cần làm gì để cho con người phát triển? Giáo duc, văn hóa, khoa học là loại hoạt động thúc đẩy trực tiếp sự phát triển của con người. Tất nhiên đó là nền giáo dục mở, khai sáng, chứ không phải bảo thủ hay nhồi sọ; là văn hóa nhân bản và phát triển, chứ không phải cổ hủ; khoa học xã hội và nhân văn về con người; khoa học chính trị về tự do, dân chủ và nhà nước pháp quyền…Trong tất cả các hoạt động ấy đều liên quan vấn đề tự do tư tưởng và tự do thể hiện chính kiến-ngôn luận. Sự tự do ấy đem lại sự độc lập và phát triển của tư duy - phần quan trọng nhất trong sự phát triển của con người, đồng thời từ đó mà xây dựng tính trung thực, lòng nhân ái và sự cầu thị - những đức tính quý giá nhất trong hệ giá trị về nhân cách. Đối với lĩnh vực khoa học xã hội, con đường để tiếp cận chân lý khách quan chỉ có thể là sự trao đổi bình đẳng giữa các ý kiến khác nhau, chứ nhất định không phải là sự áp đặt, quy chụp về quan điểm. Khi không được tự do thể hiện chính kiến mà dễ bị “quy chụp” về quan điểm thì dẫn đến không dám nói thật suy nghĩ của mình, và vì vậy mà hình thành thói quen không trung thực. Khoa học tâm lý cho rằng nói dối là vũ khí tự vệ của con người hoặc là tính cơ hội.
7/ Sở hữu ruộng đất và quan điểm về thành phần kinh tế đúng hay chưa đúng là việc vô cùng hệ trọng đối với sự phát triển của đất nước. Từ thời phong kiến, nước ta đã có đa sở hữu về ruộng đất. Trong đó có công và tư, có đất của vua, của làng và của tư nhân. Qua thực tiễn của các thời kỳ trước, kể cả trong và sau phong kiến, đã cho thấy tính ưu việc của sở hữu tư nhân trong khai khẩn, sử dụng hiệu quả và quản lý tốt tư liệu đất đai. Thuở xa xưa, cần có vai trò của cộng đồng làng trong bảo vệ mùa màng, chống thú dữ và chống xâm lăng lãnh thổ nên xã hội đã có lúc phổ biến hình thức sở hữu công cộng về đất đai. Đến khi có sở hữu tư nhân đã tạo ra một động lực rất quan trọng trong hoạt động kinh tế. Trong cách mạng, Đảng và Nhà nước có lúc đã chia ruộng đất cho dân nghèo, thực hiện “người cày có ruộng”. Chủ trương đó đã tập họp hàng triệu nông dân cho công cuộc kháng chiến vệ quốc. Sau này, có lúc do yêu cầu hợp tác trong sản xuất nông nghiệp nên đất đai đã được tập thể hóa. Khi tập thể hóa kiểu cũ đã làm cho việc sử dụng ruộng đất kém hiệu quả, việc quản lý cũng lỏng lẽo nhiều và trong nhân dân đã xuất hiện những ý kiến không đồng tình với chủ trương hợp tác hóa kiểu ấy. Họ bảo ngày xưa thì người cày có ruộng, thời nay thì người cày mất ruộng. Khi có chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 về khoán trong nông nghiệp, nhiều người hoan nghênh và họ nói rằng, khoán 100 tốt hơn rất nhiều so với trước, khoán 10 tốt hơn khoán 100, nếu thực hiện tiếp khoán 1 thì sẽ tốt hơn nữa và giải thích khoán 1 tức là trả ruộng đất về cho nông dân để họ tự làm ăn và nộp thuế. Có lúc hàng loạt nông trường của nhà nước ra đời, nhưng về sau nhìn lại nói chung không hiệu quả. Những năm gần đây các nhóm lợi ích đã dựa vào sơ hở của cách quản lý đất đai như hiện tại để tham nhũng chia nhau và trong xã hội đã có đến 85% các vụ khiếu kiện đông người xuất phát từ vấn đề tiêu cực đất đai.
Cần đổi mới quy định về sở hữu đất đai theo hướng đa sở hữu, có đất công và đất tư; đất của nhà nước, của tư nhân, của tập thể cộng đồng theo quy định của pháp luật. Ví dụ đất có hầm mỏ, khoáng sản quý, biển và sông hồ, có rừng quốc gia, nơi các công sở làm việc, doanh trại quân đội, công trình quốc phòng…thuộc sở hữu nhà nước; đất ở, đất vườn, đất sản xuất nông nghiệp… thuộc sở hữu tư nhân. Việc thừa nhận đa sở hữu về đất đai cũng phù hợp với chủ trương kinh tế nhiều thành phần, vì đất đai là một trong các tư liệu sản xuất chủ yếu - cái cốt vật chất của phương thức sản xuất.
Trong Tuyên ngôn Cộng Sản, Marx và Engghen có viết đại ý rằng phải xóa bỏ sở hữu tư nhân vì nó sinh ra bóc lột và công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng chi phối của xã hội tương lai (CSCN). Tư tưởng này chi phối một thời gian dài, cho đến nay việc định kiến với sở hữu tư nhân đã giảm đi cơ bản, nhưng sự nhấn mạnh công hữu vẫn còn. Và chính điều này đã ảnh hưởng đến quan điểm cải tạo Công Thương nghiệp và hợp tác hóa Nông nghiệp trước đây, về kinh tế nhà nước là chủ đạo cho đến nay. Khi viết tuyên ngôn CS Marx và Engghen mới 29 và 27 tuổi như đã nói, mấy chục năm sau này các ông đã tiếp tục nghiên cứu nhiều, uyên bác hơn, “chín” hơn, có lúc Marx đã nhấn mạnh sở hữu xã hội và kinh tế cổ phần sẽ có vai trò lớn và tính phổ biến trong tương lai. Tôi nghĩ điều này ông nói đúng. Sở hữu xã hội và kinh tế cổ phần xuất hiện trên cơ sở phát triển của sở hữu và kinh tế tư nhân, chứ không phải phủ định, loại bỏ chúng. Khi kinh tế tư nhân phát triển đến một mức độ nhất định, tự nó sẽ vượt qua ranh giới của chính nó, thì sinh ra kinh tế cổ phần. Kinh tế cổ phần gắn với sở hữu xã hội, không loại bỏ mà song hành với kinh tế tư nhân, hỗ trợ lẫn nhau, chuyển hóa qua lại, là bước tiến bước lùi trong kinh tế thị trường.
8/ Xây dựng nhà nước pháp quyền thực chất là hướng rất đúng đắn, nhất là ở các nước từ chế độ quân chủ đi lên. Nhưng đó phải là pháp quyền của tư tưởng dân quyền, do dân thật sự làm chủ, chứ không phải là pháp quyền của quân chủ (từ lâu Tần Thủy Hoàng đã nói đến pháp quyền của vua), cũng không phải pháp quyền của các tập đoàn tài phiệt. Với nhà nước ấy, không có cá nhân ai, không có tổ chức nào, được đứng trên pháp luật. Đảng CSVN đã khẳng định các tổ chức đảng khi hoạt động phải tuân theo pháp luật. Đó là quy định đúng đắn, nhưng trong thực tế không tránh khỏi trường hợp tổ chức và cá nhân này-kia nhân danh đảng lãnh đạo, đã không tuân theo pháp luật đầy đủ và nghiêm minh. Việc xây dựng một hiến pháp và các luật thể hiện đầy đủ tinh thần dân chủ (dân làm chủ, dân lập hiến, nhà nước của dân, mọi quyền lực đều của dân…) và có tòa án Hiến pháp là rất cần thiết.
Quyền lực là của dân, nhà nước và cán bộ nhà nước được nhân dân ủy quyền một số việc, dân ủy quyền nhưng không mất quyền, ủy quyền và có thể lấy lại khi không còn tin tưởng nữa. Một số công việc dân sẽ trực tiếp thực hiện mà không ủy quyền cho cơ quan nhà nước, phải có luật về quyền phúc quyết của nhân dân, trưng cầu dân ý. Bên được ủy quyền không lạm quyền, không lộng quyền. Quyền lực luôn có hai mặt, nó là công cụ sắc bén và hữu hiệu nếu giao đúng cho người có nhân cách tốt, đồng thời mặt trái là nó làm tha hóa cán bộ và bộ máy. Nếu quyền lực bị lộng quyền vì mục đích cá nhân thì cả cơ đồ có thể sụp đổ. Vì vậy, kiểm soát quyền lực là yêu cầu tất yếu của bất kỳ bộ máy quyền lực nào. Trong kiểm soát quyền lực có vai trò quan trọng nhất của việc kiểm soát bằng quyền lực nhà nước, cơ chế dân chủ và xã hội dân sự. Để kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, vào cuối thời kỳ phong kiến ở Châu Âu, các nhà nghiên cứu đã đề xuất ra mô hình “Tam quyền phân lập” và sau đó được nhà nước tư bản áp dụng ở phương tây, rồi tiếp theo là phương đông. Chúng ta cần nghiên cứu thấu đáo mô hình này để tìm trong đó các giải pháp hợp lý về kiểm soát quyền lực, chứ không nên định kiến với khái niệm này. Thực ra nó chẳng phải “phân lập” gì đâu. Đều thống nhất ở một hiến pháp và thực hiện phân quyền cho 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp tương đối cân bằng để kiểm soát chéo lẫn nhau (thay cho thời phong kiến nhánh hành pháp được tập trung cao nhất, chỉ huy luôn cả các nhánh kia). Để kiểm soát quyền lực người ta còn có tòa án hiến pháp. Kiểm soát quyền lực bằng dân chủ - đó là quyền tham chính của người dân, tăng vai trò của báo chí và phát huy vài trò của các tổ chức dân sự. Lâu nay nhiều người đã nói đến xã hội dân sự, nó không phải là hình thái kinh tế xã hội, không phải là tổ chức phi pháp, đối lập, mà thực chất là một phương thức dân chủ. Ở VN ta đã có các tổ chức dân sự từ lâu rồi, làng là một trong số đó, nó đã đóng vai trò rất quan trọng cả trong giữ nước, và hiện nay cũng đang tiếp tục ra đời các tổ chức ấy (dân sự) như một việc không thể khác.
9/ Thay đổi phương thức lãnh đạo và quản lý là việc hết sức cần thiết, đã nói nhiều nhiệm kỳ rồi, nhưng đến nay cơ bản vẫn chưa thay đổi được. Khi chưa có chính quyền, Đảng lãnh đạo bằng các giá trị văn hóa. Đề ra mục tiêu cách mạng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và truyền thống văn hóa của dân tộc, thuyết phục bằng lẽ phải và đạo lý, nêu gương bằng nhân cách và sự hy sinh. Với phương thức lãnh đạo như vậy, Đảng đã tập họp được cả dân tộc đứng lên giành độc lập và liền sau đó là các cuộc chiến tranh vệ quốc gian lao và ác liệt. Vậy là Đảng đã trở thành một đảng lãnh đạo dân tộc bằng các giá trị văn hóa và phương thức thuyết phục, chứ không phải bằng mệnh lệnh và quyền lực hành chánh. Ngày đó đâu đã có chính quyền mà sử dụng quyền lực. Sau khi có chính quyền, lập ra nhà nước, dần dần phương thức lãnh đạo của Đảng đã thay đổi, các tổ chức của Đảng sử dụng quyền lực hành chánh để lãnh đạo, nên có người gọi đó là cai quản, cai trị, là một kiểu “nhà nước” đứng trên nhà nước. Không ít lần ra nghị quyết hay chỉ thị của Đảng thường với tinh thần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng mà thực chất phần nhiều là bao sân, làm thay nhà nước các thứ việc, kể cả bao cấp về tư tưởng.
Cần phải đổi mới căn bản phương thức lãnh đạo theo hướng phát huy kinh nghiệm của ngày xưa, lãnh đạo bằng thuyết phục, bằng các giá trị văn hóa là chính, và chăm lo xây dựng nhà nước thật sự của dân, để nhà nước ấy sử dụng pháp luật mà quản lý đất nước, Đảng không bao biện làm thay và lộn sân của nhà nước. Khi Đảng trực tiếp sử dụng quyền lực nhà nước và lại không đủ cơ chế kiểm soát quyền lực thì Đảng thoái hóa là một tất yếu, khó mà ngăn được. Phương châm “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và dân làm chủ” xét về mặt từ ngữ thì không có gì sai, nhưng lãnh đạo như thế nào, quản lý như thế nào và làm chủ như thế nào thì còn nhiều vấn đề chưa rõ, phải bàn tiếp. Lãnh đạo và quản lý như thế nào đó thì dân mới làm chủ được, còn lãnh đạo và quản lý cách khác thì dân không thể làm chủ gì được. Nên chăng, tốt hơn, có thể diễn đạt là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý để bảo đảm cho nhân dân làm chủ”, tức là sự lãnh đạo và quản lý ấy phải nhằm mục đích để nhân dân thật sự làm chủ đất nước và xã hội.
10/ Cán bộ quyết định thành bại là câu tổng kết đúng thực tiễn. Sáu nhiệm kỳ trước đây Nghị quyết của Đảng đã nói công tác tổ chức cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Nhận thức sớm như vậy nhưng tiếc là trên thực tế công việc thì chuyển biến rất chậm. Suốt mấy nhiệm kỳ nay chỉ mới có một việc tiến bộ đáng nói là danh sách bầu cử có số dư nhưng vẫn làm chưa đến nơi đến chốn, bầu cử chủ chốt phần nhiều vẫn còn một bầu một. Nhiệm kỳ XII này lãnh đạo Ban Tổ chức TW có quyết tâm hăng hái đổi mới công tác cán bộ, trong đó có việc kiểm soát quyền lực và bổ sung sửa đổi một số quy trình. Nhưng nhìn chung suốt nhiều nhiệm kỳ, công tác cán bộ cơ bản vẫn cách làm như vậy - sắp đặt. Ta nói Đảng trực tiếp nắm công tác cán bộ thực chất là Đảng sắp xếp và phân công. Nhiều lần tôi đã nói, sự sắp đặt cán bộ như kiểu ta làm lâu nay thì dễ bị tính chủ quan, “hôn nhân cận huyết” và không tuân theo quy luật chọn lọc tự nhiên. Quyền lực luôn có mặt thứ hai là tha hóa, nhất là khi chưa đủ cơ chế kiểm soát. Quyền lực tha hóa ngay trong khâu sắp xếp, phân chia quyền lực. Một cháu bé mới đi học lớp 1 về nhà bảo ông ngoại: Ông ơi, ông “chạy” cho cháu làm lớp trưởng. Vậy là tiêu cực đã vào trong văn hóa và giáo dục, không khéo nó sẽ truyền nối sang đời sau.
Cần đổi mới căn bản công tác cán bộ, bắt đầu từ phương pháp lựa chọn. Thay vì sắp đặt thì nay chuyển sang tranh cử, mà tranh cử thực chất chứ không phải hình thức, không phải “quân xanh quân đỏ”, không phải sắp xếp để bí thư-chủ tịch HĐND tỉnh liên doanh với cán bộ trưởng phòng của cấp sở. Người tham gia tranh cử phải tự nguyện ra ứng cử, đừng để sau này khi không hoàn thành nhiệm vụ bị phê phán thì bảo là do tại cấp ủy phân công. Ứng cử viên phải trình bày chương trình hành động, tranh luận công khai trực tiếp với ứng cử viên khác. Trước đó là mở rộng dân chủ trong ứng cử đề cử. Có ý kiến hỏi vậy thì tổ chức đảng lãnh đạo công tác nhân sự như thế nào? Lãnh đạo chứ đâu phải áp đặt. Sự lãnh đạo ấy bảo đảm cho cuộc bầu cử thật sự dân chủ, minh bạch, không có gian dối, không có “lợi ích nhóm” mua bán đổi chác; lãnh đạo về tiêu chuẩn và phát hiện nhân tài để giới thiệu ra tham gia tranh cử bình đẳng với các tổ chức đoàn thể khác.
Trong lý luận của Marx có nói lãnh đạo cách mạng nên là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất. Lý luận ấy có cơ sở khoa học, nhưng sau đó tiếp tục phát triển và cho rằng giai cấp tiến bộ nhất trong thời kỳ tư bản đại công nghiệp là giai cấp công nhân. Sự phát triển này không sai nhưng chưa đầy đủ. Một mình giai cấp công nhân không thể tạo ra phương thức sản xuất đó, mà phải cộng với vai trò của các nhà tư bản với tư cách là những người tổ chức và quản trị các cơ sở sản xuất kinh doanh. Vậy mà trước đây có thời kỳ ta đã định loại bỏ vai trò của họ. Trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, vai trò của tầng lớp trí thức có ý nghĩa quyết định và sẽ tiếp tục ngày càng quan trọng hơn. Cho nên rất cần thiết phải nâng vai trò của tầng lớp ấy (trí thức) lên trong lãnh đạo cách mạng, cộng với vai trò của công nhân hậu công nghiệp và các doanh nhân yêu nước, gương mẫu để tham gia dẫn dắt cộng đồng.
Ta yêu cầu cán bộ phải học Hồ Chí Minh là đúng, nhưng cách làm nào cho hiệu quả, không lang mang và hình thức thì cần phải tiếp tục suy nghĩ. Tư tưởng HCM tựu trung lại một điểm quan trọng nhất là “Dân là gốc”. Trước HCM, từ thời nhà Trần, nhà Lê đã có tư tưởng “Dân vi bản”. Cũng dân là gốc nhưng khác nhau cơ bản ở chỗ đó là thần dân, dân của trẫm, còn chỉ có vua mới là chủ. Tư tưởng HCM coi dân là người chủ, làm chủ, nắm mọi quyền lực. Đạo đức HCM là vì dân. Người nói “Tôi hiến dâng đời tôi cho dân tộc tôi” và suốt đời Người đã phấn đấu để làm như vậy. Phong cách HCM là trọng dân. Người bảo phải kính trọng và lễ phép với nhân dân (chứ không phải cai trị, ức hiếp hay quan liêu hách dịch). Vậy học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách HCM tựu trung lại là sống với dân. Một chữ DÂN viết hoa và in đậm. Đó là việc quan trọng nhất, tập trung vào đó để học và làm cho thật tốt, còn các giá trị khác thì để giành cho công việc nghiên cứu và triển khai theo các chuyên đề phù hợp. Học tập HCM không nên theo kiểu một phong trào chính trị rộng lớn và mạnh mẽ, mà phải là một loại hoạt động văn hóa chiều sâu. Không cần phải nói nhiều dễ gây nhàm chán, mà phải chuyển tải và làm lan tỏa các giá trị gây xúc động lòng người, còn chủ yếu là làm - bằng hành động thực tế.
Nhân cách quan trọng nhất của người cán bộ là tính trung thực. Không có trung thực thì không có trung thành và dễ chuyển thành kẻ cơ hội. Không có tự do tư tưởng và ngôn luận thì cũng không có trung thực, vì người ta nói ra những suy nghĩ thật của mình họ sợ bị quy chụp quan điểm. Nói dối là vũ khí tự vệ mà. Có trung thực sẽ có tự trọng. Có tự trọng sẽ ít tham nhũng và suy thoái ./.
Quảng Nam ngày 29.7.2020

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

BÁC HỒ VỚI BÓNG ĐÁ

 BÁC HỒ VỚI BÓNG ĐÁ

--------

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến ngành Thể dục thể thao, đặc biệt là môn bóng đá. Theo nhiều tư liệu, Bác là người đề xuất và dự trận đấu bóng đá đầu tiên của nước VNDCCH vào ngày 8/3/1946 tại sân vận động Hàng Đẫy giữa đội Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu và đội Vệ quốc đoàn, và là “ cầu thủ đầu tiên” chạm vào trái bóng trong làng túc cầu Việt Nam …

Rồi nữa; trong hồi ức của mình, cố Giáo sư Nguyễn Xiển kể lại một kỷ niệm vui về Chủ tịch Hồ Chí Minh với bóng đá. Có lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến sân Hàng Đẫy xem trận đấu giao hữu giữa Thể Công và Cu Ba, đúng vào thời kỳ giặc Mỹ đánh phá ra miền Bắc. Khi đó, quân và dân cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) chiến đấu rất kiên cường khiến giặc Mỹ không sao ném bom trúng cây cầu huyết mạch Bắc – Nam này.

Thấy Thể Công đã bí về chiến thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh cười nói với Đại tướng Văn Tiến Dũng ngồi bên:

- Cái anh Thể Công này cứ như máy bay Mỹ, ném bom trượt hết!


Hình ảnh có thể có: 13 người

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các ông Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Tôn Quang Phiệt, Lê Văn Hiến xem trận đấu bóng đá hữu nghị giữa đội tuyển Phnômpênh (Campuchia) và đội tuyển Hải Phòng tại sân vận động Hàng Đẫy ( Hà Nội ) ngày 24-8-1958
Hình ảnh có thể có: 8 người, mọi người đang ngồi và đám đôngChủ tịch Hồ Chí Minh dự buổi biểu diễn Bế mạc Đại hội TDTT lấn thứ Nhất tại sân vận động Hàng Đẫy – Hà Nội ngày 5-2-1961.
------------------
Trong ảnh có thể thấy các ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Văn Lương, Tố Hữu, Nguyễn Văn Trân, Hoàng Minh Giám…

GS Tạ Quang Bửu nói về Bác Hồ (1969)

 Giáo sư TẠ QUANG BỬU, là một nhà khoa học lớn, ông là người đặt nền móng cho lĩnh vực khoa học kỹ thuật Việt Nam; sau Cách mạng tháng Tám 1945, từ Huế ra Hà Nội, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao làm Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao, trực tiếp làm thư ký, giúp việc cho Bác.

Năm 1946 ông tham gia đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, rồi Hội nghị Fontainebleau ở CH Pháp. Năm 1947 ông được Chủ tịch Hồ Chí minh giao trọng trách làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 1954, ông là người đại diện cho Tổng tư lệnh QĐNDVN ký văn bản Hiệp nghị Genève đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào ở Thụy sỹ.

Sau khi miền Bắc hòa bình, giáo sư Tạ Quang Bửu chuyển sang lĩnh vực khoa học giáo dục, được cử làm Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội, đồng thời là Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Ông là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

Ông đã có nhiều công lao to lớn cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc cũng như nền khoa học nước nhà.

Bài viết trên tường nhà anh Tạ Chính, Thiếu tướng, con trai cố giáo sư Tạ Quang Bửu kể về những hồi ức của cha trong những năm tháng được sống và làm việc bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh
------------

Sắp đến sinh nhật cha, tôi đọc lại những dòng viết của ông và thấm thía nhiều điều, đặc biệt là việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Ngày 12/9/1969, mười ngày sau khi Bác Hồ mất, cha tôi viết dòng sau đây ở trang đầu của cuốn Sổ tang Bác của riêng ông để ghi nhớ :

“…Tôi là một nhà toán học hụt. Nhờ Bác và Đảng tôi đã có giúp ích ít nhiều cho Đảng và Nhà nước. Nếu không có tư tưởng cá nhân, tôi còn có thể giúp nhiều hơn nữa”.

Những ngày sống gần Bác ở Hà Nội, đặc biệt là gần Bác trên chiến khu, cha tôi đã học ở Bác Hồ rất nhiều điều của người hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Ngoài những kinh nghiệm thu được khi làm thư ký của Bác, trong từng hành động, việc làm và suy nghĩ của Bác từ cái nhỏ nhất đều phải học hỏi và rèn luyện.

- Về tác phong : Cha tôi thấy Bác ở đâu, làm gì cũng không để lại dấu vết vật chất, chỉ để lại tình luyến tiếc, kính phục, người cho mình trọ cũng không nỡ và không biết gì để báo với địch. Bác làm việc rất khoa học, không thiếu, nhưng cũng không thừa. Trên bàn làm việc chỉ có cái máy chữ, còn chai mực và quản bút thì để trong ngăn kéo, có 4 cái ống tre ghi Thận (Trường Chinh), Tô (Phạm Văn Đồng), Văn (Võ Nguyên Giáp), Việt (Hoàng Quốc Việt) để công văn. Trong sổ chỉ thấy các con số, người ngoài không hiểu gì, nhưng Bác thì không quên ý nghĩa của chúng. Còn để kết luận một cuộc họp, với một mẩu giấy dài, vài cái gạch đầu dòng với nét bút chì xanh đỏ, khi bất trắc sẽ nhanh chóng phi tang. Bác sinh hoạt rất sạch sẽ vì, như Bác nói, không để vết tích, vì ý thức công cộng, vì nghèo mà mỗi người sạch một tý thì đời sống sẽ dễ chịu và nhất là sạch đồng nghĩa với không tư hữu. Bác nói vậy và kiểm tra rất chặt chẽ. Cái gì cần làm thì Bác làm, không nói, nhưng ai cũng biết vì Bác gương mẫu.

- Về cuộc sống phong phú : Những người có dịp dự các hội nghị của Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp ở ATK sẽ không thể quên những buổi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ mà Bác chủ trì sau các buổi họp hoặc giữa giờ giải lao. Bác không qua sinh hoạt Hướng đạo, nhưng hoạt động này rất gần với sinh hoạt Hướng đạo nên cha tôi rất thích. Bác chủ trì, lúc đóng vai trò như MC (dẫn chương trình) bây giờ, lúc lại phải giải thích, phân tích, dạy bảo nhẹ nhàng. Có hôm Bác tự kể chuyện cười của chính mình : Hồi đang hoạt động ở Hồng Kông, Trung Quốc, có lần đi thuyền trên sông, Bác dặn dò anh em cùng hoạt động bí mật với Bác, rằng trên thuyền không được nói với nhau bằng Tiếng Việt kẻo bị lộ. Nhưng không ngờ trên thuyền Bác hút thuốc, lại ngồi đằng mũi, tàn thuốc rơi vào quần người ngồi sau, Bác vừa vội lấy tay phủi, vừa nói : “Cháy! Cháy!”. Bác giật mình vì đã phát ra tiếng mẹ đẻ, song cũng may ở Trung Quốc cùng nói tiếng Hán nhưng dân tộc khác nhau, vùng khác nhau chưa chắc đã hiểu.

Bác biết mỗi người đều có tài lẻ, nên có hôm thì Bác chỉ định ông Phan Anh ngâm Kiều, lúc thì ông Lê Văn Hiến hát bội…. Có hôm, sau Hội nghị cán bộ lần thứ 6, ông Phan Mỹ ngẫu hứng đóng kịch “mã hồi”, tả ông Hoàng Quốc Việt đi công tác về. Vợ ông Việt nói cần vụ chuẩn bị một chậu nước để ông ấy lau rửa. Ông Việt xuống ngựa, chạy lại chậu nước, quay lưng lại, không biết rửa cái gì, chỉ biết ngay lập tức ông nhảy ngược lên vì nước nóng quá. Tối về, ông Việt gọi ông Phan Mỹ lên phê bình. Biết chuyện, lần sinh hoạt sau, Bác kể một chuyện khác : Ở Liên-xô có một ông tướng rất nóng nảy, hay quát tháo ầm ĩ, cấp dưới rất sợ. Một hôm xem kịch cùng với đ/c Stalin, trên sân khấu, một nghệ sĩ nổi tiếng Liên Xô đã hoá trang y hệt và đóng vai rất giống ông tướng đó. Màn chuẩn bị hạ, ông tướng chạy vội lên sân khấu. Ai cũng tưởng ông tướng này sẽ cho nghệ sĩ kia một trận ra trò. Nhưng ông ấy đã ôm chầm lấy người diễn viên và nói: “Không ai yêu tôi bằng anh. Có yêu tôi lắm mới quan sát kỹ tôi như vậy”. Đồng chí V thầm hiểu ý Bác. Rồi cả những hôm Bác còn “tranh luận” với Cụ Phạm Bá Trực (1989-1954) một linh mục yêu nước, là Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội nước Việt Nam DCCH khoá I, có 3 bằng tiến sĩ, về chủ đề vì sao chưa lấy vợ…

- Về tình cảm : Trong đời thường Bác đến nhà ai một lần là nhớ. Nhớ tên, nhớ hoàn cảnh, nhất là các ông bà lớn tuổi và các cháu trẻ thơ. Riêng gia đình chúng tôi, cha tôi nhớ, Bác đặt tên cho Vinh là “bang bạnh”, Chính là đứa ốm yếu, Quang là đứa được Bác rất thương, đặt là “xã xệ”, nhưng ít được nhắc tới vì nó đã tự lực được. Bác còn tặng mẹ tôi một đồng tiền vàng in hình Bác để nuôi các cháu.

Trong tiếp khách Bác luôn thể hiện là người mến khách, dù ở tầng lớp nào, không hình thức. Đó là vì Bác luôn mở rộng hai tay, vài câu hỏi rất đúng chỗ và người khách cũng muốn được hỏi. Đã mời thuốc thì đưa thuốc và bật diêm, mời uống trà thì phải nâng cốc. Đối với phụ nữ phương Tây, nên có một bông hoa.

- Về các công cụ làm việc như ngôn ngữ, ghi chép, đọc: Với Bác cần gì học nấy, học để làm, học với quần chúng, nhưng nội dung rất thanh tao. Học lấy những câu chung cho tất cả các ngôn ngữ và dùng đúng chỗ. Tiếng Anh của Bác không quý phái, cũng không thô, đúng là một thứ tiếng Anh … của Bác. Người Mỹ, người Anh và các nước khác nghe đều hiểu. Tiếng Việt của Bác cũng là tiếng của cả 3 miền, không của riêng miền nào và vùng nào nghe cũng thấu. Bác ở Trung Quốc lâu nên quen ghi chép bằng chữ Trung Quốc vừa gọn, đọc nhanh, mỗi chữ 1 ý lại không bị lộ, và sang nước khác thì Bác lại đóng là người Hoa vì người Hoa ở khắp nơi.

Cha tôi rất khâm phục tri thức của Bác. Bác biết rất rộng và sâu cổ văn Trung Quốc, các tôn giáo, kinh thánh cũng như Chủ nghĩa Mác Lênin. Bác rất nhớ các truyền thuyết của các dân tộc và những vấn đề lớn của khoa học tự nhiên đang đặt ra. Năm 1948, khi cha tôi viết và in xong cuốn “Nguyên tử, hạt nhân và vũ trụ tuyến”, Bác đọc lúc nào cha tôi không biết, nhưng Bác có đặt câu hỏi : - “Sao chú gọi là bom nguyên tử? Đúng ra là bom hạt nhân chứ!”.

- Những điều thuộc về nguyên tắc, trách nhiệm, Bác rất kiên quyết, thẳng thắn: Bác không bỏ qua mà phê bình rất nghiêm khắc những việc sau:

* Khi Bác vào mà mọi người trong hội nghị không đứng dậy là không tôn trọng, không phải vì cá nhân Bác, mà vì cương vị của Bác.

*Viết thư hoặc viết báo cáo lên cho Bác mà cẩu thả. Bác lấy ví dụ là hai đ/c T. và N.. Viết xong tự đọc lại không được thì ai đọc được.
Bác cho hai đồng chí mỗi người một quyển vở, yêu cầu tập viết trong hai quyển đó và Bác sẽ thường xuyên kiểm tra.

Với cách phê bình hoặc “mắng” của Bác với mình, cha tôi không bao giờ tự ái bởi sự chân tình và rất có ích cho những người cầu tiến. Trong Sổ tang Bác, cha tôi cũng đã viết : “Nhớ Bác nhất những lúc Bác phê bình mình. Phấn khởi và yêu Bác nhất cũng là những lúc đó”.

Từ ngày tham gia cách mạng đến lúc xuôi tay, Bác Hồ luôn là tấm gương cho cha tôi học tập, noi theo một cách tự giác, tự nguyện và cả tự hào, rất nghiêm túc và không một chút cầu lợi cho cá nhân./.

Hình ảnh có thể có: 12 người

Giáo sư Tạ Quang Bửu đại diện cho Tổng tư lệnh QĐNDVN ký văn bản Hiệp nghị Genève (Thụy Sỹ) đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào tháng 7-1954. (Ảnh tư liệu)

Hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Giáo sư Tạ Quang Bửu (ảnh bìa phải) bên linh cữu Chủ tịch Hồ Chí Minh 9-1969. (Ảnh tư liệu gia đình)

Hình ảnh có thể có: 9 người, mọi người đang đứng và ngoài trời

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quyền trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng (ảnh ngồi) với các Bộ trưởng tại Việt Bắc năm 1948. (Ảnh tư liệu gia đình)
-------------
Trong ảnh, hàng đứng từ trái sang phải: Bồ Xuân Luật, Nguyễn Văn Tạo, Võ Nguyên Giáp, Phan Mỹ, Lê Văn Hiến, Tạ Quang Bửu và Bùi Công Trừng





NGHĨ VỀ HẠNH PHÚC CUỘC ĐỜI - Chương 11 trong “TRẦN ĐỘ - TÁC PHẨM”

 NGHĨ VỀ HẠNH PHÚC CUỘC ĐỜI - Chương 11 trong “TRẦN ĐỘ - TÁC PHẨM”

“ Tôi biết cuộc sống có quy luật riêng của nó, có bước đi thích hợp của nó, “bước” sớm quá dễ mang họa mà bước chậm quá lại có tội với các thế hệ sau...” (Trần Độ)
========

TRẦN ĐỘ là vị tướng nổi tiếng của quân đội, văn võ song toàn. Trong kháng chiến chống Pháp ông là Chính ủy Đại đoàn 312 khi mới 27 tuổi, 32 tuổi ông là Chính ủy Quân khu, 35 tuổi ông được thăng quân hàm Thiếu tướng (1958).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trần Độ là Phó Chính ủy Quân giải phóng miền Nam, rồi Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thăng hàm Trung tướng (1974). Sau ngày đất nước thống nhất ông chuyển ra ngoài làm Thứ trưởng Bộ Văn Hóa kiêm Trưởng ban Văn hóa văn nghệ TW; rồi Phó Chủ tịch Quốc hội (khoá VII) …

Cuộc đời ông đầy thăng trầm, bể dâu… Có lẽ, nên để Lịch sử phán xét !

Xin trân trọng giới thiệu chương 11 trong “TRẦN ĐỘ - TÁC PHẨM - nxb Hội Nhà văn”

--------------------

Có lẽ sự kiện đáng ghi nhớ nhất sau Nghị quyết 05 là sự rạn nứt mối quan hệ giữa tôi và đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Có thể nói, trước Nghị quyết 05 mối quan hệ này ấm cúng bao nhiêu thì sau Nghị quyết giá lạnh bấy nhiêu. Đối với tôi đây là một điều đau xót, không chỉ trong việc chung mà cả tình cảm riêng tư.

Như các chương trên tôi đã nói, tình cảm giữa tôi với anh Nguyễn Văn Linh được xây đắp và gắn bó trong suốt mười năm ở chiến trường. Mười năm sau ngày giải phóng, hai chúng tôi lại cùng gặp nhau trên con đường đổi mới đất nước. Sự gặp nhau đó thực sự đã làm cho tôi vơi đi được một phần những phiền muộn sau Đại hội V của Đảng.

Đặc biệt, tình cảm giữa tôi và anh Linh càng gắn bó hơn trong quá trình chuẩn bị cho Nghị quyết 05. Có thể nói, ngoài những nguyên nhân khác thì hồi đó nếu không có Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh “đỡ đầu”, Nghị quyết 05 không thể ra đời một cách suôn sẻ như thế.

Hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sau Đại hội VI đối với văn nghệ sĩ và với cả toàn thể nhân dân ta sao mà đẹp thế. Chỉ riêng “Những việc cần làm ngay” anh đã để lại một dấu ấn sâu đậm không thể nào quên trong tình cảm biết bao nhiêu người. Đất nước như bước vào một thời kỳ mới sau hàng chục năm trời chìm trong không khí “im lặng đáng sợ”.

Còn đối với nền văn hóa văn nghệ nước nhà thì chỉ riêng cuộc gặp gỡ với hơn 100 văn nghệ sĩ trong hai ngày 6 và 7/10/1987 thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh xứng đáng được suy tôn như một người anh hùng, ít nhất là trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ. Tôi không đại ngôn đâu, không cường điệu đâu và càng không phải là nịnh hót đâu, khi tôi viết những dòng này. Ngày 28 tháng 11 năm 1997 tới là kỷ niệm tròn mười năm Nghị quyết 05 lịch sử. Nhớ lại những ngày đó tôi vừa cảm thấy hạnh phúc, vừa cảm thấy mênh mông một nỗi buồn...

Rất tiếc là ngày đó tôi không nghĩ đến việc cho quay một cuốn phim thời sự để ghi lại những giây phút không thể nào quên khi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đứng dậy rời chỗ ngồi bước đến đón nhận bản tham luận của nhà văn hóa nổi tiếng Nguyễn Khắc Viện, mặc dầu trong bản tham luận đó ông đã thẳng thắn nói lên những suy nghĩ của mình: - “Vì bị trói buộc, sự chỉ đạo trong lĩnh vực này thường là sơ khai, người ta dùng rìu khai phá rừng rú để làm vườn trên một thảm hoa. Các nhà báo, các văn nghệ sĩ đều được nhắc nhở quay lại trật tự, kỷ cương: phải làm thế này, phải làm thế kia. Họ đã bị trói tay chân bởi vô số cấm đoán. Đôi lúc lại nổ ra một vụ việc: Một bài báo, một quyển sách, một bộ phim bị quy là “xét lại”, “có tư tưởng chống Đảng”, “mang tính lật đổ”... Nhưng nếu như mọi sự phạm tội đều có thời hạn thi hành án theo đó khi người ta ta khỏi nhà tù thì hết tội, còn những “bản án văn chương” này thì cứ treo lơ lửng trên đầu tù nhân, trở thành một thứ buộc tội vĩnh viễn, đến nỗi còn chi phối tận đời con cháu họ...”.

Với những lời lẽ như vậy mà khi ông rời diễn đàn, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh lại xiết chặt tay ông giữa tiếng hoan hô vang dậy cả hội trường.

Đến lượt Dương Thu Hương, với bản tính bộc trực, thích nói thẳng những suy nghĩ của mình, không vòng vo tam quốc, cô đã tới tấp lên án lãnh đạo văn hóa văn nghệ của Đảng trong thời gian qua. Nghe Dương Thu Hương nói quá mạnh, tôi liếc sang Tổng Bí thư và cảm thấy hơi lo. Nhưng Tổng Bí thư vẫn nghe một cách chăm chú, không những thế lại ra chiều khuyến khích. Và cũng như đối với Nguyễn Khắc Viện, khi Dương Thu Hương rời micro, Tổng bí thư đã đứng dậy, nhanh nhẹn bước đến bắt tay cô, vui vẻ đón nhận bản tham luận của cô.

Trong buổi gặp mặt hôm đó, không chỉ có Nguyễn Khắc Viện, Dương Thu Hương phát biểu những lời “búa bổ”. Còn có rất nhiều tiếng nói khác, cũng hết sức gai góc, sắc sảo đã phát biểu công khai giữa hội trường, những lời nói mà trước đó, người ta chỉ dám nói nhỏ với nhau trong các quán cà phê, hoặc rì rầm với nhau bên hành lang của một cuộc họp. Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ phê phán “hệ tư tưởng độc quyền” “Chỉ một người đủ cung cấp tư duy cho mọi người và cứ một cái đầu lớn của lãnh đạo là nghĩ thay được cho mọi người”.

Nhà thơ Bằng Việt phê phán chủ nghĩa bình quân đang phá phách các tài năng, đề cao cái tầm thường, sự dễ dãi và ton hót cấp trên.

Cứ như thế, suốt hai ngày ròng rã, các nhà văn, các nghệ sĩ, các nhà hoạt động văn hóa có tên tuổi hào hứng thay nhau nói lên những bức xúc của bao nhiêu năm tồn đọng lại, nói một cách thoải mái, tự do, và người đứng đầu của Đảng cũng lắng nghe một cách chăm chú, thoải mái, hơn thế, nhiều lúc còn tỏ ra khuyến khích.

Nếu như Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khóa VI là một sự kiện lịch sử trong đời sống văn hóa văn nghệ của nước ta thì việc cả bộ máy Đảng và Nhà nước nhanh chóng cảm thấy cái gì đó chưa ổn của Nghị quyết 05 là điều bất ngờ và gây cho tôi cú “sốc”. Nguyên nhân vì đâu? Lực lượng nào đã làm nên làn gió ngược đó?

Có lẽ (tôi chưa dám khẳng định) nó được bắt đầu từ Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa VI, tháng 6/1988, nghĩa là chưa đầy một năm sau khi có Nghị quyết 05. Nói cụ thể là chưa đầy 7 tháng. Lần đó, trong bài phát biểu của mình, anh Linh có kết hợp phê phán một số tác phẩm văn nghệ, trong đó vở kịch “Em đẹp dần trong mắt anh” của Đoàn kịch Hà Nội. Cuối cùng anh Linh kết luận:

- Dân chủ phải có lãnh đạo, tự do không phải là vô bờ bến.

Trong ý kiến của anh Linh có toát lên một điều là sự lãnh đạo của Ban Văn hóa Văn nghệ có biểu hiện lỏng lẻo.

Tôi thấy cần thiết phải nhắc lại ở đây sự kiện vở kịch “Em đẹp dần trong mắt anh” để có thêm chứng cớ về sự lãnh đạo, quản lý văn nghệ hết sức tùy tiện của các cấp Đảng và chính quyền của ta.

Câu chuyện bắt đầu từ một cái giấy mời của Ban tuyên huấn Thành ủy Hà Nội do đồng chí Trưởng ban Vũ Hữu Ngoạn ký, mời tôi đến xem một vở kịch do đoàn kịch Hà Nội mới dựng. Tôi thấy lạ. Mọi lần giấy mời thường là do đoàn kịch, sao lần này lại là Ban tuyên huấn. Mặc dù vậy tôi vẫn vui vẻ nhận lời. Hôm ấy, buổi trình diễn được tổ chức ở Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô, rất gần nhà tôi nên cơm nước xong tôi thủng thẳng đi bộ đến. Vũ Hữu Ngoạn ra tận ngoài thềm đón tôi dẫn vào phòng khách. Rất lạ nữa, là khi bước vào tôi đã thấy anh Nguyễn Thanh Bình, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội ngồi sẵn đợi ở đấy rồi. Tôi nghĩ bụng hôm nay chắc là buổi duyệt chương trình, và họ mời mình chắc không ngoài mục đích xin ý kiến của Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, để khi đã quyết thì không bắt bẻ vào đâu được Từ lâu tôi vốn không đồng tình với cách làm này. Tôi phản đối việc một quan chức cấp trên, có khi là người không am hiểu mấy về văn hóa văn nghệ lại quyết định số phận những tác phẩm mà tác giả của nó phải tốn bao nhiêu công sức mới có được. Vì vậy, khi nghe Vũ Hữu Ngoạn nói:

- Đoàn kịch Hà Nội có một vở kịch mới dựng, mời các anh đến xem và cho ý kiến.

Tôi nói ngay:

- Mời đi xem thì tôi đi chứ ý kiến thì chưa có đâu. Cứ diễn đi rồi lắng nghe ý kiến của quần chúng trước đã. Theo tôi ý kiến quần chúng là quan trọng nhất.

Nghe tôi nói, Nguyễn Thanh Bình chỉ cười, không ra nhất trí nhưng cũng không phản đối, nói với Vũ Hữu Ngoạn:

- Cứ cho diễn đi rồi chúng ta sẽ có ý kiến sau.

Tôi quen biết Nguyễn Thanh Bình từ khi bị tù ở Sơn La, và từ hồi kháng chiến chống Pháp. Ở Điện Biên Phủ anh là Cục trưởng Cục Quân lương, còn tôi là Chính ủy Đại đoàn 312. Sau Điện Biên Phủ tôi là Chính ủy Quân khu còn anh là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, có thời gian là Bộ trưởng Bộ Thủy lợi. Kể cuộc đời cũng lắm chuyện lạ: Một người chuyên lo việc cơm áo cho quân đội về sau trở thành một quan chức cao nhất của một thành phố lớn, Thủ đô Hà Nội, với bao nhiêu công việc phức tạp phải lo toan hàng ngày, trong đó có mảng văn hóa văn nghệ mà một Bí thư Thành ủy không thể không quan tâm và đòi hỏi phải có một sự hiểu biết nhất định. Nhưng rất tiếc về mặt này anh lại rất thiếu hụt. Nói chung chức trách một Bí thư Thành ủy, nhất là Bí thư Thành ủy Hà Nội, là một cái gánh quá nặng đối với anh.

Trở lại với vở kịch “Em đẹp dần trong mắt anh”. Sau khi xem xong tôi thấy vở kịch chẳng có gì là hay, nếu không nói là có rất nhiều chỗ dở. Nhưng quan điểm của tôi dù hay hoặc dở sẽ do công chúng phán xét. Nguyễn Thanh Bình ngồi cạnh tôi, thấy tôi không nói gì cũng im lặng. Còn Vũ Hữu Ngoạn thỉnh thoảng có gợi ý để tôi phát biểu nhưng tôi đều lảng tránh. Qua ý tứ của Vũ Hữu Ngoạn tôi biết Ban Tuyên huấn Hà Nội muốn “đánh chết” vở kịch này ngay từ đầu, nhưng vì lý do nào đó không dám trực diện nói thẳng với đoàn kịch, mà tổ chức một buổi trình diễn hôm nay có cả Bí thư Thành ủy, cả Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương dự để rồi ngày mai sẽ nói: Ông Độ, ông Bình chê nhiều lắm, theo kiểu “cáo mượn oai hùm”. Thế là kết liễu đời một tác phẩm.

Xong buổi diễn, Vũ Hữu Ngoạn tiễn tôi ra tận cổng, cố moi cho được ý kiến của tôi về vở kịch, với hy vọng ý kiến của tôi phù hợp với ý kiến của Ban Tuyên huấn Hà Nội để sau đó dễ dàng ra lệnh cấm. Một lần nữa tôi lại thẳng thắn trả lời:

- Tôi không bao giờ đặt vấn đề diễn hay không diễn. Tôi đề nghị anh cũng nên đặt vấn đề như thế. Để có vở kịch này anh chị em đã phải lao động công phu vất vả, mình phải trân trọng biểu dương.

Tôi cũng nói với Vũ Hữu Ngoạn là vở kịch có đôi chỗ tôi không thích, nhưng đây mới chỉ là “cảm giác ban đầu” của một khán giả như bao nhiêu khán giả khác. Còn nếu là nhận xét với tư cách là cán bộ cấp trên để quyết định số phận của vở diễn thì cần phải suy nghĩ cân nhắc, chứ không phải chỉ trong một lúc, phán một câu là xong...

Sở dĩ tôi phải trân trọng như vậy vì có biết bao tác phẩm đã phải chịu oan bởi cách làm nông nổi tùy tiện đó. Cùng một vở diễn, ông lãnh đạo này không thích, thế là cấm. Đến khi ông lãnh đạo khác xem thấy không có vấn đề gì, thậm chí cho là hay thế là được “cởi trói”. Bộ ba vở chèo “Bài ca giữ nước” của Tào Mạt, phim “Hà Nội trong mắt ai” của Trần Văn Thủy cũng cùng chung số phận như thế. Thật là một sự tùy tiện vô nguyên tắc. Chính vì vậy mà Nghị quyết 05 đã chỉ rõ: “Tác phẩm văn nghệ không vi phạm pháp luật, không phản động (chống lại dân tộc, chống lại chủ nghĩa xã hội, chống lại hòa bình) và không đồi trụy (truyền bá tội ác, sự sa đọa, phá hoại nhân phẩm) đều có quyền lưu hành và đặt dưới sự đánh giá phán xét của công luận và sự phê bình...”

Hôm ấy, tôi đã nói với Vũ Hữu Ngoạn:

- Đề nghị anh cứ để cho anh em diễn vài lần. Nếu không hay sẽ không có người xem rồi tự nó sẽ chết, chứ không cần lệnh cấm của chúng ta.

Việc này tôi cho như thế là xong, còn việc Ban Tuyên huấn Hà Nội xử lý tiếp theo với đoàn văn công như thế nào thì tùy họ, tôi không quan tâm nữa, vì tôi cho đây là thuộc phạm vi của Hà Nội, mình không nên lấn sân.

Nhưng sau đó, tôi lại được thông tin là Tổng Bí thư có chỉ thị cấm. Tôi ngạc nhiên vô cùng. Một vở kịch có chủ đề đơn giản là kêu gọi xã hội quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, trong đó có đời sống giáo viên, chứ có vấn đề gì lớn lắm đâu mà đến mức Tổng Bí thư của Đảng phải can thiệp. Đây không chỉ là vấn đề nội dung mà cả cung cách quản lý của một Nhà nước đang dần hoàn thiện theo hướng một Nhà nước dân chủ pháp quyền, không thể để tồn tại mãi việc một Tổng Bí thư ra lệnh cấm vở kịch này, bộ phim kia... Việc này trước kia có thể hiểu được chứ sau Đại hội VI, đặc biệt là sau Nghị quyết 05 thì không thể chấp nhận.

Ngay hôm sau tôi lên gặp anh Linh để hỏi cho ra nhẽ chuyện này:

- Tôi nghe nói anh vừa chỉ thị cấm Đoàn kịch Hà Nội diễn vở “Em đẹp dần trong mắt anh”, phải không?

Lập tức anh Linh phản ứng một cách bực dọc:

- Nói láo? Làm gì có chuyện ấy! Tôi đã xem đâu mà có ý kiến cho diễn hay không cho diễn.

Tôi nói:

- Đấy là tôi thông tin lại cho anh biết là có chuyện như thế. Đồng thời cũng là để hỏi lại anh luôn cho chính xác, bởi vì bản thân tôi cũng không tin là có chuyện đó. Bây giờ nghe anh nói thì tôi rõ rồi, tôi yên tâm, đó là tin thất thiệt.

Nhưng liền sau đó, tôi thấy anh Linh suy nghĩ một lúc như chợt nhớ ra điều gì rồi nói với tôi:

- Thực ra thì cách đây mấy hôm, anh Bình có đến làm việc với tôi, nhưng là nội dung khác chứ không phải là về vở kịch. Trong lúc giải lao anh Bình có nói với tôi là Đoàn kịch Hà Nội vừa mới có vở bố láo lắm. Rồi anh thuật qua nội dung, tôi vừa nghe vừa ừ ào cho qua chuyện vì đang mải tập trung vào nội dung công việc đang bàn. Nghe anh ấy nói xong, tôi có bảo: “Nếu thế thì chưa nên cho diễn vội”. Sự việc chỉ có thế chứ có phải là chỉ thị cấm đoán gì đâu!

Thế thì chết rồi! Họ chỉ chờ có thế thôi, mặc dầu Tổng Bí thư chỉ nói ở hành lang cuộc họp, nói không chính thức, nhưng lập tức trở thành chỉ thị của Đảng.

Và thế là vở “Em đẹp dần trong mắt anh” của Đoàn kịch Hà Nội rơi vào tình trạng bị cấm, chỉ vì một câu nói ngoài hành lang. Tổng Bí thư nói với Bí thư Thành ủy như thế, Bí thư Thành ủy nói lại với Trưởng ban Tuyên huấn Vũ Hữu Ngoạn như thế, chắc là sẽ cương lên một chút, đại loại: Tổng Bí thư phê phán nội dung vở kịch mạnh lắm, đã chỉ thị không được diễn. Rồi Vũ Hữu Ngoạn lại cương lên một ít nữa:

- Anh Linh và anh Bình đã có ý kiến không cho diễn.

Chẳng có văn bản gì nhưng thực sự nó còn mạnh hơn cả các văn bản.

Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo Đoàn kịch đến phàn nàn với tôi: vở kịch này chỉ nhằm hưởng ứng một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là đã đến lúc phải chú ý nhiều hơn đến sự nghiệp giáo dục, để phục vụ tốt hơn cho công cuộc đổi mới của Đảng, và tác giả có mạnh dạn đưa vào một số tình tiết nhằm hấp dẫn khán giả, nhưng do xử lý không tốt nên chưa thật hay, nếu vì thế mà bị cấm thì oan quá, đau quá.

Sau khi nghe ngóng dư luận qua một số buổi diễn, tôi thấy không có vấn đề gì sai trái thuộc về quan điểm, đường lối, mà nội dung lại rất phù hợp với chủ trương đầu tư cho sự nghiệp giáo dục hiện tại, nên tôi đã chính thức phát biểu bằng giấy gửi cho Ban Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội và đoàn kịch, là chỉ cần sửa chữa một số ý khán giả đã tham gia và nâng cao chất lượng lên một chút là diễn được

Thế là vở kịch được tiếp tục diễn, nhưng không ở Hà Nội mà ở số tỉnh phía Nam, trong đó có Đà Nẵng.

Nhưng sau đó, không hiểu vì sao, vở kịch lại bị cấm. Đoàn kịch Hà Nội lại chạy đến tôi.

Tôi lại có ý kiến lần thứ hai, cũng bằng giấy, gửi cho Ban Tuyên huấn Hà Nội và cho cả Tổng Bí thư. Khi đã không nói thì thôi, khi đã nói thì tôi nói cho đến cùng, thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 05, là một vở diễn không phản động, không đồi trụy, thì không thể bị cấm.

Vở kịch lại tiếp tục ra mắt khán giả và hôm nào cũng đông nghịt người xem. Chắc là không phải do vở kịch hay mà chỉ vì nghe tin vở kịch bị cấm nên mọi người đổ xô đi xem. Cái dở của ta là ở chỗ đó.

Được một thời gian thì vở diễn chính thức bị cấm. Và tự nhiên trở thành một sự kiện: Ban Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội thì cấm còn Ban Văn hóa Văn nghệ của Trần Độ lại cho diễn... Trần Độ lỏng lẻo.

Trở lại hội nghị Trung ương 5 tôi vừa nói ở trên, lại xảy ra một sự kiện nữa, có thể nói là một sự kiện khá nghiêm trọng. Tôi tạm đặt cho nó cái tên là “Sự kiện công chúng bình thường”. Như tôi đã kể, trong phát biểu của mình trước hội nghị, anh Linh có phê phán một số tác phẩm văn nghệ mà theo tôi, những ý kiến của anh ấy chưa thể nói là chính xác... Cũng tương tự như vở kịch “Em đẹp dần trong mắt anh” là chỉ mới nghe người khác nói lại rồi phán theo chủ quan của mình.

Là một Ủy viên Trung ương, được Đảng phân công phụ trách văn hóa văn nghệ, đương nhiên tôi phải phát biểu chính kiến của mình. Anh Linh phát biểu buổi sáng, tôi lại phát biểu ngay vào buổi chiều, theo đăng ký. Tôi hy vọng là anh Linh sẽ có mặt khi tôi phát biểu. Nhưng không may, chiều hôm đó anh Linh có việc bận đột xuất nên vắng mặt. Tuy vậy tôi vẫn phát biểu theo sự chuẩn bị sẵn của mình, gồm ba ý:

Sáng nay, đồng chí Tổng Bí thư trong khi nói về văn hóa văn nghệ có nhận xét đánh giá một số tác phẩm. Tôi đề nghị nên coi đó là ý kiến của một “công chúng bình thường” thưởng thức nghệ thuật.

Hôm ấy tôi phát biểu trước toàn thể Hội nghị Trung ương như thế là vì tôi muốn từ nay chấm dứt cái tình trạng một đồng chí lãnh đạo cao cấp nào, phát biểu bất cứ ý kiến nào, về bất cứ lĩnh vực nào, bất cứ ở chỗ nào và bất cứ như thế nào cũng đều được coi là ý kiến của Đảng, là chân lý tuyệt đối buộc phải tuân theo.

Tôi đề nghị Trung ương từ nay có biện pháp chấm dứt tình trạng này vì nếu còn để tình trạng này là còn dung túng cho bọn cơ hội làm bậy, nó cứ đi rình cửa trước, cửa sau, thậm chí rình ở cả chuồng xí, nhà tắm hóng cho được một câu nói của lãnh đạo, để rồi có dịp là tung ra, ý kiến đồng chí X. về vở kịch này, ý kiến đồng chí Y. về tác phẩm kia... Tất nhiên, nó chỉ tung những ý kiến nào có lợi cho ý đồ của nó nhằm phục vụ cho một mục đích cá nhân thiếu lành mạnh.

Chính tôi, người phụ trách công tác văn hóa văn nghệ của Đảng đã mấy lần suýt sa vào bẫy của chúng như thế. Ví dụ có vở kịch rõ ràng là tôi chưa hề xem, mới chỉ nghe giới thiệu, nhưng có tay đã đi nói: Vở kịch này ông Độ ông ấy thích lắm, và như thế nó nhằm bịt miệng những người nào muốn phê bình vở kịch đó. Có vở tôi xem nhưng chưa chính thức có ý kiến gì, nhưng vì nó không thích cho ai khen, nó tung ra dư luận, vở này ông Độ ông ấy chê lắm, thậm chí nó còn dựng chuyện ông ấy đang xem thì bỏ ra về. Thực tình có lần tôi đang xem nhưng vì mệt, hoặc bận việc đột xuất, tôi ra về trước, chứ không phải vì không thích. Tôi là người trong cuộc, tôi biết những mánh lới của bọn cơ hội này. Các lĩnh vực khác tôi không dám có ý kiến, nhưng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ tôi tha thiết đề nghị Trung ương nên có biện pháp kiên quyết để những hiện tượng tiêu cực này sớm chấm dứt trong đời sống văn hóa văn nghệ nước nhà.

Đó là điểm thứ hai tôi phát biểu trước Hội nghị Trung ương khóa 5. Ngoài hai ý kiến trên, tôi còn phát biểu điểm thứ ba nữa, thuộc về chế độ quản lý. Khi đồng chí Tổng Bí thư với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của Đảng cầm quyền với sự nhạy cảm về chính trị, phát hiện một tác phẩm nào đó có những quan điểm sai lầm về chủ trương, đường lối, ảnh hưởng đến nền an ninh của đất nước thì chỉ thị cho đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, với chức năng là một cơ quan Nhà nước ra lệnh cấm, chứ tự mình không nên ra lệnh cấm, để phân biệt rõ ràng chức năng giữa Đảng và Nhà nước.

Hôm đó, tôi đã láy đi láy lại ý kiến này, rằng: nếu có cấm thì Bộ trưởng Bộ Văn hóa ra lệnh cấm chứ không phải Tổng Bí thư của Đảng ra lệnh. Nhưng khi chỉ thị cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa ra lệnh cấm thì Tổng Bí thư nên nhớ rằng, ý kiến của Tổng Bí thư như thế nhưng quần chúng cũng có quyền phán xét tác phẩm đó và có thể có ý kiến khác với ý kiến của Tổng Bí thư, lúc đó Tổng Bí thư phải chịu trách nhiệm về ý kiến của mình, vì thông thường ý kiến của quần chúng là chính xác. Ví như phim “Hà Nội trong mắt ai”, “Bài ca giữ nước”. Đảng cấm nhưng Dân vẫn thích, và thời gian đã chứng tỏ Dân đúng, Đảng sai, cuối cùng Đảng phải “cởi trói” cho Dân xem. Đến khi cần tìm xem ai ra lệnh cấm thì chẳng biết là ai, chỉ biết là Đảng cấm. Thế thì oan cho Đảng quá. Cũng như trong sự kiện khoán hộ, Đảng cấm gần 30 năm, dân phải làm chui, làm lủi. Cuối cùng Đảng phải làm theo Dân. Rõ ràng đế xảy ra trường hợp này là không hay tý nào cả. Vừa thiệt thòi về kinh tế, dân thì đói, đời sống ngày càng khó khăn, còn Đảng thì mất uy tín.

Giữa Hội nghị Trung ương tôi đã công khai đề nghị cần làm rõ: Ai, Cơ quan nào có quyền quyết định ra lệnh cấm? Người quyết định và ra lệnh cấm như vậy chịu trách nhiệm thế nào trước đối tượng (tác giả và tác phẩm), chịu trách nhiệm thế nào trước Nhân dân. Bất cứ ai có quyền cũng phải chịu trách nhiệm trước quyền đó của mình. Phải hết sức tránh tình trạng một sản phẩm văn hóa bị lên án, bị cấm mà không biết ai cấm và cấm thế nào, hoặc lúc này thì được phép, lúc khác lại bị cấm và như thế là vì những lý do gì?

Nếu cấm oan thì hỏi ở đâu? Và ở đâu có quyền giải oan? Trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ cũng cần vận dụng nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý...” nghĩa là phải làm rõ chức năng và quyền hạn của tổ chức Đảng, bao gồm cấp ủy Đảng, cơ quan cấp ủy Đảng, làm rõ chức năng và quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan nhà nước: Chính phủ, Uỷ ban Nhân dân và các cơ quan quản lý chuyên ngành (Bộ Văn hóa Thông tin, Sở Văn hóa Thông tin).

Tóm lại, trong Hội nghị Trung ương lần ấy, sau bài phát biểu của Tổng Bí thư, tôi đã phát biểu 3 vấn đề:

- Một là xin coi ý kiến của Tổng Bí thư như ý kiến của một “công chúng bình thường” thưởng thức nghệ thuật.

- Hai là, cần chấm dứt hiện tượng các phần tử cơ hội lợi dụng ý kiến của các đồng chí lãnh đạo phục vụ cho ý đồ cá nhân xấu xa của mình.

- Ba là, khi Tổng Bí thư hoặc một đồng chí lãnh đạo cấp cao nào phát biểu về một tác phẩm nào thì người đó phải chịu trách nhiệm về ý kiến của mình.

Có thể nói hôm đó tôi đã phát biểu rất chặt chẽ với “Tam đoạn luận” như thế, với một tinh thần trách nhiệm cao, mong sao từ nay chấm dứt tình trạng cấm đoán lung tung, rất không có lợi cho sự phát triển nền văn học nghệ thuật nước nhà, ảnh hưởng đến quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ.

Mặc dầu vấn đề tôi nêu ra là rất dữ dằn, nhưng nếu không có bốn chữ “công chúng bình thường” thì chắc cũng chẳng có chuyện gì phức tạp lắm. Bởi vì bốn chữ “công chúng bình thường” ở đây không có gì xấu cả. Nhưng một số kẻ cơ hội đã nống hai chữ “bình thường” này lên để kích Tổng Bí thư, rằng Trần Độ coi thường Tổng Bí thư, bảo Tổng Bí thư cũng như một “công chúng bình thường”... Và dã tâm của bọn này đúng là đã có tác dụng... Không hiểu họ “tâu” với anh Linh thế nào mà từ đó tôi cũng nhận được sự không hài lòng của anh Linh đối với tôi. Thực ra chữ “bình thường” này so với chữ “đầy tớ” của Bác Hồ thì có thấm vào đâu. Bác Hồ chẳng đã nhiều lần nói: “Từ Chủ tịch toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân...” kia mà. Còn ở đây là “công chúng bình thường” thì đã đến nỗi gì mà phải giận. Thậm chí rõ ràng là có những cán bộ lãnh đạo hẳn hoi mà trình độ thưởng thức nghệ thuật chưa hẳn đã bằng một công chúng bình thường...

Tôi nhớ hôm tôi phát biểu, người tán thành ý kiến của tôi khá nhiều, nhưng người không ủng hộ cũng lắm. Nhưng vì không phải là vấn đề cần phải biểu quyết nên không thể xác định được rõ ràng là bao nhiêu phần trăm ủng hộ, bao nhiêu phần trăm không... Chỉ riêng Đào Duy Tùng thì ngay trong giờ giải lao, khi gặp tôi đã nói ngay:

- Ông nói như vậy có vẻ chưa ổn lắm. Dù sao Tổng Bí thư cũng có trách nhiệm của Tổng Bí thư chứ, làm sao gọi là “công chúng bình thường” được.

Tôi đã nói ngay:

- Khi thưởng thức nghệ thuật thì Tổng Bí thư cũng là một “công chúng bình thường”, như anh thấy đấy, khi ngồi trong rạp thì ai cũng như ai chứ gì. Cùng xem vở diễn ấy, cùng vỗ tay hoan hô....

Tôi còn kể cho Đào Duy Tùng nghe chuyện Thủ tướng Ôlốp Pan mơ của Thụy Điển, cùng vợ đi xe đạp đến nhà hát, cùng mua vé vào xem như một công chúng bình thường, rồi chuyện Lênin đi cắt tóc ở hiệu, ngồi chờ theo thứ tự như một khách hàng bình thường khác... Còn phát biểu một vấn đề nào với tư cách là Tổng Bí thư, phát biểu trong quy chế hẳn hoi thì lại khác... Nghe tôi nói như thế, Đào Duy Tùng lại thỏa hiệp với tôi:

- Ừ! Có lẽ phải phân biệt hai trường hợp cho rõ...

Thế nhưng, trong một cuộc họp Bộ Chính trị, Đào Duy Tùng, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác tư tưởng, báo cáo khái quát tình hình văn hóa văn nghệ trong thời gian qua, lại nói: Sau Nghị quyết 05 có xảy ra một số sự kiện đáng lưu ý, trong đó có chuyện đồng chí Trần Độ nói Tổng Bí thư là một “công chúng bình thường”...

Anh Linh không nghe được toàn bộ ý kiến của tôi phát biểu ở Hội nghị Trung ương mà chỉ nghe thuật lại, với sự nhấn mạnh có chủ ý: Đồng chí Trần Độ coi thường Tổng Bí thư, cho ý kiến của Tổng Bí thư về nghệ thuật chỉ là ý kiến của một “công chúng bình thường”. Thế là anh Linh giận tôi, tôi biết rõ điều này qua thái độ của anh đối với tôi những ngày sau đó. Trong một dịp làm việc với Bộ Chính trị, tôi không nhớ rõ vì sao lại nhắc lại chuyện này, anh Linh đã nói một cách nghiêm trọng với tôi:

- Anh nói thế là anh xúc phạm tôi một cách nặng nề.

Tôi mới giật mình mà thấy rằng tôi quá chủ quan, đơn giản và vô tâm.

Nghĩ cũng thật là buồn! Kể từ khi thành lập Đảng, ta đã có phong trào vô sản hóa, ngay cả lãnh tụ của Đảng cũng cố gắng hóa thân làm một công nhân bình thường... Về sau này, trong những giờ giáo huấn của Bác Hồ cũng như của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, bao giờ cũng khuyên cán bộ cấp dưới là đi sâu vào quần chúng, hòa mình vào quần chúng, và nếu ai làm tốt được điều đó thì biểu dương... Còn bây giờ, chỉ nhận mình là một công chúng thưởng thức nghệ thuật bình thường đã phản ứng mạnh mẽ thì thật là lạ. Thế ra công chúng bình thường là điều thấp hèn lắm sao, xấu xa lắm sao? Còn những câu nói thuộc loại kinh điển mà ta đã từng rao giảng khắp nơi “Quần chúng là người làm nên lịch sử”, “Quần chúng là thầy học của tất cả chúng ta”, v.v... đi đâu cả rồi? Chẳng lẽ ta cũng quên mất lời dặn chí tình, chí lý trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” hay sao?

Sự không hài lòng của anh Linh đối với tôi còn được nhân lên gấp bội sau một lần tôi không nhớ rõ vì chuyện gì đó, về một tác phẩm văn nghệ nào đó, tôi có viết cho anh một lá thư, lời lẽ cũng chân tình thôi, nhưng quan điểm thì rõ ràng, đại ý rằng: “Lâu nay anh hay nói về cái chuyện đó, tôi thấy nó không có lợi cho anh, do đó tôi đề nghị anh không nên nói nữa”. Và tôi lại nhấn mạnh: “Nếu anh cứ tiếp tục nói như thế thì có nhiều cái không có lợi cho anh đâu...”

Cho đến bây giờ nghĩ lại, tôi cũng không hiểu tại sao lúc bấy giờ tôi lại dám viết một lá thư có lời lẽ như thế, với một người đương kim là Tổng Bí thư, còn hoàn cảnh riêng của tôi lúc đó, sau “Tuần trăng mật” của Nghị quyết 05, lại đã bắt đầu xuất hiện biết bao chuyện trục trặc và nổi lên vẫn là “khuyết điểm” lỏng lẻo trong văn nghệ, thì lẽ ra tôi phải giữ mình chứ... Nhưng quả đúng là tôi có viết một lá thư như thế. Thư ngắn, viết tay, nhờ Nghiêm Hà đưa lên Văn phòng Tổng Bí thư hẳn hoi. Không như là sự kiện “công chúng bình thường”, lần này anh Linh nổi cơn giận thật sự. Gửi thư đi hôm trước, hôm sau tôi nhận được thư trả lời ngay. Thông thường ít khi có một sự trả lời nhanh chóng như thế. Thư anh Linh cũng viết tay, cũng ngắn như thư tôi gửi anh, nhìn nét chữ cũng biết anh viết trong tâm trạng giận dữ: - “Anh đề cao dân chủ, vậy thì tôi cũng có quyền dân chủ của tôi chứ, tôi cũng có quyền phát biểu ý kiến của tôi chứ. Tôi phát biểu chỗ này, chỗ khác cũng là tôi thực hiện quyền dân chủ của tôi. Anh đừng lấy cái chuyện lợi và hại ra để dọa tôi...”

Cuối thư anh còn tái bút: - “Dạo này tôi bận lắm, vì vậy có chuyện gì về văn hóa văn nghệ anh nói với anh Đào Duy Tùng, chứ đừng nói chuyện với tôi nữa”.

Nhận được bức thư này, tôi buồn mất mấy ngày. Chỉ là một lời phát biểu về quan điểm, rồi bị người ngoài xúc xiểm vào, để bỗng chốc, một tình cảm gắn bó với nhau hàng chục năm trời, từ trong khói lửa chiến tranh, tan thành mây khói. Biết bao nhiêu là kỷ niệm đẹp đẽ và sâu sắc. Nhớ mùa thu năm 1969, tôi được Trung ương Cục cử cùng với anh Linh thay mặt quân và dân miền Nam ra Bắc thăm Bác đang ốm nặng. Cả hai chúng tôi được Bác mời cơm. Rất tiếc hôm ấy, tôi quên mang máy ảnh theo để ghi lại hình ảnh tôi và anh Linh quây quần bên Bác. Khi Bác mất, anh Linh và tôi cùng đứng túc trực bên linh cữu Bác, cùng khóc chung nỗi đau lớn với hàng triệu đồng bào tiễn đưa Bác ở Quảng trường Ba Đình. Những ngày ở miền Bắc, anh Linh đã giành thời gian đến thăm nhà tôi và các cháu lúc bấy giờ ở Hà Đông. Ngày đi ra miền Bắc, cả hai chúng tôi cùng đi chung một chuyến máy bay của hãng hàng không nước ngoài qua đường Campuchia. Lần đi này, có một chuyện nhỏ mà tôi cứ nhớ mãi. Ngồi trên máy bay, tôi khát nước nhưng không có tiền. Không hiểu sao anh Linh biết tôi khát nước, liền rỉ tai tôi:

- Muốn ăn gì, uống gì thì cứ ăn, cứ uống.

Rồi anh mỉm cười chỉ vào túi: - Có đô la đây!

Biết bao nhiêu là kỷ niệm của một thời đẹp đẽ không thể nào quên. Chỉ mới gần đây thôi, trước Nghị quyết 05 không lâu, có thể nói Nguyễn Vãn Linh và Trần Độ có một mối quan hệ thân tình đặc biệt và kết quả là Nghị quyết 05 ra đời. Mối quan hệ với Nguyễn Văn Linh trong những ngày này đã đem đến cho tôi những giây phút hạnh phúc thật sự, như trên tôi đã nói về mối quan hệ với Nguyễn Văn Hạnh, đã từng là niềm hạnh phúc lớn của tôi...

Từ ngày về hưu tôi vẫn thường nghĩ, trong cuộc sống có một thứ hạnh phúc mà người ta bỏ phí, không biết tận hưởng, đó là hạnh phúc của tình bạn, tình đồng chí. Chẳng những thế người ta còn đố kỵ nhau, chèn ép nhau, luôn sống trong mưu đồ, thù hận. Cứ sống suốt đời như thế mà người ta vẫn sống được thì thật là kỳ lạ, tôi không sao tưởng tượng nổi. Chính vì biết tận hưởng hạnh phúc của tình đồng chí, tình bạn mà cho đến nay, tuy bệnh tật phải nằm một chỗ, tôi vẫn luôn cảm thấy ấm áp tình người, không bao giờ tôi thấy mình cô đơn, lẻ loi. Bạn bè vẫn thường đến với tôi, mặc dầu tôi chẳng có gì để tiếp đãi họ, ngoài một phích nước sôi để sẵn cạnh bàn. Thậm chí cho đến nay, khi tôi chẳng có chức quyền gì nữa, có người vẫn thích gặp tôi, và nói chuyện với tôi.

Bởi thế mà khi nhận được thư của anh Linh, biết chắc mối quan hệ gắn bó bao nhiêu năm nay bỗng sụp đổ, tôi cảm thấy như bị hụt hẫng lớn. Hoàn toàn không phải là do vì mất mối quan hệ với Tổng Bí thư mà điều quan trọng là tôi mất đi một mối quan hệ sâu nặng tình người. Tôi nhớ tới những ngày vui vẻ mới cách đây không lâu, những lần anh gọi tôi lên gặp gỡ, tâm sự, nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa. Hầu hết nhân viên của Văn phòng Tổng Bí thư, từ thư ký đến bác sĩ đều quen biết và quý mến tôi, xem tôi như là người nhà. Nhất là cậu Quang, bác sĩ thỉnh thoảng lại gò gẳng với cậu Nghiêm Hà, nói với anh Độ kiếm phim gì hay đưa lên chiếu cho anh Linh xem. Cậu ta còn điện riêng cho tôi cố gắng bố trí thời gian lên cùng ngồi xem với anh Linh cho vui. Chả là cậu bác sĩ này đã từng chứng kiến cảnh tôi với anh Linh mỗi lần gặp nhau thường rất vui, như quên hết những căng thẳng mệt nhọc sau một ngày làm việc. Đối với ngành y, họ cho đây là một liều thuốc quý.

Có lần anh Linh trực tiếp gọi điện cho tôi:

- Dạo này phim có gì hay rủ tôi đi xem với!

Khi có phim hay, tôi gọi điện cho Fafim ở gần Ngã Tư Sở chuẩn bị, anh Linh xuống nhà tôi rồi đón tôi đi xem luôn. Đây có lẽ là chuyện hiếm có, một Tổng Bí thư đến nhà Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ, rồi cùng đến một cơ sở nghèo nàn, đơn sơ, tiện nghi thiếu thốn, xem phim và đàm luận về văn hóa văn nghệ. Tất nhiên tôi chỉ nói với các đồng chí phụ trách Fafim là chuẩn bị cho Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ đến duyệt phim, chứ không nói là có Tổng Bí thư đến xem.

Nghĩ mà tiếc cho một thời đẹp đẽ. Từ Đại hội III bắt đầu quen biết anh Linh, rồi gắn bó thân thiết với nhau suốt mười năm ở chiến trường ác liệt, qua Đại hội V long đong, vất vả, đến Đại hội VI đổi mới tưng bừng, anh Linh và tôi luôn có nhiều điểm đồng cảm. Tưởng như không có sức mạnh gì có thể chia lìa...

Mới cách đây chưa đến một năm, ngày 7-10-1987, anh còn nói những lời tâm huyết với các văn nghệ sĩ:

- Các đồng chí có nói nhiều đến sự “cởi trói”. Có như vậy mới phát huy được hết khả năng trong lĩnh vực của các đồng chí... Trước hết tôi nghĩ rằng Đảng phải “cởi trói”. Cởi trói trong lĩnh vực tổ chức, chính sách, trong các quy định chế độ. Nghe các đồng chí phát biểu tôi cũng không ngờ rằng, trong lĩnh vực này cũng có kiểu quản lý hành chính bao cấp. Tới đây phải sửa đổi và phải xây dựng những văn bản pháp quy nhằm bảo đảm sự phát triển cho ngành các đồng chí. Đảng và Nhà nước phải bắt tay mau lẹ vào công việc này.

Vậy mà chưa đầy một năm sau, mọi sự lại đổi khác... Tôi biết cuộc sống có quy luật riêng của nó, có bước đi thích hợp của nó, “bước” sớm quá dễ mang họa mà bước chậm quá lại có tội với các thế hệ sau...

Tôi kể lại những chuyện trên đây, không nhằm thanh minh điều gì. Tôi chỉ muốn tái hiện trung thực diễn biến của cuộc sống, mô tả nó đúng như nó đã diễn ra và tôi thu hoạch ở đó những bài học. Bài học rẻ nhất là tôi đơn giản, chủ quan và vô tâm quá mức. Đó là điều mà một số bạn bè thân thiết của tôi kể cả các bạn vong niên còn đầu xanh tuổi trẻ đã nhắc nhở tôi nhiều lần.

Tôi không muốn rằng các sự việc đã diễn ra, rồi sau vì có người này quá yêu hoặc quá ghét ai đó mà diễn tả lệch lạc làm cho sự việc được hiểu khác đi hoặc quá tốt hoặc quá xấu…