Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

KIẾN NGHỊ DÂNG ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ 5 MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG - Chu Đình Xương

KIẾN NGHỊ DÂNG ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ 5 MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG

Chu Đình Xương

tháng 3 năm 1982


ĐƯỜNG LỐI LÀ GÌ, THẾ NÀO GỌI LÀ ĐƯỜNG LỐI ?

Trên báo chí, trong sách vở, cũng như trong lời nói, chúng ta thường hay dùng:

- Đường lối chung

- Đường lối, cụ thể,

- Cương lĩnh 1.

- Cương lĩnh 2.

- Đường lối kinh tế.

- Đường lối công nghiệp.

- Đường lối giai cấp

- Đường lối văn nghệ.

- Đường lối đổi ngôi.

- Đường lối đối nội.

- vân vân và vân vân....

Những khái niệm về đường lối của Đảng trên dây có thật chinh xác không? Chắc là không. Ví dụ :

- Đường lối đối ngoại, nếu đem dịch ra Pháp văn thì ai cũng phải dịch là: Ligne de politique étrangère và dịch ngược lại thì lại là đường lối chính sách đối ngoại. Và ta thấy ngay rằng "từ" đường lối ở đây là thừa, không cần thiết và vì chinh sách đổi ngoại chi là một sách lược để phục vụ một đường lối nào đó mà thôi, không thể là bản thân đường lối được,

Một ví dụ nữa : Đường lối văn nghệ. Văn nghệ thuộc lĩnh vực tư tưởng, lĩnh vực thức hệ, văn nghệ là một bộ phận tương đối đặc biệt của cách mạng, của Đảng để phục-vụ đường lối của Đảng, của cách mạng, chứ bản thân văn nghệ không có đường lối riêng của mình được nó tương đối đặc biệt vì nó là bộ phận phải đứng thật vững chắc, vững chắc nhất trên lập trường của Đảng, lấy học thuyết Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản làm nền tảng, như vậy Đảng cộng sản nào cũng chỉ có thể có hai loại đường lối :

  • Đường lối chính trị chung

  • và đường lối kinh tế cụ thể.

Về đường lối chính trị chung có là chẳng có gì phải bàn nhiều.

Ngay từ những ngày tuyên truyền giác ngộ từng cá nhân cho đến ngày thành lập được Đảng thi đường lối chính trị chung nêu ra vẫn là :

Đảng là Đảng cộng sản và thực chất, còn tên gọi cụ thể của từng đảng thì tùy thuộc vào hoàn cảnh chính trị của từng nước, nghĩa là trong một giai đoạn chiến lược dài, con đường duy nhất mà Đảng dẫn dắt giai cấp vô sản và toàn dân đi tới là xã hội cộng sản chủ nghĩa, lấy học thuyết mác-Lênin và Chủ nghĩa quốc tế vô sản là nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam.

Như vậy, đường lối của Đảng là con đường đi mà Đảng vạch ra cho giai cấp mình và toàn dân đi theo từng bước một đi đúng đường là cách mạng đang đi lên, đi chệch là gặp khó khăn, phải sửa sai ngay. Đi chệch quá mà không sửa, hoặc sửa không được nữa là cách mạng thất bại, cách mạng thất bại là để cho kẻ thù của cách mạng thắng lợi,

Đấy là đường lối chiến lược lâu đài của Đảng. Chặng đường chiến lược lâu dài này chia ra từng giai đoạn chiến lược ngắn hạn cụ thể là :

1- Xây dựng Đảng, vận động quần chúng, tổ chức lực lượng vũ trang, tạo điều kiện cách mạng chín muồi, nổi dậy giành chính quyền về tay Đảng, Đảng cộng sản nắm chính quyền.

2- Bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Bước này dài hay ngắn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, vào tương quan lực lượng chính trong nước và trên quốc tế. Một nước còn ở tỉnh-trạng nông nghiệp lạc hậu thì tất nhiên thời kỳ quá độ phải dài hơn nhiều so với nước đã trải qua công nghiệp hóa rồi.

3- Chủ nghĩa xã hội.

4- Chủ nghĩa xã hội phát triển.

5- Chủ -nghĩa cộng sản,

Đây là đường lối chính trị chung, bất di bất dịch cho tất các Đảng vô sản.

Luận cương chính trị khi mới thành lập Đảng cộng sản Đông dương tại Đại hội I năm 1930 đã tuyên bố:

“Thời kỳ này là thời kỳ cách mạng vô sản toàn thế giới và thời kỳ kiến trúc xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xô viết. Xứ Đông-dương nhờ vô sản giai cấp chuyên chính các nước giúp sức cho mà phát triển bỏ qua thời kỳ tư bốn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa” (Văn kiện Đảng 1929-1935 trang 49).


X


Sau khi đã hoàn thành giai đoạn chiến lược đầu tiên, nghĩa là Đảng vô sản đã giành được chính quyền về tay mình để tiếp tục đi đúng đường lối chính trị chung nói trên, Đảng phải đề ra:

Đường lối kinh tế cụ thể của mình, trừ thời khôi phục kinh tế ban đầu, hoặc trong những năm phải tiến hành chiến tranh, Đường lối kinh tế cụ thể thể hiện trong từng kế hoạch nän năm mà mục tiêu cuối cùng của nó phải là :

So với năm 19.. thu nhập thực tế đầu người phải tăng từ…% đến.. % từ nay đến năm 198…, giữ vững chuyên chính vô sản, cũng như củng cố quốc phòng đều chỉ nhằm phục vụ mục tiêu này.

Cả chinh sách đối nội và chính sách đối ngoại cũng vậy. 

- Chinh sách đối nội bao gồm rất nhiều vấn đề, nhưng vấn đề chủ yếu, quan trọng hàng đầu phải là chủ trương và biện pháp phân phối thu nhập quốc dân đến tay người lao động, cả trí óc lẫn chân tay đúng theo nguyên lý Mác-Lênin, làm nhiều hưởng nhiều, làm thường ít.

- Chinh sách đối ngoại là chính sách của một Đảng vô sản quốc tế,. yếu tố liên kết hợp tác quốc tế phải là một bộ phận hợp thành của đường lối kinh tế cụ thể của Đảng.

Thứ nhất là liên kết quốc tế để đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới, không có hòa bình thl không xây dựng và phát triển kinh tế được.

Thứ hai là liên kết hợp tác với ai để xây dựng kinh tế. Nếu không có sự liên kết và hợp tác quốc tế này là đi trái với nguyên lý Mác-Lênin và tất yếu dẫn tới việc đường lối kinh tế thất bại hoàn toàn. 

Không phải ngẫu nhiên mà trong : Nghị quyết của Đại hội lần thứ 10 của Đảng cộng sản (xã hội thống nhất) Cộng hòa Dân chủ Đức về kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế 1981-1985 ngay trên chương đầu đã ghi :

“Việc liên minh huynh đệ của nước Cộng hòa dân-chủ Đức với Liên Xô và các nước khác trong cộng-đồng xã hội Chủ nghĩa là nền tảng của việc phát triển ổn định và liên tục của nước Cộng hòa dân chu Đức. NỀN TẢNG này cho phép chúng ta tiếp tục một cách kiên quyết triệt để hóa công cuộc hòa đồng kinh tế xã hội chủ-nghĩa, sự hợp tác khoa học vàkỹ thuật với Liên Xô và các nước xã hội Chủ nghĩa khác và việc tận dụng những ưu thế của việc phân công lao động xã hội chủ nghĩa quốc tế để đem lại lợi ích cho nền kinh tế của Cộng hòa dân chủ Đức".

 Chúng ta cần nhấn mạnh 2 chữ NỀN TẢNG, Đảng bạn đã nhận thức đầy đủ và chính xác rằng việc hoà đồng kinh tế xã hội chủ nghĩa nói trên là NỀN TẢNG của công cuộc phát triển kinh tế của mình, chứ không phái là HỖ-TRỢ cho nền kinh tế của mình.

Đến đây, thiết tưởng chúng ta cần sơ bộ tìm hiểu tổ chức Hội đồng tương trợ kinh tế một chút. Hội đồng tương trợ kinh tế do 6 nước họp ở Mát-xcơ-va ngày 5/1/1949 thành lập ra :

1- Liên Xô 

2- Bun-ga-ri

3- Hung-ga-ri

4- Ba Lan

5- Rumani

6- Tiệp Khắc

Cho đến nay, Hội đồng đã có thêm 4 nước gia nhập : 

7- Cộng hòa dân chủ Đức tháng 9-1950.

8- Mông cổ tháng 7-1962.

9- Cuba tháng 7-1972.

10- Việt Nam tháng 6-1978.

Ngay từ 1949, các nước sáng 1ập viên đã đề ra chức năng cơ Hội đồng tương trợ kinh tế như sau :

Hội đồng tương trợ kinh tế có mục đích góp phần :

a) Tiếp tục phát triển sâu và hoàn thiện quan hệ hợp tác và đẩy mạnh liên kết kinh tế XHCN.

b) Phát triển của nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch. 

c) Đẩy nhanh tiên bộ kinh tế và khoa học kỹ thuật.

d) Không ngừng, täng năng suất lao động. 

e) Nâng cao trình độ công nghiệp hóa những nước có công nghiệp kém phát triển. 

g) Dần dần xích lại gần nhau và ngang bằng mức độ phát triển kinh tế.

(Đề nghị chúng ta chú ý đặc biệt 2 điểm e và g)

Sau 30 năm thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả chương trình hoạt động trên đây, các đảng anh em đã tự hào công bố rằng : 

- Thu nhập quốc dân của các nước hội viên Hội đồng tương trợ kinh tế trong 30 năm qua đã tăng gấp 10 lần, thể mà cũng trong thời gian đó thu nhập của nước tư bản phát triển, (ke cả 9 nước thuộc cộng đồng kinh tế Châu Âu chỉ bằng gần gấp 4 lần).

- Các nước hội viên Hội đồng tương trợ kinh tế có 430 triệu người, tức là xấp xỉ 12% dân số thế giới. Nhưng 12%, đó lại sản xuất ra 33% tổng sản lượng của ngành công nghiệp trên thể giới.

Thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế là do sáng kiến của ai? của nước nào? Chẳng của nước nào cả, mà chi là thi hành lại giáo huấn của Lênin.

Lênin đã dạy rằng :

 "Sự tất yếu một liên minh kinh tế mật thiết giữa các Cộng hòa xô viết và phương hướng tạo lập một nền kinh tế thế giới duy nhất được coi là một toàn thể và được điều khiển thao tuột kế hoạch toàn cục của giai cấp vô sản thuộc tất cả các dân tộc……. “

Đó là chung cho tất cả các nước mà đảng vô sản đã nắm chính quyền. Đối với các nước nông nghiệp lạc hậu, Lênin còn căn dặn: " với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu cổ thể tiến tới chế độ xô-viết, và qua những giai đoạn phát trioa nhất định, tiến tới cộng sản chủ nghĩa không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa". (Lênin tuyển tập Moscou, trang 707).

Đó là nguồn gốc của sự phát sinh và phát triển của Hội đồng tương trợ kinh tế. Nhưng nếu quan niệm rằng 6 nước hội viên đầu tiên của Hội đồng tương trợ kinh tế đã đi lên từ nền kinh tế đã được công nghiệp hóa đàng hoàng thì thật là sai lầm.

Hội đồng tương trợ kinh tế đã bắt đầu đi lên từ con số không Năm 1949 chỉ mới thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế, viên đại sứ Mỹ ở Tiệp Khắc R. Stanh-ga đã viết : 

“Đó là hội góp cổ phần của những người không một xu dính túi".

Điều đó đúng :

Sau chiến tranh thế giới, các nước hội-viên đều cùng trong cảnh tan hoang, tiêu điều : 

  • Liên Xô bị tàn phá mất 1/2 tài sản quốc gia và 20 triệu người phần đông là lớp người có mức lực cường tráng.

  • Ba-lan mất 6 triệu dân trong chiến tranh. Thanh phố Vác-xa- va bi san bằng. Có thể nói thành-phố Ca-tô-vít-xa 1à thành phố duy nhất của Ba-lan không bị triệt hạ.

  • Đất nước Hung-ga-ri là chiến trường của quân đội Hung-ga-ri và quân đội phát xít Đức.

  • Các nước Ru-ma-ni, Bun-ga-ri, Tiệp khắc cũng chịu số phận như trên.

Mà không phải chỉ có như vậy.

Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni còn là nước nông nghiệp và vẫn duy trì các quan hệ nửa phong kiến, công nghiệp của 3 nước này chưa vượt quá trình độ thủ công là bao. Tiệp-khắc và Ba-lan tuy đã có công nghiệp hóa, nhưng Ba Lan còn tồn tại những xóm làng heo hút không biết tới lưỡi cày sắt. Tiệp Khắc ngoài những vùng công nghiệp ra còn có những vùng rộng lớn thuộc miền đông Xlô-va-ki còn chưa ra khỏi thế kỷ 11, v.v.. 

Đây là khởi điểm, còn cho đến ngày hôm nay thì sao? Các nước anh em của chúng ta đã vô cùng kiêu hãnh mà nối thẳng cho thế giới biết rằng 30 năm qua 199-1979 các nước trong hội đồng tương trợ kinh tế không vấp qua khủng hoảng kinh tế, không có suy thoái, lạm phát, thất nghiệp, khái niệm "nghèo khổ" đã bị xóa khỏi đời sống hiện thực và chỉ còn lại trong các cuốn tự điển.

Ta hãy xem xét tình hình qua những con số:

Bảng chỉ mức tăng thu nhập quốc dẫn, từ 1950 đến 1977, lấy mốc 1950 là 100 :


Nước

1960

1970

1977

Bung-ga-ri

282

593

978

Hung-ga-ri

177

300

456

Cộng hòa Dân chủ Đức

261

400

569

Mông Cổ

275

358

551

Ba Lan

208

274

669

Ru-ma-ni

268

599

----

Liên Xô

265

528

670

Tiệp Khắc

207

318

452


Bảng tăng lương trung bình hàng tháng:



Nước

1960

1965

1970

1976

Tiền tệ

Bung-ga-ri

78,3

92,4

124

148

Le-va

Hung-ga-ri

1553

1737

2152

2976

Pho-rinh

Cuba

-

-

116

141

Pê-xô

Ba Lan

1560

1867

2235

3969

Dơ-lốt-ti

Ru-ma-ni

854

1115

1434

1964

Lây

Liên Xô

80,6

96,5

122

151,4

Rúp

Tiệp Khắc

1365

1493

1937

2369

Cu-roa


Một số liệu nữa :

Theo kế hoạch 5 năm 1981/985 của Cộng hòa dân-chủ Đức thì : so sánh với năm 1980, thl từ nay đến năm 1995, thu nhận thực tế đầu người sẽ tăng từ 1 đến 23%.

Do những bí quyết nào mà chơi Hợp đồng tương trợ kinh tế đã khởi điểm từ con số không mà đạt được những thành tựu to lớn như vậy chỉ trong vòng 30 năm?

Giải đáp câu hỏi này thật không có gì khó khăn : chỉ vì một lẽ giản đơn là các Đảng anh em đã thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, đi đứng vững chắc trên lập trường quốc -tế vô sản, mà nội dung chủ yếu là đoàn kết - liên kết - hợp tác quốc tế xã hội chủ nghĩa với tinh thần thương yêu nhau, hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Đoàn kết thì sống, chia ra thì chết. Từ con số không nhưng

Một cây làm chẳng nên non, 

Ba tay chụm lại nên hòn núi cao, 

lấy chỗ mạnh của nước này, bù cho chỗ yếu của nước kia, lấy chỗ có của nước này bù cho chỗ thông của nước kia, vì trên thực-tế, nước nào cũng có chỗ mạnh chủ yếu, nước nào cũng có những thứ mà nước kia không có, chỉ có vấn đề ít hoặc nhiều mà thôi.

Nói đến đây, ta không được phép quên vai trò của Liên Xô vĩ đại. Từ ngày hình thành hệ thống xã hội Chủ nghĩa thế giới, lúc nào Liên Xô cũng giữ vai trò trung tâm, đầu tàu, không những chi là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên có trách nhiệm vô sản quốc tế là giúp đỡ tận tinh khẳng khái và vô tư của nước anh em khác, mà còn là Liên Xô có những chỗ mạnh thực sự mà các nước không có hoặc có ít, có những tài nguyên phong phú mà các nước thiếu thốn.

Ví du: Ai cũng rõ rằng nếu không có cơ sở nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng thì không có công nghiệp hiện đại, các nước hội viên Hội đồng tương trợ kinh tế đã tính toán rõ rằng Liên Xô đã có 90,8% dầu mỏ, 96% khí đốt, 83% quặng sắt, 86,7% kim loại màu, và 60,5% điện lực để thỏa mãn nhu cầu của cả khối.

Một số người có giàu chất lãng mạn cách mạng đã phát biểu tuột cách thơ mộng rằng : "Nếu các nền văn minh cổ đại đã xuất hiện trên các dòng sông, nền văn minh Ai cập gắn bó với dòng sông Nin. Hai con sông Ti-grơ va Ofrat đã gắn bó với nền văn hóa Su-me với việc xuất hiện văn tự đưa loài người ra khỏi bóng tối mủ đặc của thời tiền sử, thì ngày nay một nền văn minh hiện đại của loài người đã xuất hiện bất nguồn từ đất nước Liên Xô gắn liền với các đường ống dẫn đầu "Hữu-nghị;" và đường ống dẫn hơi đốt "Liên hợp", đưa 2 loại nhiên liệu phục-vụ cho con người từ Đông Á đến Tây Âu, vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hội chu-nghĩa.

Đến đây ta thấy rằng khái niệm "đoàn kết quốc tế" chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó có nội dung vật chất của nó, tức là : 

“Sự tất yếu một liên minh kinh tế ……, điều khiển theo một kế hoạch toàn cục của, giai cấp vô sản thuộc tất cả các dân tộc……” (Lời Lênin).

Nếu không có nội dung vật chất như trên thì sự đoàn kết nào cũng chỉ là lỏng lẻo, nay họp mai tan mà thôi.

Ngày 23/2-/981, trên diễn đàn Đại hội 26 của Đảng cộng sản Liên Xô, đồng chí Bro-giơ-nép đã trịnh trọng tuyên bố : 

"Đối với nền kinh tế quốc dân của một số nước xã hội chủ nghĩa, những năm gần đây nhất không được thuận lợi lắm, nhưng thực ra nhịp độ phát triển kinh tế của các nước thành viên hội đồng tương trợ kinh tế trong 10 năm qua vẫn cao gấp đôi so với các nước tư bản phát triển. Các nước tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế vẫn là nhóm nước phát triển năng động nhất thế giới".

"Ngày nay, nêu không có quan hệ với các nước anh em khác thì không thể phát triển vững chắc, một nước xã hội chủ nghĩa nào, không thể giải quyết thành công được những vấn đề như cung cấp năng lượng và nguyên liệu, áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật".

Trên đây là trinh bày kinh nghiệm tốt của những đảng cộng sản đã di dung đường lối chính trị chung dựa trên học thuyết Mác-Lênin và lập trường quốc tế vô sản.

Và lã tất nhiên là đã có những Đảng đi chệch đường, thậm chí đi sai đường, Vf du: 

  • 2 Đảng cộng sản Trung Quốc và Nam Tư vì đã xa rời lập trường quốc tế vô sản, không nghe theo lời giáo huấn cụ thể của Lênin mà đã để trận địa lọt vào tay địch. Chắc rằng những người cộng sản Trung Quốc và Nam Tư chân chính đang nghẹn ngào đau xót biết bao nhiêu! Biết đến bao giờ mới giành lại trận địa.

  • Đảng cộng sản Triều Tiên đi vào con đường chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và mù quáng, đã phải tuyên bố vỡ nợ trước thế giới.

  • Đảng cộng-xuân An-ba-ni khăng khăng chống Liên Xô, kiên quyết đứng ngoài cộng đồng xã hội chủ nghĩa, đã gặp thảm cảnh có một không hai trên thế giới : Tổng bí thư và thủ tướng vác súng giết nhau.

  • Đảng cộng sản Ru-ma-ni, tuy tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế, nhưng lại muốn có một đường lối kinh tế riêng, quan điểm chính trị độc lập với Liên Xô, hợp tác đa phương, chèo kéo với kẻ thù, hậu quả là như hiện nay đó : nhằm lúc tình hình kinh tế và xã hội gặp khó khăn nhất, kẻ thù (Mỹ) nó khăng khăng đòi trả nợ, đang lâm vào cảnh khốn đốn, chưa biết gỡ thế bí này ra sao đây!

  • Đảng cộng sản Ba-Lan vì đi sai đường lối quốc tế vô sản trong liên minh kinh tế, muốn đông thời liên minh kinh tế với phương Tây, nên năm vừa qua (1981) đã đứng trước nguy cơ tồn vong, nếu không có sự cứu trợ về chính trị và kinh tế của Liên Xô và các nước anh em khác trong cộng đồng XHCN chắc là "vong" chứ không "tồn”!


 X


Xin trở lại vấn đề trọng tâm: 

ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG TA

Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ 5 có ghi : "Sai lầm khuyết điểm và cụ thể hóa đường lối xét cho cùng là do chúng ta chưa thực sự nắm chắc quy luật, chưa nhận đầy đủ thực tế và thiếu kiến thức kinh tế".

 Xin đặt câu hỏi : 

- Chưa thực sự nắm chắc quy luật, chưa nắm đầy đủ thực tế và thiếu kiến thức kinh tế.

Thì làm sao có thể vạch ra đường lối đúng được? Nhất là đường lối kinh tế cụ thể.

Một ví dụ khác:

Kế hoạch 5 năm của Đại hội 4 theo con số chỉ tiêu thì nông dân phải sản xuất ra 7 triệu tấn lương thực đo tự nuôi và nuôi quân đội và bộ máy nhà nước, còn nhà nước (giai cấp công nhân) thì sản xuất ra 450 triệu mét vải để cung cấp cho nông dân, người nông dân hoàn toàn không tự sản xuất ra vải để mặc.

Đến kế hoạch 5 năm của Đại hội 5 thì người nông dân không những đã phải sản xuất ra gạo và thịt để tự cung một phần và một phần đóng góp cho nhà nước, mà còn phải trồng dâu, trồng bông, kéo tơ, kéo sợi để tự túc về mặc. Từng tỉnh, từng huyện phải lo mặc như lo ăn cho nhân dân, nghĩa là cái khung cửi dệt tay của nông dân Việt -Nam đã cho vào bảo tàng từ gần 1 thể kỷ nay, ngày nay lại phải rước ra để cọc cạch !!!

Như vậy, đường lối kinh tế cụ thể của Đảng ta trong 2 kế hoạch 5 năm 1976-80 và 1981-85 lúc nào là đúng ? lúc nào là sai? hay là cả hai đều đúng? mà chi là : 

Sai lầm khuyết điểm về cụ thể hóa đường lối mà thôi !


X


Kính thưa Đại-hội,

Một Đảng Mácxít-Lêninnít đã chiến đấu quá dày dạn như Đảng ta, ngay sau ngày thành lập Đảng đã làm nên Xô viết Nghệ Tĩnh, 15 năm sau đã làm nên cách mạng tháng tám, giành được chính quyền về tay mình, một Đảng đã nắm chinh quyền trên 1/4 thế kỷ , đã đánh bại đế quốc Pháp, đã đánh bại đế quốc Mỹ, mà khi đề ra đường lối của Đảng laị :

  • Chưa thực sự nắm chắc quy luật.

  • Chưa nắm đầy đủ thực tế và

  • Thiếu kiến thức kinh tế.

 là tại làm sao ? Ta phải nghiêm khắc với ta, phải dũng cảm và chân thành mới tìm ra nguyên nhân.

Nguyên nhân sâu xa và đồng thời cũng là trực tiếp là : 

Từ nhiều năm nay, ta đã xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, xa rời lập trương vô-sản quốc tế.

Tôi xin nêu một vài dẫn chứng cụ thể :

Mao Trạch Đông đã trở nên phản cách mạng, đã phản bội giai công nhân, phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin từ năm 1930, và từ đó liên tục chống thành trì của cách mạng thế giới là Liên Xô, ấy thể mà :

+ Từ năm 1951 trở đi, ta đã coi tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam, là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

+ Tháng 12/1 963, trước hội-nghị Trung ương lần thứ 9, đồng chí Lê-Duẩn, Tổng bí thư của Đảng ta đã phát biểu :

"Đảng cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Đông là người đã thực hiện một cách xuất sắc nhất lời giáo huấn của Lênin vĩ đại, sự phát triển và sáng tạo đặc sắc nhất của Đảng cộng sản Trung Quốc và đồng chí Mao Trạch Đông đối với lý luận cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận cách mạng lấy nông dân là quân chủ lực ………………………………………………………………………………………………………………………………………...

Ở đây không phải chỉ có vấn đề lực lượng cách mạng mà còn có một loạt vấn đề về đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng………………………………………………………………..

Lý luận này không còn chi đóng khung trong phạm vi Trung Quốc mà nó, đã trở thành một lý luận có tính chất quốc tế; những người cộng sản chúng ta, do đã học tập và vận dụng đường lối đó một cách sáng tạo nên đã đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đến thắng lợi. Nếu trước đây, Lênin đã nói rằng sách lược của cách mạng Nga là một mẫu mực về sách lược cho tất cả mọi người cộng sản trên thế giới, thì ngày nay chúng ta cũng có thể nói rằng sách lược của cách mạng Trung Quốc là mẫu mực và sách lược cho nhiều người cộng sản ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La-tinh………………………………

(Một vài vấn đề trong nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta. Nhà xuất bản Sự thật, xuất bản năm 1964, sách có bán trong các cửa hàng sách báo).

+ Năm 1965, một lãnh tụ khác của Đảng ta, đồng chí Trường Chinh đã phát biểu : 

"Tư tưởng Mao Trạch Đông đã giúp cho chúng ta và Hồ chủ tịch vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng”. (Trong tác phẩm "Hồ chủ tịch và sự nghiệp vĩ đại của Người". (Nhà xuất bản Sự thật, 1965, trang 55).

Chi cần 3 cứ liệu trên , chúng ta thấy Đảng ta đã tin theo Mao Trạch Đông thật là vô bờ bến. Mao Trạch Đông là phản động, coi Liên Xô là là ko thủ số một của mình, suốt đời chống Liên Xô 1 cách điên cuồng và lông lộn, điều ấy cả thế giới đều thấy rõ, thấy đầy đủ, vậy đã tin tưởng Mao Trạch Đông, coi Mao Trạch Đông đã sáng tạo ra không những "đường lối cách mạng, mà cả phương pháp cách mạng", là "mẫu mực về sách lược cách mạng cho nhiều người cộng sản ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ-La-Tinh" thì ta có chống Liên Xô không ? Tất nhiên là có. Mà chống Liên Xô là chống thành trì của cách mạng thế giới, là xa rời Chủ nghĩa Mác-Lênin, chối từ liên minh, liên kết, hợp tác quốc tế XHCN.

+ Đảng ta đã chống Liên Xô như thế nào? 

- Cho đến nay lịch sử đã chứng minh rằng Đảng cộng sản Liên Xô chưa hề phạm sai lầm xét lại hiện đại. Đấu tranh bảo vệ hòa bình, hòa hoãn quốc tế là chu-trương vô cùng sáng suốt, vậy mà Mao-Trạch Đông dựng đứng chuyện vu cáo Liên Xô là xét lại, là từ bỏ đấu tranh giai cấp, là đi vào con đường tư sản hóa, mở một chiến dịch toàn cầu để chống Liên Xô; và Đảng ta đã tham gia chiến dịch này: 

Trong những năm 60 ta đã mở một chiến dịch rần rộ, huy động toàn Đàng học -tập chống chu nghĩa xét lại hiện đại, chống đường lối bảo vệ hòa bình, hoà hoãn quốc tế của Liên Xô, cùng phê phán Liên Xô là thủ tiêu đấu tranh giai cấp, là đi vào con đường tư sản hóa, coi tổ chức Hội đồng tương trợ kinh tế thành lập theo chi thị của Lênin là công cụ nô dịch và bóc lột của Liên Xô, là một hình thức thực dân mới trá hình của Liên Xô, để bóc lột nhân dân các nước, Liên Xô định biển Việt Nam thành vườn chuối, vườn cà-phê của họ. đã số nhân dân và cán-bộ ta đã tin theo Đảng mà căn ghét Liên Xô, thậm chí trẻ con trông thấy người Liên Xô cũng chửi. Và đồng thời trong nhân dân, trong hàng ngũ cán-bộ đã hình thành một danh xưng quái gở là BÁC MAO với ý thức rõ ràng là BÁC MAO vĩ đại hơn BÁC HỒ. Một số đông cán-bộ kiên-quyết bảo vệ Liên Xô, chống Mao Trạch Đông thì bị trừng trị thẳng tay, đến nay vẫn còn người bị tù chưa được về.

+ Trước khi đi vào khía cạnh kinh tế của vấn đề xa rời chủ, nghĩa Mác - Lênin, tối hãy xin nói khía cạnh chính trị của vấn đề này. Đó là :


CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT


Ta coi sách lược cách mạng Trung Quốc là mẫu mực của ta, nên ta đã cử cán bộ sang Trung Quốc hoo-tập làn cải cách ruộng đất. Khi về nước nhà để thực hiện, thì ta lại đón theo một đoàn cố vấn tay sai của Mao đến để giúp ta, danh nghĩa là giúp, nhưng thực chất là chỉ đạo. Mọi biện pháp đều phải thông qua cố vấn duyệt.

Cuộc phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất bắt đầu làm thí điểm ở 6 xã thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên từ cuối năm 1953, đến đầu 1954 thi tổng kết. Hàng mấy ngàn cán-bộ, đảng viên đã tham gia học tập tổng kết để triển khai ra đợt một với một khí thế cách mạng như vũ bão, hừng hực lửa căn thủ, quyết tâm đau lại ruộng đất cho người cày, trong khi ấy thì 75% ruộng đất của địa chủ đã nằm trong tay nông dân lao động rồi. Căm thù ai? Căm thù địch. Kết luận quan trọng bậc nhất của tổng kết là : TẤT CẢ CHI BỘ NÔNG THÔN ĐỀU LÀ CHI BỘ CỦA ĐỊCH.

Tại sao lại 6 xã thuộc huyện Đại Từ, miền Bắc tinh Thái Nguyên căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến, trong lúc kháng chiến còn vài tháng nữa thì thành công, mà lại có cái nhận định quái gở như vậy. Nó phải từ đầu óc độc ác của Mao Trạch Đông mà ra, do đoàn cố vấn của nó truyền đạt.

Nếu tất cả chi bộ nông thôn của ta đều là chi bộ địch, thì nhận định ấy có nghĩa là : 

1- Nói chung, Đảng ta chi còn có các tinh ủy viên và trung ương ủy viên để trong bao nhận nằm chủ yếu là lãnh đạo địch.

2- Các cấp uỷ trong của Đảng đều là do địch bầu ra.

Ấy thế mà hàng ngàn, hàng vạn cán bộ, đảng viên đã chấp nhận không một chút phản ứng. Trong đó có tôi, tôi đã học tập tổng kết thí điểm, ngay từ đợt một, tôi đã cùng hàng ngàn đồng chí khác kéo nhau về nông thôn để đánh địch, Nghĩa là đánh đồng chí mình, đánh cơ sở vững chắc của Đảng, đồng thời dựng người khác lên làm đảng viên cộng sản.

Nói lên ở đây con số cụ thể các đồng chí đảng viên cơ sở của Đảng bị chính chúng ta tàn sát thật quá đau lòng, tôi không dám viết. Nhưng dẫu sao chúng ta cũng phải thấm thía sai lầm của chúng ta (tôi nói chúng ta đều là nói tôi và hàng ngàn đồng chí trung cao cấp của tôi, cùng tôi đi tham gia cải cách ruộng đất), tôi chỉ nêu lên một con so nhỏ: 

- Tỉnh Hà Tĩnh có 210 bí thư chi bộ xã, thì 200 đồng chí bị chúng ta bắn, còn lại 10 đồng chí ở miền núi vì đây chưa cải cách ruộng đất.

Đau lòng lắm các đồng chí ơi!

Chủ nghĩa Mác - Lênin không dạy chúng ta đối xử với con người như vậy bao giờ.

+ Cuối những năm 50, thị hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, chúng ta lại đem con người ra đấu tố, đấu tố cho bằng gục thì thôi. Phương pháp cách mạng của chủ nghĩa cộng sản cũng không hề có phương pháp đấu tố bao giờ, đấy hoàn toàn là "phương pháp cách mạng" của Mao Trạch Đông.


X


Đem phanh phui cái chủ nghĩa nó đã tác hại nền kinh tế Việt Nam như thế nào, không phải mục đích của ban kiến nghị này, kiến nghị này chỉ nhằm vào đường lối của Đảng ta về kinh tế đã đi chệch nguyên lý và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin như thế nào mà thôi. 

+ Đầu những năm 50, ta tiến hành cải cách ruộng đất như đã nói ở trên.

+ Cuối những năm 50 ta đã theo Mao chủ trương TIẾN VỌT VỀ NÔNG NGHIỆP, dựa trên "kỹ-thuật CẤY DÀY".

  • Ai bảo rằng cấy thưa thì thừa thóc.

  • Cấy dày thì có cóc ăn.

Cả một chiến dịch rầm rộ tuyên truyền, giáo dục cho cái "GẬY THẦN CẤY DÀY”

Đồng chí Nguyễn Văn Trân đã thay mặt Chính phủ, đứng trên diễn đàn của hội trường câu lạc bộ quốc tế, thuyết trình về công tác kế hoạch trước gần 1 000 cán-bộ trung cao cấp đã phát biểu đại khái như sau : (tôi trực tiếp được nghe anh không nhớ nguyên văn được). 

"Ta liệu đấy mà cấy lúa, ta thì không có kho tàng, các nước láng giềng họ theo phương pháp cấy dày, họ cũng dư thừa nhiều thóc lắm rồi. Ta cấy nhiều, khi gặt về, kho không có, mà cũng chẳng bán hoặc cho ai vay được đâu, thóc gặt về để vào đâu".

+ Sang đầu thế kỷ 60, ta tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, cải tạo sản xuất thủ công, đồng thời đưa nông thôn vào con đường hop tác hóa.

- Cải tạo xã hội Chủ nghĩa nghĩa là xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa để giải phóng cho sức sản xuất bung lên. Nhưng khi phá hoại quan hệ sản xuất cũ đồng thời ta lại có phá hoại cả lực lượng sản xuất, bằng chủ nghĩa thành phần của Mao, ta đã gạt ra khỏi sản xuất, thâm chí trừng trị nữa, biết bao tài năng tổ chức quản lý kinh doanh, tài năng khoa học kỹ thuật.

- Đối với người lao động trực tiếp sản xuất : công nhân, thợ thủ công, nông dân ta thường nói : giai cấp bóc lột nó cố làm sao giữ cho họ ở mức yên tâm cần cù lao động, tuy sống nghèo túng, để làm giàu cho chúng, khống nổi loạn để chống chúng. Còn ta làm cách mạng quan hệ sản xuất nghĩa là phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với sức sản xuất thì người lao động sẽ có hứng thú sản xuất. Nhưng trên thực-tế, sau khi cải tạo kết quả đã ngược lại, không hề có chuyện người lao động có hứng thú sản xuất, đến yên tâm sản xuất cũng ít có, phổ biến là chán nản sản xuất. Ví dụ : nông dân xã viên chỉ lao động cho hợp tác xã một cách tắc trách, ềnh àng 3,, 4 tiếng một ngày, còn toàn tâm toàn ý dành làm ăn riêng lẻ.

Nguyên nhân là do chúng ta đã chối bỏ quy luật giá trị và nguyên tắc lợi ích vật chất của học thuyết Mác-Lênin, mà áp dụng chủ nghĩa duy ý chí của Mao.

+ Về hợp tác hóa nông nghiệp, chủ nghĩa Mác-Lênin dạy rằng : chỉ tiến hành hợp tác hóa khi đã có đủ 2 điều kiện : 

  1. sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới hóa một phần, nghĩa là lực lượng sản xuất đã được xã hội hóa. 

  2. Hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện của người nông dân. Phải để người nông dân có thì giờ suy nghĩ trên miếng ruộng của họ. Nhưng từ đầu những năm 60, ta đã đưa người nông dân vào hợp tác hoàn toàn không có cả 2 điều kiện trên, chúng ta đã áp dụng chủ nghĩa nóng vội, nhảy vọt của Mao.


X


Nhìn chung lại, trên vấn đề này chúng ta phải tự giải đáp cho chúng ta một câu hỏi được đặt ra : 

- Giai cấp tư bản đã bóc lột của người công nhân phần thặng dư giá trị, nó chi trả cho họ phần giá trị lao động cần thiết mà thôi. Vậy chúng ta, những người cộng sản, là Đảng lãnh đạo, chúng ta có trả lại cho người lao động phần thặng dư giá trị của họ không? Hay là chúng ta đã phân phối cho họ dưới mức giá trị lao động cần thiết?


X


Kinh nghiệm thế giới cho biết rằng : cuối thể kỷ 19, chỉ có một nước nông nghiệp lạc hậu duy nhất có thể “tự lực cánh sinh" mà công nghiệp hoá được là Nhật Bản với những chủ-trương và biện pháp khá độc đáo, nhưng vẫn không tránh khỏi việc bóc lột nông dân nặng nề. Còn sang thế kỷ 20, sau đại chiến thể giới 191l-1918 không có một nước nông nghiệp lạc hậu nào có thể tự lực cánh sánh sinh công nghiệp hóa nền kinh tế của mình được cả, nhất thiết phải dựa vào những nước đã có công nghiệp phát triển.

Ngay Liên Xô, sau cách mạng tháng 10, tuy đã có 1 số cơ sở công nghiệp nào đó mà Lênin vẫn phải dựa vào vốn nước ngoài bằng chính sách kinh tế mới vô cùng sáng tạo. Từ kinh nghiệm thực tế của Liên Xô, Lênin đã dạy chúng ta rằng một nước lạc hậu muốn không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa mà lên được chủ nghĩa xã hội thì phải có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến.

Ta đã không nghe theo Lênin, ta đã nghe theo Mao Trạch Đông là phải TỰ LỰC CÁNH SINH.


Đầu những năm 60, toàn Đảng đã được học tập như sau : 

Bất cứ nước nào, muốn tiến lên khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu, thì phải tạo ra vốn ban đầu để công nghiệp hóa, cần có vốn ban đầu giai cấp tư sản thế giới di bóc lột, tàn nhẫn giai cấp nông dân, chúng. ra đời các lỗ chân lông từ đầu đến chân đều vấy bùn và máu. Còn ta là xã hội chủ nghĩa, ta không được phép bóc lột nông dân như chúng nó. Mà không còn con đường nào khác là phải thắt lưng buộc bụng để tích lũy làm vốn ban đầu. Sau 16 năm thực hiện đường lối này, Đảng đã không tổng kết xem nó đúng hay nó sai, nhưng chỉ biết rằng ta vẫn chưa có vốn ban đầu để tiến hành công nghiệp hóa.

Đến đường lối kinh tế của Đại hội 4, năm năm (1976-80) không nói đến vốn ban đầu, thắt lưng buộc bụng, tự lực cánh sinh nữa, nhưng thực nhất vẫn là tự lực cánh sinh, vốn ban đầu vẫn do nông nghiệp và công nghiệp nhẹ tích lũy nên.

Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.

Trong hoàn cảnh kinh tế xã hội của nước ta sau chiến tranh, dù có phát triển nông nghiệp về công nghiệp nhẹ đến tột độ chăng nữa không chắc đã đủ để nuôi nhau, lấy gì mà tích lũy để ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Huống hồ không có công nghiệp nặng thì lấy gì để phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý: thế nào là ưu tiên, thế nào là hợp lý ? thì đã không được cụ thể hóa. Hết kế hoạch 5 năm này ta lại không tổng kết. Trên thực tế ta không những đã không ưu tiên phát triển được công nghiệp năng một cách hợp lý, và cả nông nghiệp và công nghiệp nhẹ cũng không phát triển được, trong khi ta đã đầu tư vào đấy một số tiền khổng lồ (gần 20 tỷ) phần lớn là vốn đi vay của nước ngoài phải trả lãi. Kết quả là vốn không trả được đã đành, đến lãi cũng không trả được. Ấy thế mà ta đã không tổng kết để rút kinh nghiệm.

Kế hoạch 5 năm 1976-1980 thực sự ta đã phạm sai lầm lớn và nguyên tắc trong chính sách đối ngoại,

Nguyên tắc Mác - Lênin dạy chúng ta rằng khi một Đảng vô sản quốc tế đã nắn được chính quyền thì phải liên minh, liên kết về kinh tế ngay với các đảng anh em đã nắn chính quyền, tạo lập một nền kinh tế thế giới duy nhất được coi là một toàn thể và được điều chỉnh theo một kế hoạch toàn cục của giai cấp vô sản thuộc tất cả các dân tộc, những nước lạc hậu phải dựa vào sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiến tiến để đi lên, không phai trai qua giai đoạn phát triển tư bản chu-nghĩa.

Đáng lẽ coi việc đặt nền kinh tế nước ta trong "một toàn thể cộng đồng xã hội chủ nghĩa, được điều khiển theo một mô-hinh toàn cục" coi các nước anh em là đồng minh chiến lược bất di bất dịch, thì Đảng ta lại đi theo chính sách đối ngoại hợp tác đa phương, không biệt bạn thù, đồng minh chiến lược và đồng minh chiến thuật. Ta đã giao việc khai thác dầu khí cho cho nước tư bản đã thất bại, nay lại giao cho Liên Xô, chậm mất 7 năm. Đó là một sai lầm vô nguyên tắc. 

Một hiện tượng làm cho nhiều đồng chí chúng ta rất băn khoăn là : Báo Nhân dân ngày 29/1/1967, đăng toàn văn bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Ri-gân, không có phê phán.

Sai lần vô nguyên tắc thứ hai là: 

Trong những năm 60, ta chủ-trương : tự lực cánh sinh, thắt lưng buộc bụng để tích luỹ lấy vốn ban đầu thực hiện công nghiệp hoá đường lối kinh tế 19761985 tạ đi mượn tiền cho nước ngoài để làm vốn ban đầu. Ta đã không phân biệt bạn thù, coi nước ngoài nào cũng chỉ nước ngoài và đã quá tin tưởng vào "HẢO TÂM" của các nước tư bản, yên trí rằng chúng sẽ "xung phong giúp đỡ ta, nhưng cũng may là chúng đã giúp đỡ chung được là bao.

Với số vốn vay được ta lại sa vào "cái hố tự lực cánh sinh” có tiền trong tay, ta tự giải quyết lấy, mọi công việc của chúng ta, không cần sự giúp đỡ của ai cả, trong khi Hội đông tương trợ kinh tế của 9 nước anh em đã thành lập được 27 năm rồi, với chức năng mục đích đề ra ngay từ ngày mới thành lập, năm 1949 : 

- Tiếp tục phát triển sâu và hoàn thiện quan hệ hợp tác và đẩy mạnh liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa, 

- Phát triển các nền kinh tế quốc dân theo số-hoạch.

- Nâng cao trình độ công nghiệp hóa những nước có công nghiệp kém phát triển.

- …. v. v…..

và lúc nào cũng sẵn sàng đón nhận chúng ta.

Trong quá trinh hoạt động và trưởng thành gần 30 năm, Hội đông tương trợ kinh tế đã hình thành những khái niệm "Hiện đại" mang tính chất nguyên tắc, quy luật :

- nhất thể hóa kinh tế (intégration économique).

- Phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa (division socialiste internationale du travail).

- Tương xâm kinh tế (interpénétration économique).

Ta đã không chấp nhận nguyên tắc liên kết kinh tế của Lênin, ta đã tự lực cánh sinh tiêu xài một số vốn đi mượn khổng lồ để không đem lại một hiệu quả kinh tế nào, đã đưa nước nhà đứng trước cửa miệng hố vỡ nợ. Xét rằng ta nên nghiêm khắc tổng kết việc thực hiện kế hoạch 5 năm vừa qua.

x

Xin bàn đến đường lối kinh tế cụ thể của Đại hội tức là kế hoạch 5 năm 1981-1985.

Nếu năm 1949, viên đại sứ Mỹ ở Tiệp Khắc R.Stang-ga đã chế giễu Hội đồng tương trợ của chúng ta là :"Hội góp cổ phần của những người không xu dính túi", thì chúng ta cũng đã bước vào kế hoạch 5 năm mới này không xu dính túi (hậu quả của kế hoạch 5 năm trước), nên đã không đặt vấn đề tìm ra vốn ban đầu để công nghiệp hóa nữa,

Dự thảo báo cáo chính trị của Đại hội đã ghi : 

“Trong kế hoạch 5 năm 1981-1985 và những năm 80, cách thức tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa chủ yếu lài đưa nông nghiệp một. bước lên sản xuất lớn xã-hột chủ nghĩa là tiêu điểm để xây dựng cơ cấu công nông nghiệp hợp lý, kết hợp đúng đắn phát triển nông nghiệp,mở mang ngành nghề, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và xây dựng công nghiệp nặng.”

Báo cáo còn nhấn mạnh:

:...Từng tỉnh, từng huyện, trừ những vùng chuyên canh cây công nghiệp và một số vùng có hoàn cảnh đặc biệt phải tự giải quyết nhu cầu về lương thực thực phẩm tại địa phương mình và đóng góp cho nhà nước.

….. Đặc biệt phải có biện pháp có hiệu quả đẩy mạnh trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, đay và các cây có sợi khác để giải quyết nguyên liệu cho sản xuất về mặc. Từng tinh, từng huyện phái lo ăn cho nhân dân". 

Trong 10 năm nữa, chủ yếu là phát triển nông nghiệp, mấy chục năm nay, giai cấp nông dân đã phải sản xuất ra lúa gạo, thịt cá để nuôi chúng ta, nay lại phải tự sản xuất ra vải để mặc. Gần một thế kỷ nay, người nông dân Việt Nam chủ yếu là mặc vải công nghiệp, (trừ nông dân miền núi), từ nay trở di lại phải cọc cạch cái khung cửi dệt tay để có cái che thân, bấy nhiêu việc nặng nhọc đều đổ lên lưng giai cấp nông dân. Vậy mà chủ-trương rằng phát triển nông nghiệp trong 10 năm là tiêu điểm để xây dựng công nghiệp nặng thì làm sao nổi. Tiêu điểm nghĩa là gì? đến năm nào thi xây dựng công nghiệp nặng: 

Năm 1977, trong báo cáo tổng kết hội-nghị Trung ương lần thứ 6, đồng chí Tổng bí thư có phê bình : Ta đã đi những bước hơi nóng vội, mới là thời kỳ đầu của bước quá độ, chúng ta đã xây dựng kế -hoạch như là lúc xã hội chủ nghĩa đã hoàn chỉnh.

Vậy thực sự bước quá độ đã bắt đầu từ năm nào? 10 năm tới đây chưa có cơ sở, khả năng để xây dựng công nghiệp nặng thì con là bước quá độ nữa không?

Giải thích văn kiện Đại hội 5, xã luận báo Nhân dân ngày 21/12/1981 la giải thích: "Nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là ta hết sức mình đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, tự làm lấy đủ än.

……….. Tự lực tự cường đáp ứng bằng được yêu cầu số một là vấn đề ăn…………………..

Chúng ta chỉ có thể sống bằng kết quả lao động của mình, không thể sống quá khả năng mà chúng ta có". 

Nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là đem hết sức mình đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, tự làm lấy đủ ăn. Chúng ta đây là giai cấp nông dân hay là toàn dân? Toàn dân tự làm lấy đủ ăn ư ? 

Cho đến ngày hôm nay, sau 5 năm thực hiện kế-hoạch 1976-80, với những con số chỉ tiêu cao vòi vọi, thì đời sống nhân dân đã xuống đến mức báo động, nạn tham nhũng đã gặm nhấm lên đến đội ngũ bộ, thứ-trưởng, nạm mãi dâm đã tấn công cho đến các cô giáo. Chính phủ thi suýt nữa phi tuyên bố vỡ nợ trước quốc -tế.

Còn triển vọng kết quả của kế hoạch 5 năm tới? 10 năm tới sẽ ra sao đây ?

Mấy chục năm nay, giai cấp nông dân đã phải sản xuất ra gạo, ra thịt, ra rau để nuôi chúng ta, từ nay trở đi họ còn phải tự sản xuất ra vải để che thân nữa. Vậy nếu : 

“Chúng ta chỉ có thể sống bằng kết quả lao động của mình, không thể sống quá khả năng mà chúng ta có. (báo Nhân dân). Nghĩa là không còn giúp đỡ của ai cả, bất chấp ? Nhất thể hóa kinh tế, bất chấp phân công lao động quốc tế xã hội chủ-nghĩa, bất chấp liên kết kinh tế xã hội chủ-nghĩa, thì chúng ta sẽ sống ra sao đây?

 Đường lối của Đảng đã sai lầm hay chỉ là sai lầm ở khâu chỉ đạo thực hiện mà thôi?


X


KẾT LUẬN


Mục đích duy nhất của bản tham luận này là tìm ra nguyên nhân những sai lầm trong đường lối kinh tế của Đảng ta là: 

Chúng ta đã đi chệch học thuyết Mác-Lênin, đã không đứng trên lập trường quốc tế vô sản, đã tiếp thu khá sâu đậm chủ nghĩa Mao (có Mao và không Mao) để xây dựng đường lối kinh tế nên đã đem lại hậu quả tai hại như đã trình bày ở trên.

Xin phép được giải trình thêm : 

Để giải thích, truyền đạt tinh thần của đường lối kinh tế của Đại hội 5, xã luận báo Nhân dân ngày 6/1/1982 đã "tuyên bố : 

"Những người sáng lập chủ nghĩa xã hội, không giải quyết những vấn đề chưa có đầy đủ những dữ kiện cụ thể. Đó là sứ mạng của những người kế tục, là hoạt động sáng tạo của những người Macxit-Leninit và của quần chúng cách mạng ở tất có các nước".

Nếu nói trong vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang, vấn đề chiến lược chiến thuật quân sự để đánh bại quân xâm lược thi quả thực ta đã có nhiều sáng tạo vĩ đại và đã thành công vô cùng rực rỡ, cả thế giới đầu không ngờ tới.

Còn trong lĩnh vực xây dựng và phát triển kinh tế trong hon hai hai chục năm qua, ta đã góp những vấn đề gì mà Các Mác, Ăngghen, Lênin, nhất là Lênin chưa đề cập tới để ta phải tự sáng tạo lấy. Những sáng tạo của chúng ta đã đem lại hiệu quả kinh tế như thế nào?

  • Hợp tác hóa nông nghiệp ư ? 

  • Cải tạo công thương nghiệp tư bản tự doanh ư ?

  • Cấy dày ư ?

Để chuẩn bị xây dựng báo cáo chính trị của Đại hội 5 trong 3 ngày 9-12 tháng 2/81, đồng chí Lê Duẩn phát biểu những ý lớn, trong đó có những ý như sau :

"Ta là học trò của nó và Lênin, nhưng ta nói có những điểm khác với Mác và Lênin". 

  • Sáng tạo của Mác là giá trị thặng dư và chuyên chính vô sản.

  • Sáng tạo, của Lênin là chế độ xô viết cộng với điện khí hóa thành Chủ nghĩa cộng sản.

Mác chưa nói làm chủ tập thể của nhân dân lao động vì Mác chỉ nói công nhân và nông dân. Angghen cũng chỉ nói : "chờ nông dân". Lênin nói liên minh công nông nhưng cũng chưa thấy rõ cơ cấu công nông nghiệp.

Công cụ là công nghiệp rồi, vậy từ lâu loài người đã sống trong cơ cấu công nông nghiệp rồi………………… Từ đó ta nói : Nhân dân lao động làm chủ tập thể và nói thể là chuyên chinh vô sản rồi……………………………….

Sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa có những quy luật inhérentes à la chose, Đây là sáng tạo của thời đại. Trong thời đại có luật này, nhưng phải sáng tạo mới phát hiện ra được quy luật. Có thời đại thì phải có sáng tạo………… Xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động là phát hiện quy luật cao nhất của chủ nghĩa xã hội.

+ Ta cho rằng : chưa có công nghiệp hiện đại mà nông nghiệp lên sản xuất lớn được, vì có làm chủ tập thể có hai điều : 

  • cả nước lên nông nghiệp 

  • Có huyện.

+ Đơn vị lịch sử để đưa nông nghiệp lên, gắn trồng trọt với chăn nuôi, công nghiệp với nông nghiệp, đó là huyện. 

+ Nông nghiệp có thể vừa thâm canh, vừa mở rộng diện tich qua xuất nhập khẩu mà tự giải quyết các vật-tư kỹ thuật cần thiết. Đó là khả năng lịch sử.

Phân tích những ý kiến lớn của đồng chí Lê Duẩn trên đây, ta thấy được mấy điều :

  • Cả Mác Ăngghen, Lênin đều đã lạc hậu với thời đại chúng ta.

  • Những người Macxit-Lêninnit (học trò của Mác-Lênin) ở thời đại mới thì phải có sáng tạo mới để tiến 1ên, như xã luận báo nhân dân đã viết.

  • Ta tự lực cánh sinh vẫn lên được chủ nghĩa xã hội. Đó là khả năng lịch sử của ta và ta đã có 2 sáng tạo lớn : xây dựng chế độ làm chủ của nhân dân lao động.

  • Xây dựng cơ cấu công nông nghiệp trên địa bàn huyện, huyện là đơn vị lịch sử để đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, không cần đến công nghiệp hiện đại.

Chúng ta ai cũng biết rõ rằng, mọi chủ nghĩa, mọi học thuyết, mọi sáng tạo cũng chi có giá trị sau khi nó đã được đưa ra kiểm nghiệm qua thực tiễn xã hội. Thực tế là thước đo cao nhất, chính xác nhất của mọi giá trị. Vậy :

a) Cái đường lối làm chủ tập thể đã được xác định trong Đại hội 4 (1976) vy từ đó đến nay (sau 6 năm) nó đã được đem áp dụng ở đâu, hiệu quả kinh tế của nó là gl? Không ai biết cả !

b) Chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị của đồng chí Tổng bí thư, nhà nước và nhân dân đã bỏ bao nhiêu sức người sức của vào xây Quỳnh Lưu thành một huyện có cơ cấu công nông nghiệp điển hình, làm mẫu mực cho 400 huyện khác học tập xây dựng theo. Biết bao nhiêu đoàn cán bộ trong cả nước đã đến tham quan Quỳnh Lưu để học tập, tốn bao nhiêu thì giờ va tiền bạc. Sau 6, 7 năm xây dựng. Hiệu quả kinh tế của Quỳnh Lưu là bao nhiêu ? Ta hãy để người dân Quỳnh Lưu trả lời là chính xác hơn cả. Một thất bại nặng nề !! Ta cần tổng kết gấp để làm bài học cho 400 huyện sắp tới đây phải xây dựng (theo báo cáo của Đại hội 5).

x

Đến đây vấn đề thật đã rõ ràng. Ta nghĩ rằng Mác, Ăngghen, Lênin đều đã qua đời quá lâu rồi, còn sinh thời các người đã thông có "đầy đủ những dữ kiện cụ thể" về công việc của chúng ta ngày nay. Thời đại của chúng ta thì chúng ta phải "sáng tạo", "ta có cách của ta".

- Hợp tác hóa nông nghiệp.

- Cải tạo công thương nghiệp tư doanh.

- Cấy dày.

- Tự lực cánh sinh để có vốn ban đầu.

- Tự lực cánh sinh sử dụng một số vốn khổng lồ.

- Xây dựng chế độ độ làm chủ tập thể.

- Xây dựng cơ cấu công nông nghiệp huyện.

- v. v…..

theo cách của ta.

và tất cả đều thất bại.

Chỉ vì ta đã xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, đã tiếp thu sâu đậm chủ nghĩa Mao và nhiều mặt. Xuất phát từ chủ nghĩa duy ý chí duy tâm chủ quan) và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.


X


 Kính thưa các đồng chí đại biểu thân yêu của tôi, 

Đây 1 tiếng kêu đau thương của một đứa con của Đảng, mới bắt đầu trưởng thành về mặt đảng viên thì đã lão thành về tuổi tác. Tôi năm nay đã 70 tuổi rồi. Hiến dâng bản kiến nghị này lên Đại hội, tôi không có một mục đích gì khác là: Mong muốn Đảng ta thấy sai thì sửa để tiến lên. 

Tối đề nghị toàn Đảng hãy thực hiện nghiêm chỉnh 2 lời giáo huấn sau đây của 2 lãnh tụ của chúng ta, đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Trường Chinh.

1- Nhân kỷ niệm 50 ngày thành lập Đảng, đồng chí Lê Duẩn chỉ thị :

"Nhằm xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong thời gian lịch sử tương đối ngân, chúng ta ra sức mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ yếu là với Liên Xô và Hội đồng tương trợ kinh tế, coi đó 1 bộ phận hợp thành của đường lối chiến lược kinh tế, chỗ dựa cực kỳ quan trọng để tạo cơ sở kinh tế mới, biện pháp có hiệu lực để xây dựng công nghiệp và phát triển nông nghiệp". (Báo Nhân dân ngày 3/2/1980).

2 - Nhân dịp kỷ niệm 3 năm chiến thắng quân bành trướng Trung Quốc, đồng chí Trường Chinh chỉ thị : 

"Phải vạch trần những luận điệu chiến tranh tâm lý, giả danh cách mạng, phê phán những luận đề Mao-it, giả Macxit và tẩy trừ những ảnh hưởng độc hại của chu nghĩa Mao để bảo vệ đường lối đúng đắn của Đảng ta, bảo vệ trận địa tư tưởng của quân và dân ta, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin". (Báo Nhân dân ngày 17/2/1982).


Tôi xin hết lời. 

Chúc Đại hội thành công rực rỡ.


KÍNH BÚT

THÁNG 3 NĂM 1982


CHU ĐÌNH XƯƠNG

31 Nguyễn Đình Chiểu

Hà Nội


https://www.facebook.com/ngovinh.long/posts/3562910143769623?__cft__[0]=AZVG9ylK0gjFyEVrTUmfgWPBCGB2LWcBXaIdAaCzLqoHWKMZeWNvVRrYCP08b_bLYwVk_vRouLSnPycAX7AMQyccG_hb4AKIw18UMaCX3xR3wquQzC0WBB_UP7oWl2xFnH4&__tn__=%2CO%2CP-R 


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

NGUYỄN HỮU ĐANG NÓI VỀ NGÀY LỄ ĐỘC LẬP 2.9.1945

 NGUYỄN HỮU ĐANG NÓI VỀ NGÀY LỄ ĐỘC LẬP 2.9.1945

(Trả lời phỏng vấn Thụy Khuê, đài RFI, ngày 3.9.1995)

Thụy Khuê: Thưa ông Nguyễn Hữu Đang, 50 năm sau ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, có lẽ hiện nay không ai có thẩm quyền hơn ông để nói về ý ,nghĩa của ngày lễ này vì chính ông đã là trưởng ban tổ chức ngày lễ Độc lập mùng 2 tháng 9.

Nguyễn Hữu Đang: Thưa bà, khi tôi được chủ tịch Hồ Chí Minh trao nhiệm vụ tổ chức ngày này, lúc bấy giờ chủ tịch cũng như Trung ương đảng đề ra chỉ là một ngày lễ để chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân, đồng thời đọc một bản tuyên ngôn độc lập đối với dân trong nước và đối với cả thế giới. Sau đó, tôi cùng với ban tổ chức trao đổi ý kiến, muốn nâng cao giá trị ngày lễ đó lên cho nên chúng tôi đã đặt tên nó là Ngày Độc Lập để nói lên ý nghĩa trọng đại của ngày hôm đó trong lịch sử Việt Nam. Ngày Độc lập đó có bốn tính chất như thế này: Một là tính chiến đấu của nó, hai là tính khẩn trương của nó, bà là tính nhân dân của nó, thứ tư là tính độc đáo của nó. Tính chiến đấu của nó là do tình thế nghiêm trọng của nước Việt Nam lúc bấy giờ. Từ năm 1943, chính phủ lâm thời kháng chiến của Pháp thành lập ở Alger, tướng de Gaulle đứng đầu chính phủ, lập tức nghĩ ngay đến việc thu hồi lại thuộc địa đã mất, quyết tâm lấy lại Đông Dương bằng vũ lực. Chính phủ de Gaulle, khi đưa lực lượng vũ trang sang chuẩn bị lấy lại Đông Dương, phất cao ngọn cờ gọi là chính nghĩa của mình, đánh bọn giặc cỏ phiến loạn. Điều đó làm cho nhân dân Pháp hiểu nhầm cách mạng Việt Nam. Chúng tôi không được sự ủng hộ của nhân dân thế giới và nhân dân Pháp, cho nên vấn đề là phải chính thưc hóa nhà nước mới, chính thức hóa chính phủ lâm thời để thế giời trông vào, biết rằng chính nghĩa là thuộc về chúng tôi chứ không thuộc về thực dân Pháp. Chính thức hóa một nhà nước mới và một chính phủ được nhân dân ủng hộ. Tất cả hai điều đó, chúng tôi long trọng công bố trước nhân dân trong nước cả thế giới. Ngoài những khó khăn do phe thực dân gây ra còn có một cái khó khăn cực lớn của Trung quốc, chính phủ Tưởng giới Thách. Ngày mùng 9 tháng 8, chính phủ Trung quốc tuyên bố sẽ đưa quân vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật theo quyết định của Hội nghịa Postdam tháng 7 năm 1945. Tiếp theo, ngày 27 tháng 8, quân Tàu Tưởng thuộc quyền chỉ huy của tướng Lư Hán, vượt biên giới Hoa Việt vào nước ta. Theo chân họ có các tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và Việt Nam Cách mạng đồng chí hội của Nguyễn Hải Thần. Quân của Lư Hán cùng với hai đảng chống Việt Minh, chống từ trước chứ không phải về sau đâu, không dự vào mặt trận đoàn kết, mặt trận đánh Pháp bao giờ cả, hai đảng ấy chống Việt Minh đến cùng, nguyện cuộc tấn công của phe thực dân Pháp đã là một mối đe dọa lớn với nền độc lập của chúng ta rồi, thêm vấn đề Trung quốc vào đấy lại còn nguy hiểm hơn nữa. Tính chất khẩn trương là như thế. Tính chiến đấu đã nói rồi. Còn tính nhân dân thì cũng gọn thôi vì sau khi chúng tôi đang thông cáo, nhân dân ủng hộ, tham gia rất tích cực, người góp của, người góp công. Tất cả việc chúng tôi làm đều không có phương tiện của nhà nước, mà toàn là phương tiện của nhân dân đem đến cả. Đấy là tính nhân dân. Tính thứ tư là tính độc đáo thì chúng tôi tổ chức một buổi mít-tinh huy động thành phố Hà Nội, huy động tất cả mọi người, không trừ mùột ai cả, coi như thành phố thiết quân luật, nhân dân đi mít-tinh, đi từ nửa đêm, cơm nắm muối vừng, đi từ sáng sớm cho đến tối đêm mới trở về nhà. Đó là một tính độc đáo mà sau này không ai làm như vậy cả.

T.K.: Thưa ông, ông đã làm sao để có thể tổ chức một ngày lễ lớn như thế?

N.H.Đ.: Vấn đề là chúng tôi bắt đầu việc tổ chức như thế nào. Hồ chủ tịch, khi giao như thế thì chỉ còn có 4 ngày nữa thôi. Bốn ngày mà làm việc lớn như thế, không phải là tổ chức ở Hà Nội đâu, mà tổ chức trong cả nước, thì bốn ngày làm sao đủ để làm được, nhất là lúc bấy giờ chúng tôi không có bộ máy gì cả. Ông cụ giao cho tôi một mình, về rồi tôi tập hợp một số anh em, phương tiện thì chỉ có hai bàn tay trắng, một đồng xu không có, một ki-lô gỗ, ki-lô xi măng cũng không có thì làm thế nào bây giờ trong hoàn cảnh khó khăn quá như vậy. Tôi có nói là còn ít ngày nên khó quá thì cụ lại bảo có khó mới giao cho chú chứ. Qua câu đó tôi biết là khó cũng phải làm, mà làm ngay. Tôi hiểu không thể hoãn, không thể chậm được. Khi giao việc như thế, lúc bấy giờ cũng đã 10 giờ đêm rồi, tôi lập tức trở về bộ Tuyên truyền. Ở thời điểm đó chưa thành lập chính phủ có phân công bộ nọ bộ kia, lúc bấy giờ tôi tạm thời đảm nhiệm thứ trưởng bộ Tuyên truyền. Tôi chạy về bộ Tuyên truyền, gọi dây nói cho các tờ báo, tôi đọc ngay lập tức cho họ một thông cáo tôi viết vội, kêu gọi quốc dân ai có nhiệt tình với nền độc lập đến tham gia việc tổ chức ngày hôm nay. Nhân dân hưởng ứng rất mạnh mẽ. Tôi giao cho anh Trần Kim Xuyến là Đổng lý văn phòng bộ, liên lạc với các anh bạn ở trong ba tổ chức là hội Truyền bá quốc ngữ, hội Văn hóa cứu quốc và Hướng đạo sinh để thành lập ban tổ chức ngay tối hôm đó. Trước hết là chọn địa điểm. Địa điểm thì chọn ở đâu bây giờ? Đưa ra bãi đá bóng thì khôn long trọng. Có một khu rộng rãi bây giờ gọi là quảng trường, ngày xưa tiếng Pháp gọi là rond point, chẳng nhẽ lại bảo là mời đến cái rond point phủ Toàn quyền à? Nghe nó vô duyên và kệch cỡm thế nào đó. Chúng tôi cũng lợi dụng việc chính phủ Trần Trọng Kim đã đặt tên chỗ đó là Vườn hoa Ba Đình, chúng tôi bảo thế thi được, mời nhân dân đến Vườn hoa Ba Đình biểu tình. Số người hôm đó trên nửa triệu người.

T.K.: Xin ông nói về vai trò của cụ Hồ. Giả sử nếu không có cụ Hồ thì Cách mạng tháng tám có thể thành công được hay không, thưa ông?

N.H.Đ.: Vai trò của Hồ chủ tịch rất quan trọng; Cụ có thành lập Mặt trận Việt Minh thì mới có Cách mạng tháng tám. Nếu đảng cộng sản đứng ra vận động cuộc Cách mạng tháng tám, tôi tin là không được kết quả như là Mặt trận Việt Minh, đó là một mặt trận gồm nhiều thành phần, nhiều tầng lớp tham gia cho nên phát triển mạnh, được nhân dân ta hưởng ứng hơn chứ còn nếu đảng cộng sản đứng ra thì vẫn bị hạn chế đấy. Cho nên Hồ chủ tịch đã sáng suốt thứ nhất là chủ trương Mặt trận dân tộc để thu hút quần chúng, thứ hai là cụ đã nhằm được đúng thời cơ, chiến tranh thế giới tạo ra, đưa đến đảo chính Nhật, rồi đưa đến Nhật đầu hàng, đấy là một thời cơ vô cùng quý giá. Nếu không có thời cơ đó thí Cách mạng tháng tám cũng không làm gì được, dù có thiên binh vạn mã cũng không làm trò gì được. Đảng cộng sản lúc bấy giờ có 5000 người chứ ăn thua gì đâu. Quần chúng tự khắc người ta nổi lên thành ra một làn sóng cách mạng đưa đến kết quả như vậy.

T.K.: Tại sao từ một khí thế của ngọn sóng toàn quốc kháng chiến những năm 45-46 lại đi đến chỗ đổ vỡ, bắt bớ, và thủ tiêu những đảng phái đối lập những năm sau đó?

N.H.Đ.: Phải nói như thế này là những cuộc đấu tranh của nước nào cũng vậy, khi nó rộng rãi quá, ban đầu nó đoàn kết, về sau nó phân hóa. Nó có những mâu thuẫn vì trong xã hội các tầng lớp có phải nhất trí quyền lợi với nhau đâu; không nhất trí về quyền lợi, có khi còn không nhất trí về quan điểm với nhau nữa, đến lúc phân hóa thì do mâu thuẫn quan điểm, mâu thuẫn quyền lợi thì phải đấu tranh với nhau. Điều này chúng ta còn lạ gì nữa, về chính trị thì một mất một còn chứ còn có dung hòa gì được nữa, có phải là việc gia đình đâu. cả hai đảng, chắc bà cũng nghĩ đến, là Quốc dân đảng và Cách mạng đồng minh hội không hề hợp tác với Mặt trận Việt Minh, lúc khởi nghĩa cướp chính quyền không hợp tác gì cả, nhưng sau khi đã có chính quyền rồi thì hai đảng đó dựa vào quân đội Tàu trở về nước, ý định là tranh quyền, cướp nước cho nên là hai bên đấu nhau. Nhưng rồi cuối cùng quân đội Tàu cũng thấy rằng không thể lật đổ chính quyền Việt Minh được, phản giàn xếp. Chúng tôi cũng rất mềm dẻo và đoàn kết với họ thành lập một chính phủ liên hiệp đấy. Thành lập chính phủ liên hiệp rồi vẫn không hết mâu thuẫn cho nên sau cũng đi đến đổ vỡ thôi.

T.K.: Ông vừa nói đến những đảng phái đối lập, nhưng đối với nội bộ đảng cộng sản cũng có những đổ vỡ. Tại sao từ một khí thế đoàn kết năm 45, 10 năm sau đó dẫn đến cuộc Cải cách ruộng đất và những vụ thanh trừng khác?

N.H.Đ.: Có thể hiểu việc đó như thế này: Ngay trong cương lĩnh của đảng Cộng sản Đông Dương cũng ghi rõ là làm cách mạng để tiến tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cho nên 10 năm sau, nhất định nước Việt Nam phải tiến lên chủ nghĩa xã hội và muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải tiến hành đấu tranh giai cấp, phải xóa bỏ địa vị, quyền lợi của hai giai cấp bóc lột là giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản. Trước kia đoàn kết Mặt trận giải phóng dân tộc, giờ đây phải đấu tranh giai cấp để tiến tới chủ nghĩa xã hội. trong đấu tranh giai cấp như thế thì quyết liệt lắm, có ảnh hưởng chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông là quá tả, rất ác liệt, cuối cùng Việt Nam cũng tiến hành đấu tranh giai cấp như thế. Diện gọi là đoàn kết cũng thu hẹp lại, xã hội tiến lên cần phải như thế, đây là tôi nói quan điểm của đảng cộng sản, cho nên có những cuộc cải cách ruộng đất. Sau này những đảng khác được thành lập cũng phải trên cơ sở phục tùng đảng cộng sản thì mới tồn tại được. Nếu không phục tùng đảng cộng sản thì không thể tồn tại được. Tiến lên đấu tranh giai cấp, tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải tăng cường chuyên chính, phải độc quyền lãnh đạo. Ai vi phạm những điều này sẽ bị xử trí rất nghiêm khắc.

T.K.: Trách nhiệm của cụ Hồ trong các công việc ấy, cụ Hồ có biết hay là người dưới lạm quyền?

N.H.Đ.: Cái việc mà người ta cứ nói là việc nọ việc kia là người dưới làm chứ cụ Hồ không biết, cụ Hồ không thực tiễn làm, đó là một cách nói không đúng sự thật. Người ta thấy việc gì mà có dư luận kêu ca, thắc mắc thì không muốn để cái kêu ca thắc mắc đó hướng vào vị lãnh tụ mà người ta suy tôn tuyệt đối, có thể nói là người ta thần thánh hóa cụ Hồ, có lý do như thế nhưng thực chất thì cụ Hồ không là người bị vô hiệu hóa trong bộ máy lãnh đạo của đảng và của dân tộc cả. Cụ Hồ lúc nào cũng là người có đầy đủ quyền hành, lúc nào cụ cũng sáng suốt, linh lợi, lúc nào cụ cũng có uy tín với dân và cũng có quyền đối với các đồng chí trong đảng, đối với những người lãnh đạo khác. Chắc bà cũng biết rằng những vị lãnh đạo khác của đảng, đối với cụ Hồ là học trò chứ không phải như ở các đảng cộng sản khác đâu. Cho nên uy tín của cụ Hồ, quyền hành của cụ Hồ bao giờ cũng rất vững, cụ Hồ biết hết cả, và việc đó cụ Hồ cũng đồng tình làm. Có thể nói tóm một câu là cho đến mấy năm sau cùng vì cụ yếu cụ ít chăm nom công việc, cụ khoán cho Bộ chính trị, cụ ít can thiệp trực tiếp, chứ còn trước đó thì bất cứ việc gì cũng là trong phạm vi chỉ đạo của cụ cả. Hay cũng ở cụ, dở cũng ở cụ. Cụ phải gánh trách nhiệm đó, điều đó rõ ràng; Có khi nào một lãnh tụ tối cao đối với dân tộc, lãnh tụ tối cao của đảng mà lại không có trách nhiệm về việc nọ, việc kia, điều đó không đúng. Chế độ gọi là báo cáo thỉnh thị rất chặt chẽ trong nội bộ đảng cộng sản và trong bộ máy chuyên chính của nhà nước cũng thế, nghiêm ngặt lắm.

T.K.: Xin cảm ơn ông Nguyễn Hữu Đang.

(Thụy Khuê, RFI ngày 3-9-1995).


Ảnh Nguyễn Đình Toán chụp năm 1995: Nguyễn Hữu Đang và Trần Văn Giàu (Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ năm 1945)

Tìm hiểu về tác giả Trần Dân Tiên

 

Tìm hiểu về tác giả Trần Dân Tiên

Cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch xuất bản lần đầu tiên tại Trung Quốc, sau đó là tại Paris (Pháp) và đến năm 1955 mới được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Hà Nội, sau đó được tái bản nhiều lần.
Trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (8) năm 1990, trong bài viết “Bài thơ chữ Hán đầu tiên của Hồ Chí Minh”, tác giả Phác Can, có một ghi chú về cuốn sách của Trần Dân Tiên như sau: “Ngoài các bản tiếng Việt, cuốn sách này ở Việt Nam hiện còn có bản dịch Trung văn, mang tiêu đề Hán là Hồ Chí Minh truyện (Tiểu sử Hồ Chí Minh) ghi tên tác giả bằng chữ tiếng Việt là Trần Dân Tiên, ghi tên người dịch bằng chữ Hán là Trương Niệm Thức, Bát nguyệt xuất bản xã ấn hành tại Thượng Hải, do công ty hữu hạn ấn loát Gia Hoa in lần thứ nhất vào tháng 6/1949 dưới thời Tưởng Giới Thạch.”

Tác giả cuốn tiểu sử nổi tiếng trên là Trần Dân Tiên, đây cũng là tác phẩm duy nhất đã được biết đến của tác giả này. Mục đích cuốn sách ra đời vào thời điểm đó để trả lời câu hỏi “Hồ Chí Minh là ai?”. Thông qua lời kể của một nhà báo có bút danh Trần Dân Tiên, người đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào những ngày đầu nước nhà độc lập, cuộc đời của nhà cách mạng và là người đứng đầu nhà nước Việt Nam độc lập được kể lại qua “những mẩu chuyện” như tên gọi của sách. Có lẽ việc xây dựng và củng cố hình ảnh về lãnh tụ Hồ Chí Minh được hình thành khởi đầu từ cuốn sách này vì trước đó cái tên Hồ Chí Minh rất mơ hồ với nhiều người với các tên gọi khác nhau. Qua cuốn sách này, tác giả muốn nhấn mạnh rằng tất cả các bí danh đó đều cùng là một người duy nhất – Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, hay Hồ Chủ tịch. Nội dung cuốn sách viết về Hồ Chủ tịch với các chi tiết sống động khiến độc giả thích thú, trừ cái tên Trần Dân Tiên là gây nhiều tranh cãi. Tác giả Trần Dân Tiên thực sự là ai? Những ý kiến về vấn đề này được chia làm hai luồng: Luồng ý kiến thứ nhất dựa vào phong cách của Hồ Chí Minh, đó là không bao giờ tự nói về mình, cho rằng cuốn sách này không phải do Hồ Chí Minh viết. Luồng ý kiến thứ hai cho rằng Trần Dân Tiên chính là một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đối với luồng ý kiến thứ nhất

Theo lời kể của ông Nguyễn Khôi (1), nguyên Phó Vụ trưởng Văn phòng Quốc hội, thì cuốn sách ra đời trong lúc cả trong nước và ngoài nước, cả kẻ địch và nhân dân đều ít ai biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà chỉ biết Nguyễn Ái Quốc, vì thế theo sáng kiến của ông Hoàng Quốc Việt, Thường vụ Trung ương Đảng gợi ý cho ông Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền viết giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, ông Trần Huy Liệu giao cho ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký trợ lý của Bác chắp bút, xong bản thảo thì ông Trần Huy Liệu sửa, viết bổ sung rồi qua các ông Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh đọc duyệt cho ý kiến để hoàn thiện, xuất bản. Tên bút danh Trần Dân Tiên có ý nghĩa: người công dân đầu tiên họ Trần của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Họ Trần có thể là gợi nhắc về gốc gác của những người chắp bút (Vũ Đình Huỳnh, Trần Huy Liệu, Trường Chinh) đều là người quê Vua Trần - Trần Hưng Đạo (Nam Định)? Ở thời điểm ấy bận trăm công nghìn việc, thù trong giặc ngoài như thế thì Bác làm sao mà ngồi chắp bút viết về mình được? Hơn nữa, Hồ Chủ tịch là người bình sinh khiêm tốn không khi nào muốn nói về mình (2).

Tuy nhiên đó cũng chỉ là những chuyện kể mà ông Nguyễn Khôi nghe được ở các vị thủ trưởng, các bậc đàn anh nói chuyện với nhau qua những lần tiếp xúc trong những câu chuyện dọc đường công tác kể chuyện về Bác, không phải là cứ liệu trên giấy trắng mực đen. 

Đối với luồng ý kiến thứ hai

Trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tác giả Trần Dân Tiên đã chọn cách tìm gặp gỡ những người đã từng quen biết với Hồ Chí Minh để hỏi chuyện, thu thập tài liệu rồi viết nên tác phẩm này, nhưng người ta tin rằng thực ra nó là tự truyện. Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức năm 1985 từng viết rằng: “...Đáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào, và của bạn bè trên thế giới, Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Thật là khó khăn để trong khuôn khổ 150 trang sách nhỏ, có thể nói được về cuộc đời của người chiến sĩ yêu nước vĩ đại của dân tộc trên suốt nửa thế kỷ đấu tranh…” (3). Ông Hà Minh Đức chú thích rằng thông tin này được lấy từ cuốn Những sự kiện lịch sử Đảng, nhà xuất bản Sự Thật, năm 1976, tập 1, trang 672. Và sau một phần tư thế kỉ, trong cuốn sách Sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh, trang 316, nhà xuất bản Khoa học xã hội 2010, ông vẫn giữ nguyên quan điểm từ năm 1985.

Mặt khác, trong bài viết Việt Nam, nhận thức và ứng xử với vấn đề tôn giáo của tác giả Mạc Thủy đăng trên tạp chí Cộng sản điện tử có đoạn: “...Còn nhớ những quan điểm rất rộng mở của Trần Dân Tiên - Hồ Chí Minh: “Khổng Tử, Giê-su, Các Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải có cùng một điểm chung đó sao....” (4).

Trước lời giới thiệu về cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, in lần thứ hai, năm 1976, trước  phần kể chuyện của Trần Dân Tiên, nhà xuất bản Sự Thật - cơ quan xuất bản văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam - đã viết lời dẫn nhập như sau: “... Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới…”. Nhà xuất bản không thể không biết rõ lai lịch của cuốn sách, lý lịch của người viết vì nếu không biết tác giả cuốn sách là ai thì không thể in trong nước và để các nhà xuất bản nước ngoài xuất bản rộng rãi bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Hơn nữa, một khi sách đã xuất bản thì dù tên tác giả có là bút danh chăng nữa thì cũng cần có một người thực với tên tuổi rõ ràng để nhà xuất bản trả nhuận bút.

Đôi điều trao đổi

Theo luồng ý kiến thứ nhất, Trần Dân Tiên là một nhà báo thì không có gì phải bàn luận.

Theo luồng ý kiến thứ hai, có thể lí giải:

Vào thời điểm những năm 1940, hiểu biết về thân thế của Hồ Chủ tịch rất ít, do vậy, cần có một tài liệu tuyên truyền trong nhân dân trong nước và giới thiệu với bạn bè quốc tế về những hoạt động cách mạng của Người. Lúc bấy giờ Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa được Liên Xô công nhận, còn nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì đến tháng 10/1949 mới được thành lập. Do đó, tài liệu này một mặt để tuyên truyền về cuộc cách mạng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản Việt Nam, mặt khác tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ra đời trong hoàn cảnh như thế, cuốn sách đã rất có ích cho cách mạng Việt Nam, là câu trả lời cho những người quan tâm muốn biết Hồ Chủ tịch là ai?

Ông Vũ Kỳ - thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngay sau những ngày đầu thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi, cũng từng nói rằng Bác Hồ không muốn nhắc nhiều đến bản thân mình. Xuất bản một cuốn sách nói về mình, thiết nghĩ Hồ Chủ tịch cũng không muốn nhưng Người cho rằng đó là một điều cần làm trong hoàn cảnh lịch sử ấy. Bất cứ cuộc cách mạng nào cũng cần có một lãnh tụ, hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ vấn đề này. Mặt khác, khi Trung ương Đảng đã quyết định lựa chọn để suy tôn Người, là một Đảng viên, việc Người chấp hành quyết định của tổ chức là điều đương nhiên. Vào thời kỳ bấy giờ, nhằm mục đích tuyên truyền về cuộc kháng chiến của dân tộc và người lãnh đạo cuộc cách mạng, có nhiều văn nghệ sỹ cũng đã vinh dự được giao nhiệm vụ khắc họa chân dung Bác như nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm, Diệp Minh Châu, nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn, họa sĩ Phan Kế An, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định và các nhà điêu khắc của Đức, Nga… Thấu hiểu đây cũng là một yêu cầu chính trị quan trọng như những nhiệm vụ khác, nên Người thường chủ động tạo điều kiện cho các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà báo, quay phim có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất. Tuy nhiên ở thời điểm vận nước nguy nan như thế, nhiều khả năng Chủ tịch Hồ Chí Minh không có thời gian để chắp bút mà có thể là những cán bộ thân cận, cốt cán nghe Bác kể những mẩu chuyện, những tâm sự của Người, sau đó ghi chép lại, tập hợp thành cuốn sách. Trong hoàn cảnh rất ít người biết về cuộc đời và những hoạt động cách mạng của Bác thì còn ai kể chính xác hơn chính bản thân Người?

Về cách dẫn dắt câu chuyện trong vai một nhà báo muốn tìm cách phác họa chân dung Hồ Chủ tịch, theo quan điểm của tác giả bài viết này, có thể đó là sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nên hiểu đó chỉ là một cách tác giả lựa chọn để đưa độc giả đi vào nội dung cuốn sách một cách tự nhiên. Khi viết truyện ngắn Vi hành nhân chuyến đi Pháp của vua Khải Định, Nguyễn Ái Quốc đã từng dùng hình thức nhập vai một người anh gửi thư cho cô em họ, kể lại những điều tai nghe mắt thấy về chuyến đi của Khải Định; trong loạt bài Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch 4 tháng sang Pháp, Người lấy bút danh là Đ.H, viết thư cho hai cô em Xuân và Lan, kể rằng mình được theo Cụ Hồ sang Pháp, đồng thời ghi lại hành trình để cho các em mình biết; trong truyện ngắn Giấc ngủ mười năm, lấy bút danh Trần Lực, Bác nhập vai một anh Vệ quốc quân người dân tộc Nùng; trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, với bút danh T.Lan, Bác lại vào cả hai vai người hỏi chuyện – người trả lời.

Về những dòng ca ngợi Hồ Chủ tịch trong cuốn sách, theo quan điểm của tác giả bài viết này, đó là do những đồng chí biên tập các câu chuyện đã viết thêm vào để tuyên truyền, định hướng trong nhân dân và giới thiệu với bạn bè quốc tế biết tình cảm kính yêu của nhân dân Việt Nam đối với vị lãnh tụ cách mạng của dân tộc.

Lời kết còn bỏ ngỏ?

Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh thì trong 170 bút danh, bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ hoạt động và 17 bí danh, bút danh đang được nghiên cứu xác minh thêm cũng không có tên Trần Dân Tiên. Bởi vậy, đây có thể là bút hiệu của một tập thể tác giả? Nếu đúng như vậy, việc hình thành tác phẩm, từ ý tưởng tới bản thảo đầu tiên đến tác phẩm hoàn thành, là một quá trình làm việc của cả một tập thể trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là người xem xét sau cùng để chỉnh lại cho đúng những chi tiết còn chưa chính xác. Bài viết nổi tiếng Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân tháng 2/1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được hình thành qua những bước tương tự. Bản thảo lần thứ nhất do đồng chí Tố Hữu chuẩn bị theo yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ cuối năm 1968. Sau khi bản dự thảo lần đầu được sửa chữa, Người cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị yêu cầu nghiên cứu và góp ý kiến. Bước thứ ba hình thành bản thảo là tập hợp các ý kiến góp ý của các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, bổ sung và sửa lần cuối để hoàn thành.

Tuy chưa thể khẳng định tác giả đích thực của cuốn sách nhưng không thể phủ nhận rằng giá trị của cuốn sách đối với những nghiên cứu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, ngày càng có nhiều sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch vẫn được coi là cuốn sách đầu tiên, được tin cậy nhất và sách này luôn được tham khảo như một nguồn tư liệu gốc. Hầu hết mọi người cho rằng nguồn tin của nhà nghiên cứu Hà Minh Đức là chính thống nên chắc hẳn là chính xác. Tuy nhiên nhiều đối tượng thù địch, phản động, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam vớ được mẩu thông tin này lại như thể mèo mù vớ được cá rán. Chúng vin vào những dòng ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sách để nêu những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt thông tin sai lệch nhằm bôi nhọ hình tượng Hồ Chí Minh, nhưng tất cả những âm mưu đó đều thất bại.

Trong tác phẩm - công trình nghiên cứu kéo dài hơn 10 năm, mang tên Hồ Chí Minh - The Missing Years (tạm dịch là “Hồ Chí Minh - Những năm tháng chưa được biết đến”) của Tiến sỹ triết học và lịch sử người Mỹ Sophie Quinn-Judge có đánh giá cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch như sau: “Tuy nó được dựa trên sự thật, những điều nó bỏ qua hay tô vẽ thêm, và việc khẳng định phẩm chất vô sản của Hồ Chí Minh đã biến cuốn sách thành một yếu tố tạo ra huyền thoại về ông hơn là một sử liệu nghiêm túc” (5).

Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về cuốn sách như sau: “Cuốn sách ấy không thể nói là đã “làm thay đổi cuộc đời tôi”, song đã tạo một cái hích nhẹ và hướng tôi bước vào ngả đường nghề nghiệp mà vào thời điểm đó tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Cuốn sách “không phải là sử” ấy thật sự gây ấn tượng với tôi. Sau này khi đã thâm niên trong nghề nghiệp, tôi có nhiều cơ hội đọc và gặp nhiều người nước ngoài, có người thuần túy là nhà nghiên cứu, có người là nhân chứng lịch sử, cũng có người là cả hai. Tôi đã nghe và đọc được rất nhiều cách tiếp cận, đánh giá khác nhau về cuốn sách này và nhân vật của sách. Cuốn sách nhỏ thật sự đã “dẫn tôi vào đời” nghề nghiệp để hướng tới cái khao khát muốn tìm ra những gương mặt thật đã tạo nên một lịch sử thật”(6).

Cuốn Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch từ khi được xuất bản lần đầu vào cuối thập kỷ 1940 đến nay đã qua gần bảy thập kỷ, được nhiều nhà xuất bản tái bản rất nhiều lần. Cuốn sách trở thành một trong những tác phẩm quan trọng nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cung cấp nhiều tư liệu về cuộc đời hoạt động của Bác từ những ngày thơ ấu, về quê hương, gia đình, về quá trình ra đi tìm đường cứu nước đến những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, trong đó nhiều chi tiết là tư liệu gốc hoặc duy nhất. Tác phẩm đã khẳng định hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và trở thành cẩm nang cho nhiều nhà nghiên cứu cũng như độc giả trong, ngoài nước.

Chú thích:

(1) Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, tác giả Cổ pháp cố sự, Chuyện làng Đình Bảng xưa

(2) Website Tạp chí Văn hóa Nghệ An http://vanhoanghean.vn

 (3) Hà Minh Đức, Tác phẩm văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr132

(4)  Website Tạp chí Cộng sản http://www.tapchicongsan.org.vn

 (5) Hồ Chí Minh: The Missing Years (1919-1941), University of California Press, Berkeley Los Angeles 2002, tr255

(6) Chuyên mục “Quyển sách thay đổi cuộc đời”, website báo Tuổi trẻ

Nguyễn Thị Thu Hằng (Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)

https://viettimes.vn/tim-hieu-ve-tac-gia-tran-dan-tien-492195.html

Nhân ngày Bác mất, thử “giải mã” tác giả cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”

 

Nhân ngày Bác mất, thử “giải mã” tác giả cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”

VietTimes – Bút danh Trần Dân Tiên, tác giả cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", đến nay vẫn còn là một ẩn số. Nhân dịp tưởng nhớ 51 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, VietTimes xin gửi tới quý độc giả bài viết của tác giả Quốc Phong nhằm "giải mã" vấn đề trên.

Cách đây tròn 5 năm, nhân ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh (21/7 âm lịch),  trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 10/2015 của Hội Khoa học Lịch sử, tôi có viết một bài nhằm “giải mã” về một quãng thời gian “trống” trong tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1914-1917).

Đây đều là những tài liệu được Bảo tàng Hồ Chí Mình lưu giữ, nhưng không được trưng bày công khai. Qua đó càng thấy được Bác Hồ quả là người trung thực, thủ tín, trọng tình, trọng nghĩa  thật đáng khâm phục, từ chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc thời trẻ và lãnh tụ Hồ Chí Minh về sau này. Nhân dịp chúng ta tưởng nhớ 51 năm ngày Bác mất, tôi tiếp tục thử “giải mã” bút danh Trần Dân Tiên - tác giả  cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" - có phải là của Bác Hồ hay không.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa đã nửa thế kỷ nhưng vẫn còn đó những “ẩn số “.

Lịch sử luôn cần có những tư liệu xác tín - những thứ qua đó có thể giúp cho sử sách ngày một sáng tỏ hơn, thuyết phục hơn về mọi vấn đề, trong đó có những nhân vật kiệt xuất đã đi vào lịch sử dân tộc. Đến như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng vậy. Thực tế là ngay sau ngày Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945 khiến thế giới phải ngỡ ngàng bởi Việt Nam ta là nước đầu tiên trong các thuộc địa vùng lên, giành lại chủ quyền dân tộc, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân.

Điều này không chỉ nhiều người Việt Nam ở trong nước khi ấy còn như mơ, vì không mấy ai biết Hồ Chí Minh cũng chính là Nguyễn Ái Quốc. Đến ngay cả các đồng chí thân thiết của Người tại Pháp khi họ cùng tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920) khi tách khỏi Đảng Xã hội cũng vậy. Vậy mà sau  ngày 2/9/1945, dù có người đã giữ cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp như Maurice Thorez, khi biết tin Việt Nam vừa giành độc lập và người lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa thành công ấy do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông cũng không biết người đó là ai.

Để rồi, chính Nguyễn Ái Quốc đã phải nghĩ cách gửi một “lá thư tăm” (thư viết trên một mẩu giấy bé xíu rồi vê tròn cho thật nhỏ lại như que tăm, kiểu hoạt động bí mật thời xưa), sau đó chuyển cho đường dây liên lạc gửi sang Pháp thông báo rất ngắn gọn: “Gửi đồng chí Thorez! Paul chính là Hồ Chí Minh!” (theo lời kể của ông Vũ Kỳ, trong bữa cơm Bác Hồ mời Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng tại Phủ Chủ tịch năm 1967, Người đã kể cho ông Nguyễn Lương Bằng nghe; cùng với thông tin Nguyễn Tất Thành từng đi lính cho Pháp trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất 1914-1918 mà tôi đã viết ).

Với Tổng bí thư ĐCS Pháp, ông đủ hiểu rằng đó chính là Nguyễn Ái Quốc, vì họ biết nhau đã rất lâu. Đó là khi Nguyễn Ái Quốc còn có tên Paul Thành, người từng đi lính trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất thay con trai Vua đầu bếp Auguste Escoffier, nhằm bí mật trả ơn người thày mà Nguyễn Tất Thành rất mực yêu quý. Và rồi từ Anh, Paul Thành trở lại Pháp năm 1918 (đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số 464 - tháng 10/2015 : “Về một quãng thời gian“ trống”trong tiểu sử Hồ Chí Minh ).

Nếu như ai đã được đọc tham luận của bà Josephine Stenson - giáo sư, tiến sĩ sử học của Trường Đại học Florida Atlantic (tiểu bang Florida, Mỹ) trong bài phát biểu “Hồ Chí Minh, một nhân cách lớn của thời đại” tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội tháng 5/1990, thì sẽ thấy Hồ Chí Minh quả là một "ẩn số" mà chúng ta vẫn chưa "giải mã" hết.

Với một sự trân trọng và kính phục, bà giáo sư đã phân tích rất có lý khi cho rằng: “Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại. Ông càng vĩ đại hơn ở chỗ ông là một con người bình thường, sống hòa mình vào cuộc sống đời thường.”

Rồi bà viết tiếp :

“Tôi đã bỏ tiền túi ra để từ Mỹ đi sang Pháp và Liên Xô, những nơi mà Hồ Chí Minh đã đặt chân tới, để tìm những di tích gốc về Hồ Chí Minh. Tôi đã ở Liên Xô một thời gian tương đối lâu để nghiên cứu về ông. Khi về Mỹ, tôi lại từ New York đến các đảo vùng Đông Bắc châu Mỹ, nơi ông đã đi tàu xuyên đại dương đến đó. Tôi quyết tâm tìm cho được lai lịch văn hóa Hồ Chí Minh.

Rất tiếc, lâu nay Việt Nam chỉ cung cấp cho chúng tôi lai lịch chính trị của Hồ Chí Minh, ngoài ra không cung cấp những tư liệu gì đối với những vấn đề khác. Và tôi cũng hết sức ngạc nhiên và khó hiểu, không biết tại sao Việt Nam cứ tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nghèo khổ? Đã nghèo thì làm sao có điều kiện ăn học và làm quan như cụ thân sinh ra ông và trình độ học vấn như ông.

Ngoài ra ,Việt Nam còn tuyên truyền rằng ông làm phu khuân vác ở bến Nhà Rồng, bồi bàn dưới tàu Pháp, bồi bếp ở khách sạn Luân Đôn và làm thợ nhiếp ảnh… chỉ toàn là những lao động cơ bắp, không thấy trí tuệ Hồ Chí Minh ở chỗ nào cả! Có lẽ những nhà lãnh đạo Việt Nam sợ quần chúng hiểu rằng ông là thành phần thuộc tầng lớp trên chứ thực chất không phải là bần cố nông và thợ thuyền, giai cấp lãnh đạo cách mạng?

Xin lưu ý, bất cứ quốc gia nào coi rẻ và khinh miệt trí thức thì nhất định sẽ thất bại, lịch sử đã từng chứng minh thực tế đó.

Qua nghiên cứu tôi thấy rằng:

– Hồ Chí Minh chọn việc bồi bàn trên tàu là để có điều kiện đi đến nhiều quốc gia.

– Ông chọn việc làm ở khách sạn là nơi có điều kiện tiếp xúc được với nhiều chính khách.

Thế nhưng người ta hiểu sai rằng Hồ Chí Minh làm đủ mọi nghề chỉ để kiếm sống, không đúng!

Tôi đã đến Luân Đôn tìm hiểu và thấy Nguyễn Ái Quốc kết thân với một số văn hào, nghệ sĩ danh tiếng, trong đó có vua hài Charlie Chaplin.

Người ta đồn rằng Hồ CHí Minh biết 28 thứ tiếng, nhưng theo kết quả tìm hiểu của tôi thì ông biết khá sành sỏi 12 thứ tiếng...

Như vậy, "ẩn số" Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh không chỉ đến 1945 đã được sáng tỏ, mà có lẽ sau nhiều chục năm, các nhà sử học trên thế giới vẫn chưa "giải mã" hết các ẩn số về nhân vật vĩ đại đó - GS ,TS Josephine Stenson nhận xét.

“Ẩn số” Trần Dân Tiên ?

Dù những gì tôi đề cập trong bài viết này cũng chỉ là những chi tiết được mắt thấy tai nghe, chưa khẳng định được điều gì to lớn. Song, để “giải mã” cho chính xác thì vẫn còn là một khoảng trống cần được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục trao đổi.

Cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Dân Tiên xuất bản lần đầu tiên ở Trung Hoa năm 1948, tại Paris (Pháp) năm 1949 và đã được tái bản rất nhiều lần sau này. Song, ngay cả các nhà nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không phải đã thống nhất với nhau nhận định tác giả Trần Dân Tiên là bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ nghi ngờ, phủ nhận và cả khẳng định cũng đều có lý của họ.

Có một tác giả sau này nhận xét, chính cuốn “Vừa đi đường vừa kể chuyện” ra đời, được ghi đích thị bút danh là Hồ Chí Minh đã chứng minh một điều, cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh" phải chăng vì có những chi tiết chưa chính xác cho nên Bác Hồ đã phải trực tiếp viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện “để gián tiếp cải chính cuốn sách kia có một vài chi tiết chưa chính xác. Nếu không phải như vậy thì việc gì Người phải trực tiếp viết như vậy?

Có 2 câu chuyện sau, tôi muốn kể lại để chúng ta cùng suy nghĩ và phân tích:

1/ Năm 1983, khi tôi đang ở trong quân ngũ thì cha tôi đưa tôi đến nhà công vụ thăm ông Trường Chinh - khi đó là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam (Chủ tịch Nước bây giờ).

Trước đó không lâu, ông Trường Chinh có một bài viết rất sâu sắc kiểu như “Sách trắng” về vấn đề quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đăng trên báo Nhân dân. Khi biết tôi đang là sĩ quan quân đội, nên ông có đề cập nội dung bài viết đó với cha con chúng tôi kiểu như con cháu trong nhà.

Tôi bạo phổi khen bài viết đó rất sắc sảo và mạnh mẽ, ông cười hồn nhiên rồi nói vui : Thì ông là lão tướng trên trận địa tư tưởng của Đảng, cũng như thủ trưởng Văn Tiến Dũng của cháu (tức Đại tướng Văn Tiến Dũng - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khi đó) là lão tướng trên mặt trận quân sự thôi mà, có gì đâu!

Nói rồi ông cười và sau đó trầm ngâm giây lát rồi tâm sự rằng: Nói vậy thôi chứ, tự thấy mình cũng cao tuổi rồi nên nhiều lúc, trước khi phát biểu chuyện gì, viết cái gì ra giấy, tôi cũng đều tự mình đặt câu hỏi: Liệu mình làm việc này có gàn không? Liệu mình có lẫn gì không và phải tự trả lời được 2 điều đó.

Cha con chúng tôi nghe mà rất bất ngờ vì năm đó ông cũng chỉ mới 76 tuổi, chứ cũng chưa phải đã cao tuổi lắm. Nhưng ông từ ngày trước đã được tiếng là người rất cẩn trọng về hành động cũng như viết lách. Chả vậy mà ông tự đặt cho mình bí danh "Thận" đó sao!

Trong bữa đó, cha tôi (về quan hệ gia đình thì ông nội của tôi gọi thân mẫu của ông Trường Chinh, cụ Nguyễn Thị Từ, là cô ruột). Do vậy, cha tôi cũng năng qua lại thăm ông bà. Hôm đó cha tôi có hỏi chuyện ông về tác giả Trần Dân Tiên viết cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh” có phải là Bác Hồ không, thì rất nhanh nhẹn, ông Trường Chinh khẳng định luôn  rằng không phải. Chắc chắn không phải!

Cha tôi tiếp luôn “vậy, thưa chú, Trần Dân Tiên là ai ạ?” thì ông cười rất rất tự nhiên, không hề nói gì thêm. Đang được thể vui chuyện, cha tôi tiếp luôn: “Hay tác giả Trần Dân Tiên là chú?” thì ông cũng chỉ cười tươi và thêm một cái lắc đầu nhẹ rồi nói: Không phải!

Chuyện chỉ như vậy mà không hề có lời giải đáp thêm gì hết. Câu chuyện được chuyển sang đề tài khác.

Sau này tôi nghĩ lại rồi tự “giải mã” thì thấy rằng, nếu là Bác Hồ viết thì chuyện đã mấy chục năm, ông Trường Chinh cũng có thể “bật mí” đôi chút đâu có sao. Nhưng cách nói này cho thấy nhiều khả năng không phải là Bác viết rồi lấy bút danh đó. Nhưng nếu nói một ai đó viết thì xem ra dù chuyện đã xa xưa, ông cũng sẽ giữ kín trong lòng. Ông vốn là con người rất cẩn trọng chính là vậy. Nụ cười  ấy không kèm thêm gì khác sẽ rất khó đoán định chính xác. Nhưng như vậy rất nhiều khả năng không phải cho Bác tự viết.

Bà Lady Borton, một nhà văn Mỹ, một người gắn bó với Việt Nam từ thời chiến tranh tới mãi sau này. Bà đã dành nhiều thời gian công sức đến một số nước mà Hồ Chí Minh từng hoạt động, xin họ cho lục hồ sơ lưu trữ để tìm hiểu sâu về Hồ Chí Minh, cũng cho rằng Trần Dân Tiên không phải là Hồ Chí Minh (nguồn Wikipedia).

Theo ông Nguyễn Khôi, nguyên Phó Vụ trưởng Văn phòng Quốc hội, thì khi đó (1948) nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, hầu hết người nước ngoài không biết Hồ Chí Minh là ai, tiểu sử thế nào. Cuốn sách này ra đời theo sáng kiến của ông Hoàng Quốc Việt (Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng) gợi ý cho ông Trần Huy Liệu (Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền) viết để giới thiệu cho người nước ngoài về Hồ Chí Minh. Ông Trần Huy Liệu giao cho ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký, trợ lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp bút. Khi viết xong bản khởi thảo thì ông Trần Huy Liệu, Hoàng Quốc Việt và cuối cùng là ông Trường Chinh (Tổng Bí thư) duyệt để hoàn thiện đem xuất bản.

Bút danh "Trần Dân Tiên" có ý nghĩa: người công dân đầu tiên họ Trần của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nguồn Wikipedia). Vậy thông tin này có thể tin cậy được không?

Còn nếu như đúng vậy thì càng khẳng định ông Trường Chinh rất biết câu chuyện nói trên. Việc ông phủ nhận ngay tức thì là không có chuyện Bác Hồ viết là có thể chính xác. Và đó cũng chính là lý do có tính thuyết phục để giải thích vì sao chỉ sau thời gian không lâu, chính Hồ Chủ tịch lại phải trực tiếp viết về mình trong cuốn “Vừa đi đường vừa kể chuyện” mà trong đó có một số mẩu chuyện chính Bác Hồ kể có khác so với cuốn của ai đó đã lấy bút danh Trần Dân Tiên nêu trên.

Tuy nhiên, khi tôi hỏi anh bạn đồng môn với tôi hồi học Tổng hợp Văn (khóa 18), nhà văn Trần Chiến, rằng anh thấy cha mình (tức nhà sử học, cố giáo sư Trần Huy Liệu) có để lại di cảo gì không xung quanh câu chuyện này, thì anh cho biết là không hề thấy.

2/ Năm 1993, tôi xin đăng ký gặp Cố vấn BCH Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng - người từng giữ cương vị Thủ tướng nước nhà 32 năm - tại ngôi nhà trong Phủ Chủ tịch, để phỏng vấn ông một số chuyện mà tôi còn  hoài nghi, trong đó có chuyện tác giả Trần Dân Tiên.

Bữa đó có cả thư ký của ông là ông Nguyễn Tiến Năng cùng dự và ghi chép. Tôi thưa chuyện với Cố vấn những băn khoăn của mình về tác giả cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”. Tôi nói đại ý, lâu nay có 3 luồng ý kiến khác nhau về tác giả cuốn sách nói trên: Người thì khẳng định, người phủ định, người hoài nghi vì chưa rõ ràng. "Vậy thì với bác, bác cho rằng tác giả đó là ai ạ?"; tôi hỏi.

Nghĩ một giây lát, ông trả lời tôi : “Chuyện đó tôi không quan tâm!”.

Một câu trả lời khiến tôi hơi sốc vì không lẽ ông mà không biết. Ông Đồng vốn là người rất tinh tế về chữ nghĩa, văn phong mà sao ông trả lời như vậy nhỉ!; tôi thầm nghĩ và đượm buồn có phần vì bị hụt hẫng. Biết ý, tôi chuyển sang đề tài khác mà không đi sâu thêm chuyện đó nữa.

Cũng may, hôm đó, tôi “vớt vát” được chút xíu về một chuyện khác khá cảm động về con người ông và tôi cũng đã viết xung quanh câu chuyện vị Thủ tướng với 32 năm đảm trách, không có nổi 2 chỉ vàng tặng con dâu nhân ngày cưới. Vì không đúng chủ đề nên tôi không nhắc lại nữa.

Quay lại chuyện bút danh Trần Dân Tiên là ai.

Vậy thì ai là tác giả cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”?

Cá nhân tôi cho rằng đây là việc rất đáng để các nhà nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm nay và cả sau này (nếu vẫn chưa xác minh được chính xác) hãy cùng để tâm tìm hiểu, phân tích và kết luận.

Một vĩ nhân như Hồ Chí Minh, mọi vấn đề đều cần được “giải mã” chính xác, thấu đáo đến tận cùng .

Quá khứ càng ngày càng lùi xa sẽ càng khó cho hậu thế nhìn nhận sự việc thật chính xác. Nếu hôm nay chúng ta không làm được thì quả là thiếu sót với hậu thế. Việc trước đây 5 năm, tôi từng cố gắng “giải mã” khoảng trống không thấy ghi trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh trong 3 năm (1914-1917) có lẽ là một ví dụ. Qua đó chúng ta càng thấy ở Người quả là một vĩ nhân, cái gì đã hứa với người mình chịu ơn thế nào thì đến lúc ra đi vẫn là như vậy.

Nói như một nhà văn, nhà báo bạn tôi - anh Nguyễn Thành Phong - trên trang cá nhân của anh hôm 19/5 vừa rồi, nhân kỷ niệm 130  năm ngày sinh của Người, thì “những phát kiến mới về tiểu sử, thân thế và đời riêng Cụ Hồ cần được minh định rõ ràng. Hồ Chí Minh là một Con Người. Minh định về Cụ càng làm ta yêu kính Cụ hơn...” và “Hồ Chí Minh sẽ vẫn cứ là một biểu tượng đẹp đẽ trong lịch sử phát triển và văn hóa nhân loại. Đấy là một bất biến!”.

Quốc Phong

https://viettimes.vn/nhan-ngay-bac-mat-thu-giai-ma-tac-gia-cuon-nhung-mau-chuyen-ve-doi-hoat-dong-cua-ho-chu-tich-492163.html?fbclid=IwAR3PNcL001VnIlK3i9mhyPusxJZ84Sl8P0XFOBZ3zPHtGckTTCQdHZUKisc